Bài tổng quan
Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn ở từng cung
Liêm Trinh có thể là người quân tử khiêm hòa, cũng có thể là kẻ chuốc tù ngục chỉ vì một cặp sao đứng sai chỗ. Rồi Tham Lang đi với Đà La thì đời sống tình ái thành mối họa, còn Cự Môn thì cả đời quanh quẩn với miệng tiếng thị phi…
Liêm Trinh: sao đào hoa chính trực và cái bẫy của rượu, sắc, kiện tụng
Liêm Trinh có thể là người quân tử khiêm hòa, cũng có thể là kẻ chuốc tù ngục. Ngôi sao này cho thấy rõ nhất rằng một chính tinh không có số phận cố định: nó đi theo bạn đồng cung và theo sao đến hội.
Liêm Trinh ở Thân hoặc Mệnh thì phong lưu, ham cờ bạc. Gặp Văn Xương thì ưa lễ nhạc, khiêm hòa lễ độ. Gặp Thất Sát thì hợp nghề quân đội, cảnh sát. Gặp tứ sát thì vướng kiện tụng. Gặp Bạch Hổ thì có tai họa tù ngục và chịu hình cầu. Gặp Lộc Tồn thì có giàu sang. Liêm Trinh gặp sát tinh mà ngồi ở Mệnh thì phạm pháp, đến mức bị xử bắn. Liêm Trinh gặp Xương Khúc thì chết non. Gặp Đà La thì chết nơi đường xa hoặc chết ở đất khách. Gặp tứ sát mà ngồi ở Sự Nghiệp thì có tai họa tù ngục.
Liêm Trinh và Tham Lang (Tỵ): rượu và sắc quá độ, vì sắc mà chuốc thị phi, phiêu bạt. Nữ mệnh gặp sát tinh thì sa vào phong trần. Gặp Xương Khúc thì chết non, hay khoác lác, bị công an bắt giữ. Dương Nhẫn ở Dậu củng chiếu thì có tai họa tù ngục. Gặp Đà La, Hóa Kỵ thì cô đơn nghèo khó, hình tướng tổn hại, nhiều bệnh. Gặp Lộc Tồn thì có giàu sang.
Liêm Trinh và Thiên Tướng (Ngọ): người sinh năm Giáp, Ất, Đinh, Quý thì tiền và quan đều đẹp. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc thì làm người đứng đầu. Gặp Lộc Tồn thì có giàu sang. Gặp Dương Nhẫn thì thị phi nhiều. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật.
Liêm Trinh và Thất Sát (Mùi): gặp cát tinh thì tiền và quan đều đẹp, có của có quý. Gặp tứ sát thì chết non, hoặc vào năm Bính, Liêm Trinh hóa Kỵ thì chết vì tai nạn xe cộ, hoặc vong mạng nơi trận mạc, hoặc mắc bệnh hư lao, hoặc bị thương ở xương sống.
Liêm Trinh đứng một mình ở Thân: có giàu sang, tiếng tốt, hợp nghề công chức hoặc dạy học, cả đời ăn lộc. Gặp Lộc Tồn thì có giàu sang. Gặp Đà La thì có họa đổ máu. Gặp Hỏa Tinh ở đất hãm không thì có họa tự hủy hoại thân mình.
Liêm Trinh và Phá Quân (Dậu): gặp tứ sát thì hợp làm công chức hoặc học một nghề. Dương Nhẫn ở Sửu xung chiếu thì có kiện tụng, bệnh tật, tai họa tù ngục. Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì vô lương tâm, không giữ chữ tín, lời nói không đáng tin, có họa tự hủy hoại thân mình; nếu có Lộc Tồn, Thiên Mã đồng cung thì được cứu mà không chết.
Liêm Trinh và Thiên Phủ (Tuất, Thìn): ngoài mềm trong cứng. Ở Tuất, gặp Tả Phụ thì làm người đứng đầu, có quyền uy; gặp Xương Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì nhà ở sang trọng; gặp Dương Nhẫn thì thị phi nhiều; gặp Đà La thì có họa đổ máu. Ở Thìn, người sinh năm Giáp, Canh, Nhâm thì tiền và quan đều đẹp; gặp Dương Nhẫn thì thị phi nhiều; gặp Đà La thì có họa đổ máu; gặp Tả Phụ thì làm người đứng đầu; gặp Hỏa Tinh ở đất hãm không thì có họa tự hủy hoại thân mình.
Liêm Trinh đứng ở Dần: người sinh năm Giáp, Kỷ, Canh thì thành cách quý. Liêm Trinh và Thất Sát ở Sửu: có giàu mà không quý.
Thiên Phủ: kho tàng của người môi đỏ răng trắng
Thiên Phủ giữ của, nên lời đoán về nó xoay quanh chuyện giàu, nhà đẹp và cả chuyện đời sống kín đáo.
Thiên Phủ ở Thiên Di thì có tay nghề. Ở Thân hoặc Mệnh thì môi đỏ răng trắng, tính tình ôn hòa. Gặp Tử Vi, Văn Xương, Văn Khúc thì cả đời hạnh phúc. Gặp tứ sát thì sớm may, về già nhọc nhằn. Nam mệnh gặp sát tinh thì hiếu sắc, khéo lời dỗ ngọt, lừa tình phụ nữ.
Thiên Phủ đứng một mình (Tỵ, Dậu, Hợi, Sửu, Mão, Mùi): người sinh năm Ất, Bính, Mậu, Tân thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Giáp, Canh thì không quý, trước lớn sau nhỏ, có đầu không có cuối. Gặp Lộc Tồn, Xương Khúc thì đại phú. Gặp Tả Phụ thì làm người đứng đầu. Gặp Xương Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì ở nhà ở cao cấp. Rơi vào Địa Không, Địa Kiếp thì cô độc. Ở Mùi, Mệnh ở đây thì giàu sang đủ cả; người sinh năm Kỷ thì chủ quý; Tài Bạch ở đây thì đại phú. Ở Sửu, Mệnh hoặc Tài Bạch ở đây thì không quý ắt giàu.
Thiên Phủ và Tử Vi (Thân, Dần): người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ, Canh thì cả đời hưởng phúc; người sinh năm Giáp thì suốt đời giàu sang. Gặp Tả Phụ thì làm người đứng đầu. Gặp Lộc Tồn, Xương Khúc thì đại phú. Rơi vào Địa Không, Địa Kiếp thì cô độc. Nữ mệnh gặp cát tinh thì quý và đẹp, giúp chồng ích con.
Thiên Phủ và Vũ Khúc (Ngọ, Tý): người sinh năm Giáp, Mệnh ở cung Tuất có Thiên Tướng chầu về, thì làm đến chức viện trưởng. Gặp Lộc Tồn thì đại phú; ngồi ở Tài Bạch thì giàu lớn; thọ như núi Nam. Ở Tý, gặp Khôi Việt thì làm quan chức tài chính, thuế vụ. Tứ sát đồng cung thì vì tiền mà bị cướp.
Thái Âm: mẹ, tiền và những cơn đào hoa
Ánh trăng gắn với phụ nữ trong nhà, với tiền bạc cất giữ và với những mối tình khó nói.
Thái Âm ở Thân cung thì trong nhà có hai người mẹ. Ở Thiên Di thì hợp nghề lưu động, công thương, đi buôn xa sinh lợi. Ở Tài Bạch thì hợp làm ở cơ quan tài chính, thuế vụ. Thái Âm đồng cung Văn Khúc thì hợp nghề luận mệnh, có linh cảm. Thái Âm ở đất hãm, đại tiểu hạn gặp thì có đào hoa, có chuyện ngoại tình, dễ phiền não vì tình.
Thái Âm ở Dậu, Tuất, Hợi: ở Dậu, người sinh năm Bính, Đinh thì tiền và quan đều đẹp, gặp bảy sao cát thì đắc chí sớm, đại phú quý, cả đời vui vẻ. Ở Tuất, người sinh năm Bính, Đinh thì tiền và quan đều đẹp, gặp bảy sao cát thì rất quý, đắc chí sớm, cả đời vui vẻ. Ở Hợi, người sinh năm Ất, Đinh, Mậu, Canh, Nhâm thì tiền và quan đều đẹp; người sinh năm Bính, Đinh, Nhâm, Quý, sinh ban đêm thì chủ quý, cả đời vui vẻ; gặp bảy sao cát thì giàu và quý, đắc chí sớm.
Thái Âm ở Tỵ, Thìn, Mão: gặp tứ sát thì chân tay thương tật, ham mê rượu và sắc; ở Thìn, Mão còn thêm chuyện làm việc theo cảm tính.
Thái Âm đi cùng sao khác: cùng Thiên Đồng ở Ngọ, Tý; cùng Thái Dương ở Mùi, Sửu; cùng Thiên Cơ ở Thân, Dần.
Tham Lang: tham dục, tửu sắc và nỗi sợ Đà La
Ngôi sao của ham muốn, nên mối nguy lớn nhất của nó là chính cái ham muốn ấy khi gặp sao xấu.
Tham Lang sợ nhất đồng cung với Đà La hoặc Dương Nhẫn: đời sống tình dục quá độ, hoặc vì sắc mà rước họa, có thể chết vì chuyện tình ái, hoặc mắc bệnh hư lao. Tham Lang gặp Xương Khúc thì ngoài đẹp trong rỗng; hạn gặp thì bị xử phạt hành chính.
Tham Lang và Liêm Trinh (Tỵ, Hợi): phạm pháp bị bắt. Nữ mệnh gặp sát tinh thì sa vào phong trần. Ở Hợi, gặp Dương Nhẫn, Đà La thì nam nữ đều ham rượu và sắc đến mất mạng; có cát tinh thì khá hơn.
Tham Lang đứng một mình ở Thìn: thọ như núi Nam, phúc như biển Đông; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì tham nhỏ mất lớn; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì đại phú đại quý. Ở Tuất: gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì đại phú đại quý. Ở Dần: gặp Đà La thì vì sắc mà rước họa. Ở Tý: thọ như núi Nam, phúc như biển Đông; gặp Xương Khúc thì có họa nước; gặp Dương Nhẫn, Đà La thì dễ bị người khác giới quyến rũ; gặp bảy sao cát thì phát tài; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì tham nhỏ mất lớn.
Tham Lang đi cùng sao khác: cùng Tử Vi ở Mão, Dậu; cùng Vũ Khúc ở Sửu, Mùi.
Cự Môn: miệng lưỡi, bệnh ngầm và những cung hợp
Cự Môn là sao của lời nói, nên hầu hết lời đoán về nó là chuyện thị phi, rồi tới chuyện thân thể và đời sống riêng tư.
Cự Môn cùng Dương Nhẫn, Đà La ở Thân hoặc Mệnh thì cả đời nhiều bệnh hay bệnh ngầm kéo dài, lại nhiều hình khắc, nam góa vợ, nữ góa chồng. Cự Môn gặp Hỏa Tinh, Dương Nhẫn hội về Mệnh hay hạn gặp thì chủ họa tự hủy hoại thân mình hoặc chết dữ. Cự Môn cùng Thiên Lương ở Thân hoặc Mệnh thì loạn luân bại tục. Cự Môn bất lợi với lục thân. Cự Môn mừng nhất ở đất miếu vượng, có Lộc Tồn thì giải được cái cuồng. Cự Môn ngồi Mệnh, tam hợp có Dương Nhẫn, Đà La, Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, hạn gặp thì có họa lửa.
Cự Môn đứng một mình: ở Tỵ, người sinh năm Tân, Quý thì tiền và quan đều đẹp; Dương Nhẫn, Đà La đồng cung thì sinh hoạt không bình thường. Ở Ngọ và Tý, Mệnh ở đây thì giàu sang nổi danh. Ở Thìn và Tuất, Mệnh ở đây rất kỵ gặp Dương Nhẫn, Đà La, vì nam thành trộm, nữ thành gái điếm; chỉ người sinh năm Tân, Quý thì có quý; cả đời chuốc miệng tiếng thị phi. Ở Hợi, Mệnh ở đây, Thái Dương ở Tỵ chiếu về, cả đời ăn lộc nhà nước, giàu sang nổi danh.
Cự Môn và Thiên Đồng (Mùi, Sửu): người sinh năm Giáp, Ất, Bính, Canh, Tân, Nhâm, Quý thì tiền và quan đều đẹp; cả đời miệng tiếng thị phi nhiều; Dương Nhẫn, Đà La đồng cung thì sinh hoạt không bình thường, hay bị thương; gặp sát tinh thì hung.
Cự Môn cùng Thái Dương (Thân, Dần): làm việc trước siêng sau lười. Cự Môn cùng Thiên Cơ (Dậu, Mão): ở Mão, người sinh năm Ất, Tân, Quý thì tiền và quan đều đẹp, gia đạo sa sút rồi lại hưng; Dương Nhẫn, Đà La đồng cung thì sinh hoạt không bình thường.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
