Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Cách cục

Bài tổng quan

Cự Cơ Tý Ngọ: thạch trung ẩn ngọc và những câu nói hớ

Tử Vi Nam Phái - Cách cục01/10/202617 phút đọc6 lượt đọc
Cự Cơ Tý Ngọ: thạch trung ẩn ngọc và những câu nói hớ

Trong một đám tang, có người khóc nhiều, người khóc ít, và có người đứng ngoài buông một câu đánh giá thoáng qua. Câu ấy chỉ vài giây, nhưng người trong cuộc nhớ suốt hơn ba mươi năm. Ngôi sao nào khiến một câu hớ hênh ở lại lâu đến vậy, và vì sao nó nằm đúng nơi cơ hội lớn nhất đang mở ra…


Trong một đám tang, có người khóc nhiều, người khóc ít, và có người đứng ngoài đánh giá rằng chị ấy khóc nhiều vì trước đây có lỗi với mẹ. Câu ấy chỉ là lời nói thoáng qua, nhưng người trong cuộc nhớ suốt hơn ba mươi năm. Ngôi sao nào khiến một câu hớ hênh có thể ở lại lâu đến vậy, và nó nằm đúng ở nơi cơ hội lớn nhất đang mở ra…

Thạch trung ẩn ngọc: ngọc ẩn trong đá

Sách Tử Vi thường gọi chung cách Cự tại Ngọ, Cơ tại Tý và Cự Cơ tại Mão Dậu, kể cả Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung chiếu, là "Thạch trung ẩn ngọc" cho tiện gộp nhiều cách làm một. Nhưng phân tích kỹ thì Mệnh hay Hạn tại Cự Ngọ khác hẳn Mệnh hay Hạn tại Thiên Cơ Tý. Trước hết cần hiểu vì sao người xưa gọi là "ngọc ẩn trong đá": Cơ là đá, Cự là lớn, Cự Cơ là hòn đá lớn. Từ vị trí Cơ Tý ta thấy Thái Âm chủ ẩn tàng một sự may mắn phước duyên của bộ Đồng Lương. Cũng vậy từ vị trí Vô Chính Diệu tại Mão hay Dậu ta thấy đủ bộ năm sao này. Nhưng từ Mão Dậu ta chỉ thấy Cự Cơ gia thêm Đồng, còn từ Cự Môn Tý hay Ngọ ta chỉ có Cự Cơ gia thêm Thái Dương. Xứng đáng gọi là "thạch trung ẩn ngọc" là Thiên Cơ Tý Ngọ và Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung tại Mão Dậu.

Thạch trung ẩn ngọc là ẩn tàng một sự may mắn không ngờ, một cơ may đem đến, một cơ hội đưa tới êm đềm, âm thầm, thời cơ mở ra trước mắt. Nhưng khi thời cơ đến thì phải làm sao? Nhìn thôi, hay ngồi đợi sang giàu tự nhiên đến? Phải thay đổi cho hợp với thời cơ, thời đại, thời kỳ. Đó là lý do người ta viết:

Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao, uy quyền quán thế.

Song Hao có gì quý mà gọi là hạnh ngộ? Vì Đại Hao chủ thay đổi. Cơ hội đến mà không thay đổi quan niệm, thái độ, đời sống thì mọi việc y như cũ, phí đi một cơ hội. Song Hao ở cách Cự Cơ Tý Ngọ chỉ có tuổi Ất và Tân. Câu phú tiếp: "Cự Cơ Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc phúc hưng long". Với Đại Hao làm to thêm Khoa Quyền Lộc, ta còn có Kình Đà lúc đó là được nâng lên, tán dương, đắc ý, hãnh diện; Đà La tha hồ bành trướng phát triển. Với tuổi Ất Tân còn thêm Khôi Việt quý nhân, thành bộ tam kỳ thêm điều kỳ lạ, Kình Dương bốc tới mây xanh, Đà phình ra tới ngoại bang. Lúc đó ngọc tự nhiên có trong két sắt.

Cự là lớn, Cơ là cơ hội, nên Cự Cơ là cơ hội lớn cần thay đổi, đổi mới tư duy, đổi mới việc làm. Đổi mới không có nghĩa là bỏ nghề mà cải cách, cách tân nó. Cách này hợp nhất với hai tuổi Ất Tân. Kỵ nhất là tuổi Giáp vì thành cách "Cự phùng Tồn tú" và gia thêm Kỵ đối với Cự Môn tại Ngọ. Nhì là hai tuổi Kỷ và Quý, riêng Kỷ có khả năng gặp thêm Kỵ.

Cự phùng Tồn tú: cát xứ tàng hung

Cơ hội lớn bao giờ cũng đi kèm một ai đó đứng ngoài ngăn cản.

Cách "Cự phùng Tồn tú, cát xứ tàng hung" có giá trị đối với Cự: từ Cự nếu thấy Lộc Tồn hợp, xung hay đồng cung thì kể như phùng. Ý như sau: Cự phản đối vì cơ hội lớn cần thay đổi, hoặc muốn làm gì đó, nhưng Tồn chỉ là bàng tinh, như vợ, con, em, đàn em trong nhà lại bài xích, bài bác, và Cự, ông vua thứ ba, đành chịu thua. Thế là còn sự bất mãn, bực bội trong lòng, như thấy người ta mua cổ phiếu, vàng, đô la, đất đai mà mình lại để tiền mua ba thứ tào lao càng ngày càng mất giá, để mối mọt ăn. Nỗi bực mình tồn tại, nhất là tuổi Giáp gặp thêm Kỵ, vì "Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận Hạn kỵ tương phùng". Cự Môn là đầu đảng, vua thứ ba, mà chịu thua Hóa Kỵ thì khổ thật: làm chủ gia đình không yên huống gì các tổ chức phe nhóm đoàn thể khác. Cũng đừng quên Lộc Tồn có tên bác sĩ, kẻ bài xích làm bạn. Chữ Quý thì Cự Môn còn hưởng chút uy quyền nhưng Tồn vẫn cứ tồn tại, nên gọi là cát xứ tàng hung, như vui mừng mua được cái nhà rẻ, về sau nó lại rẻ mạt.

Nội Cự ngoại Cơ, mỗi bên cật vấn một bên phản đối

Hai sao đứng ở hai đầu một đường thẳng, mỗi bên đều cho rằng mình là bên có lý.

Cự tại Ngọ, Cơ tại Tý gọi là nội Cự ngoại Cơ, và ngược lại nội Cơ ngoại Cự. Nếu Cự là đệ nhất thị phi chi diệu thì Thiên Cơ, hiền hòa toan tính riêng tư, đạt hạng nhì, vì Thiên Cơ chủ cật vấn, tra xét, và đỉnh cao của nó là khi gặp Cự Môn. Cự Cơ Tý Ngọ là nơi đạt cao trào nhất. Mỗi sao đứng một cung, xung chiếu nhau, nhòm ngó nhau. Đứng từ vị trí Thiên Cơ ta thấy có người đứng trước cửa nhà mình ngoác mồm phản đối điều gì đó; đứng từ vị trí Cự Môn ta thấy mình tới tận cửa nhà ai đó để phản đối.

Thế lực của Cự Môn là Thái Dương. Thế lực của Cơ là toàn nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương, đàn bà con nít được đem ra hỗ trợ. Một bên là người đàn ông phản đối, bên kia là nhóm phụ nữ và trẻ em. Đó là hình tượng. Cự Dương chủ dày lên, phất lên sự phản đối cao nhất vì sao Thiên Cơ dám cật vấn, tra xét mình. Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ âm thầm cật vấn, điều tra, xét hỏi vì sao Cự Môn phản bội, phản đối. Vậy cách Cự Cơ Tý Ngọ có tính thị phi xung đột vô cùng cao.

Cự Cơ nhi ngộ Lộc Tồn: ngôn ngữ bất cẩn

Khi hai bên cãi nhau, thứ dễ bay ra khỏi miệng nhất là câu nói mà ta sẽ hối cả đời.

Gặp thêm Lộc Tồn thì bị phê là "ngôn ngữ bất cẩn": "Cự Cơ nhi ngộ Lộc Tồn, ngôn ngữ bất cẩn". Khi giận hờn, chuyện lỡ lời rất dễ xảy ra, và ngay khi không giận hờn, bản chất cách này cũng có lúc nói những câu rất hớ, rất dại dột, dễ vạ miệng. Với Cơ là những câu chất vấn dễ gây ấn tượng chọc tức, châm chọc; với Cự là những câu phản bác hớ hênh, phản đối sai lầm, lòi ra sự dại dột của mình. Từ đó gieo vào lòng người khác một sự bất mãn tồn tại lâu dài. Một câu nói nhớ hoài không quên, âm ỉ cháy trong lòng cả chục năm.

Ví dụ trong một đám tang, có người khóc nhiều, kẻ khóc ít, không phải khóc nhiều là thương, khóc ít là không thương. Có người đánh giá: chị ấy khóc nhiều vì trước đây có lỗi với mẹ, vì hối hận. Với người ngoài chắc chắn chẳng đọng lại gì. Nhưng với người viết là người trong cuộc biết rất rõ, đó là một câu nói ác ý, sai sự thật nhằm biện minh cho mình, rất bất mãn, tồn tại không phải một vài năm mà đến ba mươi chín năm dài, vẫn nhớ như in. Cũng trên báo chí ta thỉnh thoảng đọc những câu nói hớ của các nhà lãnh đạo, lời nói theo gió bay đi không kịp chặn lại.

Vì vậy khi hạn đến Cự Cơ, dù không có Lộc Tồn bạn vẫn bị hớ như thường vì có Lưu Lộc Tồn hoạt động. Nếu thấy Mệnh, Hạn, Cung tại Tý Ngọ có cách Cự Cơ thì cần cẩn thận lời ăn tiếng nói. Đôi khi muốn đùa cho vui cũng vô tình xúc phạm kẻ khác, người viết cũng từng mắc lỗi ấy.

Chia ly, ly gián và ai đứng ngoài nhìn

Từ nỗi bất mãn tồn tại trong lòng của Thiên Cơ do bị Cự xung, và những cật vấn vô lý của Thiên Cơ khiến Cự Môn phất cờ khởi nghĩa, biện pháp được chọn là đường ai nấy đi. Vợ chồng bỏ nhau, anh em không đoái hoài nhau, thậm chí cha mẹ và con cái không thèm nhìn mặt nhau, thoát ly khỏi một tập thể. Tùy hung cát tinh còn là bị khai trừ khỏi đoàn thể (Cự Triệt Kỵ Hình), hay cay đắng hơn là bị ai đó ám hại (nếu có Bệnh Phù) bằng kế ly gián, làm gia đình xích mích, nội bộ không yên, sự êm đềm bị phá vỡ. Cũng như câu "Đồng Lương Cơ Nguyệt tất định tác lại nhân, nhược vô tứ tinh, tam giả nan thành": cách Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ hay ho, an bình khi có bốn sao ấy, mà tại đây lại có tới năm sao, Thiên Cơ bị Cự Môn bên ngoài phản đối nên cả nhóm sao không yên vui. Cũng tùy tình huống, người đàn ông ấy đã bỏ đi, chỉ còn đây đám đàn bà con nít. Phía Cự Môn cũng vậy: ta đi cho khuất mắt cái đám con nít ấy, tao không thèm làm vua thứ ba, ngài lên đường đi tìm một cánh cửa khác, phe phái khác, vì Cự còn là khoảng cách, là cự ly, dù ngài có ở lại thì trong lòng vẫn đầy ắp, dư thừa niềm bất mãn và có một khoảng cách nhất định.

Thấy Cự Môn hội họp là thấy cảnh chia ly, thấy chữ ly trước mắt. Cự Cơ cơ hội lớn đâu không thấy, dễ thấy trước mắt là hai chữ duyên cớ. Duyên là Cơ, Cự là cớ, tuyệt đối chính xác. Duyên cớ đâu mà anh làm việc này thành công vậy (tốt). Duyên cớ vì đâu mà hai đứa xa nhau (xấu). Duyên đâu mà anh lặn lội đến đây (trung bình).

Cự Môn luôn lục hại với Tử Vi giữa một sao phản đối bằng miệng và một sao sẵn sàng làm phản bằng hành động. Hai vua luôn lục hội nhau, khiến vận hạn đáo Cự càng sôi động vì Tử Vi sẽ hoạt động: khi Cự ngộ Tồn là lúc Tử Vi ngộ Kình Hao. Phía Thiên Cơ luôn có Thiên Tướng lục hội sẵn sàng ra tay tương trợ vì cái đám phụ nữ trẻ em yếu quá trước Cự hung hăng. Nghĩ mà buồn cười: Cự Cơ là cơ hội lớn để cãi nhau. Tử Vi, Phá Quân và Thiên Tướng cũng lúng túng vì cùng lúc hai sao nhị hợp và lục hội cho cả hai sao trên. Cự Cơ cãi nhau đã đành, còn lôi kéo vua số một, vua số hai tham dự, Thiên Tướng bị giằng co không biết tương trợ bên nào. Thế Cự Cơ Tý Ngọ Mão Dậu là nơi hội tụ của các vua: một vua đã cực, tới ba vua tụ tập dễ xảy ra đại chiến.

Điều ít người để ý khi đoán Mệnh Hạn Cự Môn, nhất là Cự tại Tý Ngọ, là luôn có Liêm Trinh theo dõi xem phản đối phản bác có đưa đến phản bội không, và phía kia luôn có Thiên Tướng. Nếu cung này có Kình Dương, tức Cự ngộ Lộc, vô hình chung thành cách "Liêm Trinh Thiên Tướng Kình Hình hiệp, đa chiêu hình trượng nan đào": Cự Môn bị Liêm Trinh Đà theo dõi phía sau và Thiên Tướng giương gậy Kình Dương phía trước, dễ bị ăn đòn do phản đối, phản bác, bài xích. Người xưa gọi là hiệp, hàm ý hiếp, lưỡng đầu thọ địch. Nếu thấy cung có Thiên Tướng bị Kình hay Hình, vua số ba gặp nguy hiểm.

Cự tú Thiên Cơ nhi phá đãng: đứa bé táy máy và tài năng lớn

Từ chuyện người lớn cãi nhau, ta quay về một đứa trẻ hỏi mãi không thôi.

Câu "Cự tú Thiên Cơ nhi phá đãng": chữ đãng ở đây là dấu ngã, nghĩa là phá phách hoang đàng, không phải đảng phái. Cự tú là Cự đẹp, tức đắc địa, Cơ là hiền, nhi là tuổi còn nhỏ. Cách Cự Cơ nhỏ hoang đàng lắm, vì Cự chủ sờ mó táy máy như Sát Phá, Thiên Cơ chủ cơ ngơi, cây cối, cơ thể. Thử hình dung một đứa bé sờ mó, táy máy khắp người bạn rồi chuyển qua đồ vật trong nhà, cây cối, leo trèo; Cơ là cật vấn tức hỏi han rối rít, Cự phản đối bậy bạ vì còn con nít, rồi quay lại sờ mó hỏi lung tung. Sát Phá chỉ quậy thôi, đây còn khổ vì nghe nói: mặt trời mọc dưới nước sao nó không ướt hả chú, cái bụng chú có em bé hả chú. Cách Cự Cơ ngoài hai mươi tuổi cũng còn phiền, được khen là hiếu động nhưng kinh nghiệm cho thấy rất khổ vì Cự Cơ bé con. Nhưng đa phần sau này thành công, vì Cơ là tài, Cự là lớn: tài năng lớn.

Vì thế không có gì thắc mắc khi bộ này đi với Song Hao thì uy quyền quán thế: tài năng lớn được khẳng định qua bộ Khoa Quyền Lộc. Dù bạn có cách Cự Lộc kém hay, những năm có Song Hao cũng có sự thay đổi để thích nghi với cuộc sống, rồi tài năng cũng lớn dần, chỉ chậm hơn vì không có cơ may tiếp thu những thay đổi lớn cho phù hợp.

Kiếp Phù Khốc Khách, dương gian cách biệt và Cự Tý hay Cự Ngọ

Cự tại Ngọ gặp cách Kiếp Phù Khốc Khách thì đối với nữ là "Kiếp Phù Khốc Khách mạc ngộ Cự Nhật, chung thân đa lệ phối duyên": Mệnh hay Phu có cách này thì nhiều nước mắt trên đường tình duyên. Phù Khốc Khách là kẻ mang tiếng khóc, Kiếp là kiếp nạn khóc chồng, vì ông Thái Dương là hình ảnh của người đàn ông bị nạn: tai nạn, bị thương, bị tù, bị chết, hay mê gái, hám của lạ bỏ ta mà đi, trong đó yếu tố bất mãn không thể thiếu.

Dương gian cách biệt: "Kình Đà Linh Hỏa cùng ngồi, với sao Cự tú trọn đời tai ương", "Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử", "Cự Hỏa Kình Dương Đà La phùng ác diệu tử ư ngoại đạo". Khi xấu đây là câu ta thường nghe: thôi từ nay dương gian cách biệt, tức là chết. Xấu vừa là hai phương trời cách biệt, ít xấu là khoảng cách trong lòng, bằng mặt mà không bằng lòng: Thiên Cơ không âm thầm cật vấn, Cự Môn không công khai phản đối. Cách Cự Hỏa Kình là nổi giận mà chết. Phía Thiên Cơ nếu ngộ Tang Khách, tức cách Cơ Lương Tang Điếu, rất dễ té ngã từ cao xuống. Còn "Cự Môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương, Linh Hỏa phùng chi sự bất tường, vi nhân tính cấp đa điên đảo".

Cự tại Tý hay Cự tại Ngọ hơn? Cự tại Tý ngon hơn vì Thái Dương đắc ý bốc cao hơn. Cự tại Ngọ, Thái Dương hãm, phải chờ vãn niên mới bốc cao lên. Đừng quên câu "Âm Dương lạc hãm vãn tuế tất thành": chủ phát muộn, và buồn phiền vì ngôi Thái Dương không tốt.

Thanh Long, Tuế Hổ Phù, Cự Kình khai trương và khởi đầu

Còn một điều nữa: sự phản đối chỉ đẹp khi nó biết nói thành lời đúng chỗ.

Cự phản đối chắc gì đã hay, Cơ cật vấn chắc gì đã đúng. Cự phản đối cần đi với Thanh Long vì chủ tiếng nói. Phản đối mà không nói ra, như cách Cự Lộc, là kém hay. Cự Thanh là lên tiếng phản đối lớn, cách này có tên "lão bạng sinh châu", trai già sinh ngọc, hàm ý cao tuổi có tài. Đi với bộ sao ngôn ngữ Tuế Hổ Phù, dù tăng thêm tính thị phi nhưng có lập trường và thái độ rõ ràng. Nếu gia thêm Hình: "Cự gặp Hổ Tuế Hình viên hội, ấy là nghề thầy kiện quan tòa". Hình chủ phản đối bằng pháp luật, cũng là có phương pháp để phản đối, chuyển từ điểm này qua điểm khác mới thuyết phục được quan tòa. Xương Khúc cũng cần: phản đối cũng cần các sao văn học vì lời nói thuyết phục người nghe, thiếu hai sao này khó chiếm được cảm tình của thiên hạ. Thiên Cơ giỏi cật vấn, tra xét, điều tra bằng ngôn ngữ, cũng cần các sao ấy, và rất kỵ Tam Ám cùng Tang Môn, vì cơ thể bị chôn vùi, và bộ Khốc Hư dễ bệnh hô hấp.

Cự Kình là cách phản kháng, cách khai trương. Thoạt đầu Cự Môn phản đối chỉ là can gián, can ngăn, nhưng khi có Kình tính phản kháng rất mạnh, chủ phản kháng, chống cự, cầm cự với hoàn cảnh khó khăn, với địch. Nếu thấy thị phi tinh Kỵ Hình Hỏa Linh thì xung đột mâu thuẫn rất mạnh. Nhưng đi với cát tinh, hỉ tinh thì là cách giương cửa lên để khai cuộc: chủ khai trương, khai mạc, mở đầu cuộc đấu tranh, mở đầu cuộc tranh giành thị trường. Bộ Cự Kình bản chất không có gì xấu hay nguy hiểm, nhưng thành nguy khi Hỏa Linh hội họp, thành bộ Cự Hỏa Kình. Bốn chữ "khai trương hồng phát" là Cự Kình cộng Hồng Việt. Giương cao cờ nghĩa mở ra trang sử mới với lá số anh hùng, giương cây bút bày tỏ trên từng trang giấy, giương biểu ngữ phản đối, hay dựng lên cái cổng đơn sơ hoặc rực rỡ như khải hoàn môn. Dựng cổng khẳng định chủ quyền, hướng dẫn một lối ra vào có nề nếp không chung chạ, cũng là dấu hiệu của sự chia rẽ chỉ biết mà không thấy.

Cự Môn cư Tý Ngọ cần gặp và kỵ gặp

Cự Môn cư Tý Ngọ cần gặp: Song Hao uy quyền quán thế, nữ là cách phi lễ thành hôn. Thanh Long thì lão bạng sinh châu. Phục Binh thiên về binh nghiệp. Hổ Tuế Hình thì ngành luật. Tang Môn có tính phức tạp: về nhà đất rất lợi, nhà rộng có cửa trước cửa sau, cửa chính cửa phụ, nhưng về tình cảm gây chia rẽ trong gia đình, nội bộ cơ quan. Kỵ gặp: Lộc Tồn là cát xứ tàng hung, còn là cách vọng ngôn. Đà La thì dị chí, nếu thành công là phi thường. Đà Kỵ Tuế thì kiện cáo. Kình Đà Hỏa Linh thì tai ương. Hỏa Kình thì ải tử. Kiếp Phù Khốc Khách thì đa lệ phối duyên.

Những câu phú liên quan

Cự Môn Đà La tất sinh dị chí.

Trong trường hợp Cự Cơ, đó là chí hướng phi thường vì đây là cơ hội lớn, và cần tìm bộ Khoa Quyền Lộc để đánh giá.

Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát. Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung.

Tuế Đà Cự Kỵ phận nghèo, một thân lên thác xuống đèo không yên.

Dương Cự Hao thật không lành, chồng con phối hợp bất thành hôn nghi.

Thiên Cơ dữ Thiên Lương, Tả Hữu Xương Khúc hội họp, văn vi thanh hiển võ vi trung lương.

Mệnh phùng Thiên Cơ miếu vượng đa năng. Thiên Mã nhập Mệnh mẫn tiệp. Thiên Cơ tại Viên xảo tài xuất chúng.

Khoa Quyền Lộc Mã tu phòng Không Kiếp ám xung, Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá.

Cơ Nguyệt Đồng Lương kiêm hữu sát tinh, Hiến Đế ưu phòng Đổng thị.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Cách cục