Bài tổng quan
Luyện trí, giữ đức và lập trường con người trước số mệnh
Có người làm giàu trên xương máu đồng nghiệp rồi cả đời nhọc trí giữ cho khỏi bị giật lại. Có người ngã một lần đã buông chèo, mặc cho con thuyền theo sóng. Giữa hai lối ấy, người xưa từng chia thành bốn luồng tư tưởng, và chỉ một luồng chịu đứng ở giữa…
Phải hướng nỗ lực vào việc luyện trí
Trí là yếu tố rất quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc.
- Trước hết, trí giúp ta biết mình, cụ thể là tự lượng sức mình, thấy được sở trường, sở đoản của mình. Trí cũng giúp ta biết người, biết việc, ý thức được đầy đủ những trở lực và những thuận lợi của ngoại cảnh.
- Kế đến, trí có tác dụng điều hoà ý chí và tài sức, giữ cho hai yếu tố này luôn luôn cân bằng. Đã là người trí thì không bao giờ ước muốn cái gì quá sức.
- Ngoài ra, trí cũng giúp điều hoà tài sức với hoàn cảnh. Người trí dũng không bao giờ ước muốn những cái gì hoàn cảnh không cho phép.
- Như vậy, trí là cái thắng cho những tham vọng quá đà, giúp con người khỏi bị hố vì quá tham lam, vì quá tự tin, không bị thất bại vì quá khinh địch, vì quá coi nhẹ các khó khăn của hoàn cảnh. Nó đóng vai trò điều hợp mọi sự chênh lệch thường có giữa dục vọng và năng lực, giữa năng lực và trở lực. Người có trí không bao giờ không tưởng, trái lại họ là con người thực tế, khôn ngoan và chừng mực, biết tiến lên vừa đủ, đồng thời cũng biết thoái lui đúng lúc. Vì là yếu tố điều hợp, trí không phải chỉ biết kiềm chế tham vọng mà thôi. Nó còn biết phát huy tài sức cho cân bằng, sao cho hai yếu tố đó được phối hợp nhịp nhàng.
- Cái dụng cụ thể nhất của trí thể hiện rõ rệt trong việc lựa chọn mục tiêu, tức là cái đích mà mình muốn đạt được. Mục tiêu biểu lộ cái ý chí con người: người chí lớn hay chọn mục tiêu lớn hay chọn mục tiêu cao, người chí nhỏ chọn mục tiêu thấp. Mặt khác, mục tiêu cũng phản ảnh cái trí, vì trí giúp con người chọn mục tiêu thích hợp sau khi ước lượng hoàn cảnh và tài sức. Vấn đề quan trọng ở đây không phải là nên chọn mục tiêu cao hay thấp mà phải chọn cho vừa tầm, vừa sức trong một hoàn cảnh nhất định nào đó. Vừa tầm ở đây là vừa tầm theo trình độ và hoàn cảnh mỗi người, chớ không phân bố chung nào cho tất cả mọi người.
- Không chọn mục tiêu quá sức, kẻ có trí cũng không chọn mục tiêu quá xa, mà có thể chọn cho từng giai đoạn vừa phải. Chọn mục tiêu quá xa thì dễ bị thất bại, vì nhiều lúc trí không tiên liệu nổi tương lai dài hạn. Trái lại, khi chọn mục tiêu vừa tầm, con người dễ lượng giá hoàn cảnh, dễ lập chí, dễ luyện sức cho vừa đủ cho việc đạt mục tiêu. Đó là phương thức bảo dưỡng ý chí, dành dụm sức lực cần thiết cho cuộc phấn đấu lâu dài về sau.
- Người có trí cũng không chọn tốc độ quá nhanh, không tham tiến bộ tức thời. Họ biết tự chế trước tham vọng, họ biết tự chủ trước tốc lực. Bước đường đời của họ, nhờ đó mà có thể tiến vững chãi, tiến lâu dài. Khi La Fontaine khuyên người ta: “phải đi nhanh lên, một cách chầm chậm” là ông muốn thiên hạ giới hạn tốc độ, giảm bớt sự tham lam của mình. Hai ý niệm tham lam và giảm đi đôi, tuy bề ngoài có vẻ mâu thuẫn, song đó chính là biểu hiện của sự chừng mực và hoà hợp.
- Tóm lại, hạnh phúc con người tuỳ thuộc sự điều hoà ý chí, khả năng, hoàn cảnh, thời gian và tốc độ.
Phải hướng nỗ lực phát huy đạo đức
Chiếc cân của trí vẫn đo sai nếu người cầm nó chỉ nhìn về phía mình.
Dùng trí để quân bình ý chí và khả năng thì có thể làm tăng tiến số mệnh, tạo được thêm hạnh phúc. Duy hạnh phúc này chỉ lâu bền nếu cá nhân được hướng dẫn bởi tinh thần đạo đức. Thói đời thường có xu hướng mưu lợi cho chính mình và coi nhẹ quyền lợi kẻ khác, bỏ qua hạnh phúc của xã hội. Ví dụ như nhiều người làm giàu trên xương máu của nhân dân hay tiến thân trong việc tiêu diệt đồng nghiệp, để rồi phải tận tâm nhọc trí bảo vệ tài sản hay duy trì địa vị của mình sợ kẻ khác tranh đoạt. Một hạnh phúc như thế sẽ không toàn vẹn và không lâu bền. Cho nên yếu tố đạo đức bắt buộc phải có, phải đi liền với 3 yếu tố: ý chí, khả năng, và trí lực.
Đạo đức ở đây bao hàm một phạm vi rất rộng, vừa ám chỉ xu hướng thiện tâm, vừa là tinh thần xã hội, ý thức công bằng, nếu không muốn nói là bác ái nơi cá nhân. Cải sửa số mệnh ở đây nghĩa là cải sửa thiện chứ không phải cải ác, là xây dựng phúc đức chớ không phải tạo ác nghiệp. Cứu cánh của hạnh phúc thế tục là tạo phú quý trong sự công bằng, trật tự của xã hội chớ không phải trong sự áp bức quyền lợi kẻ khác, khả dĩ gieo mầm loạn bằng những bất công. Tiến thân trong sự tôn trọng đạo đức không những an định cho lương tâm mà còn góp phần ổn định xã hội, chưa kể lợi ích thiết thực khác là sự ổn cố của sự nghiệp. Những người tiến thân bất chính thường gánh lấy tai hoạ của luật nhân quả cho hiện kiếp hoặc cho hậu kiếp của con cháu.
Văn hoá Á Đông rất chuộng đạo đức, được xếp trên tài năng, quyền lực hay tiền bạc. Khoa Tử Vi cũng đề cao phúc đức (nơi cung Phúc) và công đức (nơi hai cung Mệnh và Thân). Trong suốt quá trình lịch sử Á Đông, đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội vốn là mục tiêu của chính sách nhân trị, đã từng có truyền thống lâu dài. Sang đời Pháp trị, nhân đức cũng không bị bãi bỏ, nhưng được bổ túc bằng ý niệm công bằng và pháp luật, bấy giờ được xem như cái đức phải có ở nơi mỗi người và nơi mọi người. Cái đức trong khuôn khổ tập thể đó bao giờ cũng được xem như ăn thông với các đạo đức mà mỗi cá nhân phải có, vì người xưa quan niệm rằng đạo đức cá nhân là nguồn gốc của trật tự xã hội. Xã hội có ổn định hay không là do mỗi người có tuân thủ luân lý và luật pháp hay không. Cho nên phép trị quốc, quy tắc tề gia đều bắt đầu bằng việc tu thân.
Trong khuôn khổ cải sửa số mệnh, việc tiến thân cũng phải song hành với việc tu thân, tức là tiến thân trong đạo đức để cho xã hội khỏi nhiều loạn, cho cá nhân được an cư. Cho nên việc tiến thân phi luân sẽ có hậu quả tai hại và rộng lớn cho cá nhân và tập thể. Mỗi người nên lấy lẽ công bằng và quyền lợi kẻ khác mà tự chế sự tham lam của mình, vì đó là điều kiện của trật tự công cộng.
Tóm lại, việc cải sửa số mệnh đòi hỏi con người phải điều hợp 4 yếu tố: trí, sức, đức, chí, mới có thêm được hạnh phúc. Dư luận thông thường cho rằng có lẽ chỉ có thánh nhân mới hội đủ 4 điều kiện này và mới phối hợp được 4 đức tính. Còn người bình thường, không dễ gì có đủ và không chắc gì điều hợp dễ nhịp nhàng.
Đây là một quan điểm sai lầm. Bốn điều kiện này đặt ra cho người bình thường lẫn kẻ xuất chúng. Khi đưa ra 4 điều kiện này ta chỉ làm công việc liệt kê.
- Ta không đặt ra một mức độ nào phải có cho mỗi yếu tố, cũng không cứu xét riêng cho một hoàn cảnh nào.
- Ta không nêu một tiêu chuẩn hay mẫu mực nào cho con người nên theo, trái lại, còn chống lại mọi mục tiêu hạnh phúc quá đáng.
- Ta không ấn định hạn kỳ nào phải đạt được hoặc một tốc độ nào phải theo.
Mức độ, tiêu chuẩn, mẫu mực, thời gian và tốc độ đó hoàn toàn do cá nhân tự liệu, theo thân phận và theo hoàn cảnh riêng biệt của mỗi người. Cá nhân phải tự lượng sức mà lập chí trong từng hoàn cảnh. Hơn nữa, chúng ta còn cảnh giác sự tai hại của xu hướng tham lam, tiết độ nhu cầu, thực hiện chừng mực.
Với 4 đức tính đó và với những điều kiện nêu trên, bất cứ ai cũng cải tiến được số mệnh. Với 4 điều kiện đó, tình trạng nguyên thuỷ phải thay đổi, không ít thì nhiều, không nhanh thì chậm. Không ai có đủ 4 đức tính đó mà phải dẫm chân tại chỗ. Và giữa những người cùng có đủ chí, trí, sức, và đức, không bắt buộc họ phải đạt đến trình độ phú quý ngang nhau. Được 4 điều này chỉ có ý nghĩa là có thể cải thiện thân phận tiên khởi của mình. Con người lúc mới sinh ra đã chênh lệch nhau từ bước đầu của cuộc đời. Vì vậy, so sánh hạnh phúc 2 người nhất định phải có hơn kém. Duy trong mỗi người, nếu hội được 4 điểm trên, tình trạng phú quý ban đầu phải thay đổi. Còn thay đổi ít hay nhiều, mau hay chậm còn tuỳ thuộc họ hội đủ đức tính, và đối với mỗi đức tính, họ đạt trình độ nào.
Ai đã nên khôn mà chẳng dại,
Làm người có dại mới nên khôn.
Đối lực của hoàn cảnh bao giờ cũng có. Sự tính toán của cá nhân cũng dễ sai lầm. Sự thất bại do đó không thể nào tránh khỏi. Điều quan trọng ở đây là cho dù gặp thất bại, con người cũng không nên vì thế mà bỏ dở ý chí tiến thân. Vấn đề là phải tiếp tục tiến thân, theo một mục tiêu vừa sức.
Lập trường cần có của con người trước số mệnh
Đủ bốn đức tính rồi, con người vẫn phải biết mình đứng ở đâu trước số mệnh.
Chúng ta đã lựa chọn một định nghĩa thích đáng nhất cho danh từ số mệnh. Chúng ta cũng định nghĩa hạnh phúc thông qua sự quân bình ý chí và khả năng. Vấn đề sau cùng là ấn định một lập trường cần có và nên có cho con người trước số mệnh. Bằng không, con người vẫn còn thiếu một định hướng tâm lý để sống. Lập trường này dựa trên 3 đặc điểm của lối hiểu trên đây về số mệnh.
Điểm 1: Số mệnh không tiền định, không cố định mà có con người dự phần vào
Như vậy, con người trước hết cho số kiếp là tiền định, bất khả cưỡng để rồi bó tay, tuyệt vọng và buông xuôi phó thác cho hoàn cảnh dẫn dắt. Không nên cho rằng “muôn sự tại trời”, không nên “để xem con tạo xoay vần đến đâu”.
Về mặt tích cực, con người phải thấy rằng mình có dự phần vào cuộc đời mình, phải chủ động dấn thân tự tạo cuộc đời bằng một niềm tin, bằng nghị lực, bằng hy vọng. Cá nhân phải có ý thức rằng mình nhân định số mệnh của mình, có nghĩa vụ và trách nhiệm cải tiến số phận của mình.
Phải dẹp bỏ mọi tiên kiến và thành kiến về số mệnh. Tiên kiến hay thành kiến là ý tưởng, cảm nghĩ, có trước khi làm một điều gì. Không nên có tiên kiến tức là không nên có một hình ảnh nào trước về bản chất, về hướng đi, về hiệu lực, về chung cuộc nào của số mệnh hết. Ví dụ như bị ám ảnh rằng mình nghèo, mình sẽ luôn nghèo, mình không làm gì được để thoát khỏi cảnh nghèo và mình phải chết trong sự nghèo túng... đều là có tiên kiến. Tiên kiến ăn sâu vào tâm não càng lâu thì trở nên thành kiến, tức là một tiên kiến khó gột rửa.
Dẹp bỏ tiên kiến và thành kiến đó là có được một điều kiện tâm lý thuận lợi cho việc cải sửa số mệnh.
Điểm 2: Số mệnh chỉ là một tình trạng khả hữu của tương lai con người, không ai biết rõ trước một cách chắc chắn nó sẽ ra sao
Thật vậy, số mệnh chỉ thấy được vào lúc chung cuộc của đời người, sau thời gian cải sửa. Số mệnh không xuất hiện ngay lúc con người mới sinh, cũng chưa ngã ngũ lúc con người đang phấn đấu. Nó chỉ là kết quả sau cùng của cuộc đấu tranh.
Do đó, con người đừng vội có định kiến và thiên kiến về số mệnh. Định kiến là ý tưởng, cảm nghĩ cố định, không thay đổi. Ví dụ như cho rằng số mệnh là định mệnh và đinh ninh rằng lối hiểu như vậy là đúng, không cần xét lại. Còn thiên kiến là một ý kiến, một cảm nghĩ phiến diện và thiên lệch về một vấn đề nào đó. Ví dụ như nhìn đời toàn bằng màu hồng hay màu đen, hoặc giả cho rằng số mệnh vô địch hay con người vạn năng... đều là thiên kiến.
Dẹp bỏ định kiến và thiên kiến, cá nhân chủ động uốn nắn cuộc đời theo ý mình, được đến đâu hay đến đó. Thà đứng ra lèo lái con thuyền của mình còn hơn mặc cho phong ba đưa đẩy. Nếu chẳng may con thuyền bị đắm, con người cũng chẳng ân hận vì tự thấy mình đã làm hết sức mình rồi. Vì số mệnh chưa ngã ngũ ở một thời điểm nào của cuộc đời, nên con người phải tiếp tục theo đuổi ý chí cải sửa đến cùng, phải tiến từng đợt, không thoái chí, không bỏ dở, không đầu hàng quá sớm.
Điểm 3: Số mệnh mỗi người mỗi khác, không có mẫu chung cho tất cả
Vì vậy con người đừng lấy hạnh phúc kẻ khác làm mục tiêu tiến thủ cho mình. Mỗi người có một thân phận, một hoàn cảnh riêng, ý chí khả năng và trí lực cũng khác nhau. Người nghèo mà chạy thi tiền với đại phú là dại. Người gầy yếu mà đấu sức với võ sĩ là ngu. Ở đời, không làm gì có công bằng tuyệt đối về thân phận. Tình trạng hạnh phúc hiện tại của mình có thể thua xa người khác, nhưng đồng thời còn hơn được nhiều bạn hữu kém may.
Trông lên thì chẳng bằng ai,
Trông xuống thì không thấy ai bằng mình.
Vấn đề ở đây không phải và không nên trông lên hay nhìn xuống mà là trông vào mình, dựa vào tài lực, trí lực và ý chí của riêng mình để cải tiến lần hồi tình trạng hiện tại cho khá, chớ không bắt buộc phải đuổi kịp thiên hạ. Miễn có tiến bộ hơn là được.
Về mặt tích cực, trông cậy vào mình là tự lực tự cường. Nếu hoàn cảnh thuận lợi thì tốt, bằng không, ta cũng chẳng mất căn bản nội tại. Vì thế, không nên ỷ lại vào hoàn cảnh, cũng không nên đợi thời mà phải nhập cuộc, tự lực cánh sinh. “Hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp mình”, phương châm cải sửa số mệnh quy tụ vào yếu lý đó.
Như vậy, lập trường của con người cần có và phải có trước cuộc đời có tính cách nhị diện, vừa nhân bản, vừa đấu tranh để sống, để cải sửa lối sống. Nó đòi hỏi sự điều hoà 4 đức tính: Chí, Sức, Trí, Đức trên niềm tin, trên sự can đảm, trong sự dấn thân và trong sự chừng mực.
Lập trường của các triết gia Trung Hoa
Câu hỏi ấy đã được người xưa trả lời bằng những giọng rất khác nhau.
Triết gia Trung Hoa suy tư rất nhiều về số mệnh. Trong suốt quá trình triết học Trung Quốc, tựu trung có ba luồng tư tưởng chính.
Tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử
Hai ngài cho rằng có mạng trời, được hiểu theo như luật tự nhiên của hoá công, cái lẽ vô hình, linh diệu của trời đất, mà con người có khi hiểu được, có khi không. Nhưng, Khổng Mạnh không xem đó như định mạng, vì thiên mạng có thể biết được. Tuy tin là có mạng, nhưng hai ngài vẫn chú trọng đến nhân lực, khuyên người đời hãy làm hết sức mình rồi thành bại ra sao mới biết được mạng trời. Đó là quan niệm “Tận nhân lực, tri thiên mạng”, nghĩa là cứ làm hết sức rồi mới rõ số kiếp.
Tư tưởng Khổng Mạnh sau này được Trương Hoành Cừ (1020 – 1077), Trình Hạo (1032 – 1085) và Trình Di (1033 – 1107) đời nhà Tống nối theo. Ba vị này cho rằng con người phải cư xử theo “nghĩa”, nếu gặp điều dữ cũng phải tận lực hành đạo, nếu không thành thì mới nói là do “mạng” và giữa cái nghĩa với cái mạng thì nghĩa là chính, còn kết quả của việc nghĩa (mạng) là phụ. Đây cũng là quan niệm của châm ngôn Tây phương “cứ làm, số kiếp cứ mặc”, tương hợp với đạo đức của Kant.
Tư tưởng của Trang tử, Vương Sung
Bi quan nhất phải kể Trang tử (360 – 280, đời nhà Chu). Ông cho rằng con người quá nhỏ bé trong sự vô cùng của vũ trụ, con người phải phụ thuộc vào trời đất chớ không độc lập, không thể làm chủ đời mình mà phải chịu hoàn toàn sự chi phối của vũ trụ.
Người thứ hai là Vương Sung đời nhà Hán (27 – 107). Ông cho rằng khi mới sinh ra mỗi người đã bẩm thụ một tính chất đặc biệt và vận mệnh của họ đã định trước rồi, tuỳ tính chất đó. Đối với hoàn cảnh, ông cho may rủi, sang hèn, giàu nghèo đều do mạng cả. Vận nước thịnh suy ông cũng cho là do mạng nước, con người không cải được.
Quốc mạng thắng nhân mạng.
Nghĩa là mạng nước đã suy thì mạng người cũng chịu lây, dù bậc hiền thánh cũng không làm cho thịnh được. Đời mà thịnh trị không phải do công của hiền thánh, đời mà suy loạn không phải do vô đạo.
Xem thế, Vương Sung đã có một tiên kiến, một thiên kiến và một định kiến rất nặng về vận mệnh vô địch và nhất định. Cả 2 người quá tin vào số mệnh bất dịch đó và muốn khuyên người ta an phận.
Tư tưởng của Tuân tử, Mặc tử
Hai vị hết sức cương liệt. Mặc Tử (480 – 397) phủ nhận số mạng, cho rằng hoạ phúc của con người là kết quả của hành động chớ không do số mạng. Khổng Mạnh khuyên gắng sức làm việc, việc không thành mới bảo tại mạng. Mặc Tử còn quyết liệt hơn, bảo phải gắng sức mãi đi, việc không thành là tại sức chưa đủ chứ không phải tại mạng.
Tuân Tử (330 – 227 thời Chiến Quốc) thì cho rằng không cần lưu tâm tới thiên mạng, không những vì nó không thể hiểu được, không thể biết trước mà còn vì thiên mạng không liên quan gì tới con người mà con người có thể thắng số, dù gặp phải hoàn cảnh bất lợi. Nếu ta siêng thì trời không thể làm cho ta nghèo được; nếu ta lười thì trời không giúp ta giàu được; hoàn cảnh dù bất lợi, ta cũng có thể chuyển bại thành thắng được. Mạng tuy có, nhưng không phải là cái gì nhất định. Ông còn chủ xướng một việc chế ngự hoàn cảnh, điều khiển thời thế, tài chế thiên mạng nữa. Đây là một lập trường hết sức lạc quan, đầy hùng tâm và dũng khí.
Trong 4 luồng tư tưởng trên, chỉ có Khổng Mạnh là ở vị thế trung dung, không bi quan như Trang Tử, Vương Sung, không quá cương hùng như Mặc Tử, Tuân Tử. Lập trường của chúng ta là lập trường của Khổng Mạnh. Duy chúng ta cần hiểu mức trung dung một cách linh động. Trung dung ở đây không những là ở giữa 2 thái cực bi quan và lạc quan quá đáng mà còn tuỳ ở thân phận và hoàn cảnh riêng của mỗi người. Vì thân phận và hoàn cảnh của mỗi người mỗi khác, trên mức trung dung không có mẫu chung cho tất cả. Và trong cương vị của mỗi cá nhân, mức trung dung ở một thời điểm này cũng không giống mức trung dung ở thời điểm khác. Còn xét theo từng vấn đề, mức trung dung này cũng linh động và quyền biến. Đạt hạnh phúc theo tầm mức trung dung là quyết định mức độ vừa phải, theo người, theo cảnh, theo thời, theo việc. Bí quyết của thuật nhân sinh bắt nguồn từ tiết độ đó.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
