Bài tổng quan
Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp, Thiên Mã theo Hà Lạc phái
Kình Dương gặp Hỏa Tinh thì như kim loại được luyện thành khí cụ, tính hung của sát tinh bỗng thành lợi ích. Thất bại của Địa Kiếp giống món đồ cổ vừa tới tay đã vỡ, còn thất bại của Địa Không là món đồ bị người khác nhanh chân mua mất. Con ngựa trời có Kình Dương đồng cung thì lại mang tên ngựa chở thây ma…
Kình Dương, Đà La trong Hà Lạc phái
Kình Dương thuộc dương kim, mang tính dương hỏa; Đà La thì thuộc âm kim, mang tính âm hỏa. Kình Dương gọi là sao "hình" (hình phạt), Đà La gọi là sao "kị". Thông thường Kình Dương thấy Hỏa Tinh lại chủ về kích phát, Đà La thấy Linh Tinh cũng chủ về trui rèn; lúc này không còn là "hình kị" nữa. Vì Kình Dương gặp Hỏa Tinh cũng giống như luyện kim loại thành khí cụ; Đà La gặp Linh Tinh cũng giống như nung đúc thành vật liệu; tính hung của tứ sát tinh do tác động hỗ tương cũng bị triệt tiêu, diễn hóa thành lợi ích.
Kết cấu "Kình Dương, Hỏa Tinh" chủ về "minh tranh" (tranh giành công khai), chính nhờ có "minh tranh" mới có lực kích phát. Kết cấu "Đà La, Linh Tinh" lại chủ về "ám đấu" (đấu đá ngấm ngầm), chính nhờ có "ám đấu" mới chủ về trui rèn.
Kình Dương
Về cơ bản, Kình Dương có lực phá hoại làm dao động cơ sở, nên gọi là "hình"; sự phá hoại của nó còn xảy ra công khai ngoài sáng, mệnh tạo thấy rõ ràng, nhưng có thể tránh được hay không lại là một chuyện khác. Kình Dương chủ về "hình", nên hợp làm quân nhân, cảnh sát, công tác pháp luật, bác sĩ ngoại khoa, hoặc là nhân viên công trình có tính xung lực; không hợp buôn bán kinh doanh, cũng không hợp làm việc trong chính giới.
Kình Dương ưa ở "Tứ Mộ" (tức bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi); nhất là hai cung Thìn, Tuất (Thiên La, Địa Võng) rất ưa Kình Dương kích phát; có Hỏa Tinh cùng hội hợp thì lực kích phát càng lớn.
Kình Dương không ưa Liêm Trinh, cũng không ưa Cự Môn; trường hợp gặp hai sao này mà có thêm Hỏa Tinh đồng độ thì Kình Dương không phải là lực kích phát, mà chủ về thị phi hoặc bệnh tật. Đây là vì Liêm Trinh thuộc âm hỏa, xung đột với bản chất của Hỏa Tinh, Kình Dương; Cự Môn thuộc âm thổ, đủ để chôn dương kim, diệt dương hỏa; cho nên bất kể nam hay nữ, cung mệnh mà gặp chúng thì cuộc đời thường gặp nhiều tai họa bệnh đau.
Cách "Hỏa Tham" hay cách "Linh Tham" cũng không ưa thấy Kình Dương; ý tượng là sau khi phát đạt nhanh chóng sẽ nảy sinh tình trạng cạnh tranh, tiềm phục nguy cơ bạo bại; cần phải kịp thời chọn phương châm phòng thủ để giữ thành quả, buông bỏ chuyện cạnh tranh với đối thủ, mới có thể "xu cát tị hung".
Vũ Khúc có Kình Dương đồng độ lại không nên theo võ nghiệp; nhưng nếu hội hợp Kình Dương ở tam phương thì hợp làm quân nhân, cảnh sát, công tác bảo an.
Tham Lang không ưa có Kình Dương đồng độ. Ở cung Ngọ, Tham Lang thành cách "Mộc hỏa thông minh" (mộc hỏa sáng thông nhau); thấy Kình Dương, tuy cũng gọi là "Mã đầu đới kiếm", nhưng chủ về phải trải qua gian khổ rồi mới phát đạt và biến thành hanh thông, mà hanh thông lại không kéo dài được lâu.
Tham Lang và Kình Dương ở cung Tí gọi là "Phiếm thủy đào hoa"; ý tượng là cuộc đời chìm đắm trong tửu sắc, cũng không phải là kết cấu đẹp.
Đà La
Đà La chủ về dây dưa kéo dài, cố chấp, thị phi, đố kị; những điều tai hại đều tới từ trong bóng tối, mệnh tạo thường không biết nguyên nhân gây ra những thị phi, rắc rối, trở ngại này. Cho nên gọi Đà La là "kị". "Kị" khác với "hình": "hình" là "minh thương" (đâm thương ngoài sáng), còn "kị" là "ám tiễn" (mũi tên bắn lén). Cho nên bất lợi do Đà La mang lại rất khó tránh né, mà hậu quả bất lợi cũng thường kéo dài một thời gian.
Đà La cũng ưa ở "Tứ Mộ", nhưng thích ở hai cung Sửu hoặc Mùi hơn, vì ở Thiên La, Địa Võng sẽ không có lực đột phá. Đà La rất ghét có Tham Lang đồng độ, có lực phá hoại khá lớn đối với cách "Hỏa Tham" và cách "Linh Tham", vì có thể đột nhiên làm thay đổi tính chất "biến thành hanh thông" thành tính chất "dây dưa kéo dài", thế là sinh ra lực phá hoại. Thông thường Tham Lang thấy Đà La thì ý tượng là vì sắc dục mà mắc bệnh khó trị.
Tham Lang có Đà La đồng độ ở cung Dần gọi là "Phong lưu thái trượng"; ý tượng là vì chìm đắm trong tửu sắc mà ảnh hưởng tới sự tiến thủ; nhưng ở cung mệnh thì phần nhiều lại là người thông minh tuấn tú.
Đà La không ưa có Cự Môn đồng độ; ý tượng là có thị phi trùng trùng ở sau lưng, hoặc mắc bệnh tật ngầm.
Đà La không ưa có Thất Sát đồng độ, nhất là nữ mệnh càng không nên; ý tượng là chồng con li tán, hoặc lấy chồng rất muộn.
Phàm Đà La mà thủ cung phu thê thì ý tượng là chậm kết hôn; thủ cung tử nữ thì ý tượng là có con cái muộn.
Có Đà La cùng hội ở cung sự nghiệp hoặc cung tài bạch thì nên theo ngành công nghệ, làm việc trong công trình, không nên buôn bán kinh doanh, thường rơi vào trạng thái bị bám chặt như keo.
Nếu cung mệnh có Đà La đồng độ thì cung phúc đức ắt sẽ thấy Kình Dương; thông thường chủ về tư tưởng có lực kích phát, nhưng hành động thường lại do dự, không cương quyết.
Nếu cung mệnh có Kình Dương đồng độ thì cung phu thê ắt sẽ thấy Đà La; ý tượng là vợ chồng tính cách không hợp nhau.
Nam mệnh Thái Âm Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, có Kình Dương và Đà La giáp cung, thì ý tượng là hôn nhân thất lợi, bị vợ con gây lụy.
Nữ mệnh Thái Dương Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, có Kình Dương và Đà La giáp cung, thì ý tượng là gặp người chồng không hiền lành, hoặc chồng bị bệnh tật.
Hỏa Tinh, Linh Tinh trong Hà Lạc phái
Kim khí gặp lửa thì thành đồ dùng; cặp lửa đi kèm hai sao kim ấy cũng mang hai tính sáng tối.
Hỏa Tinh thuộc dương hỏa, Linh Tinh thuộc âm hỏa. Tức là những tai hại do Hỏa Tinh mang lại là ở ngoài sáng; còn những tai hại do Linh Tinh mang lại thì khá thầm kín, ở trong bóng tối. Cũng do tính chất này nên "Hỏa Tinh, Kình Dương" chủ về kích động, còn "Linh Tinh, Đà La" chỉ chủ về trui rèn, tôi luyện.
Hỏa Tinh hay Linh Tinh ở cung mệnh hoặc ở cung phụ mẫu thì ý tượng là từ lúc còn bé đã rời khỏi gia đình, hoặc làm con nuôi người khác. Hỏa Tinh thủ cung mệnh hoặc cung phụ mẫu, thấy các sao phụ tá nhưng chỉ là "đơn tinh", thì ý tượng là có hai cha mẹ, hoặc có hai họ, hoặc cha mất sớm.
Hỏa Tinh ưa có Tham Lang đồng độ; ý tượng là đời người tích cực tiến thủ.
Hỏa Tinh ưa đồng độ với "Tử Vi, Thất Sát", gặp thêm Kình Dương thì càng tốt; ý tượng là tích cực tiến thủ, nhưng không bằng cách "Hỏa Tham" Hóa Lộc, có thể bạo phát; không nên thấy thêm Đà La đồng độ, nếu không cách cục sẽ bị phá.
Hỏa Tinh đồng cung với Tử Vi, "Tử Vi, Thiên Phủ", hoặc "Thiên Phủ, Thiên Lương", hội hợp với các sao phụ tá, thì có thể khiến tổ hợp tinh diệu có thiên hướng phát triển tính cương; ví dụ như "Thái Dương, Thiên Lương" chỉ có tính chủ quan, thêm Hỏa Tinh thì thành ngoan cố.
Linh Tinh uy lực yếu hơn Hỏa Tinh, nhưng âm hỏa thì khá kéo dài, cho nên tai nạn do nó mang lại cũng có tính lâu dài. Ví dụ Hỏa Tinh phần nhiều là tổn thất vật chất nhưng chỉ không may trong một lúc nào đó; còn Linh Tinh thường là có đau khổ nội tâm mà rất khó quên.
Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc ở hai cung Thìn, Tuất thì ý tượng là khuynh bại. Nếu sát tinh của lưu niên lại xung khởi "Linh, Xương, Đà, Vũ" của nguyên cục thì tai họa càng kịch liệt.
Liêm Trinh Hóa Kị có Kình Dương đồng độ, lại thấy thêm Linh Tinh, gọi là "Hình tù hội Linh"; ý tượng là chết vì tai nạn, hoặc chết do binh đao. Lúc cung "Hình tù hội Linh" của nguyên cục tới cung lưu niên có sát tinh xung khởi thì tai họa càng kịch liệt, thường đây là cung hạn ứng nghiệm.
Linh Tinh không ưa có Phá Quân đồng độ; ý tượng là buôn bán kinh doanh thất bại; nhưng hợp làm những nghề nghiệp hoặc công việc kinh doanh liên quan tới nha khoa, y khoa, khoa trật đả, tháo gỡ thuyền, tháo gỡ xe.
Phàm Hỏa Tinh và Linh Tinh cùng giáp cung thì cung bị giáp thường là mắt xích yếu nhất trong đời người: nếu giáp cung tài bạch thì ý tượng là đủ vất vả và bôn ba, tài khí vẫn kém; giáp cung tử nữ thì ý tượng là con cháu gian nan.
Hỏa Tinh và Linh Tinh chia ra ở cung phúc đức và cung mệnh thì ý tượng là cuộc đời gặp nhiều sóng gió; chia ra ở cung mệnh và cung phu thê cũng chủ về đời sống hôn nhân nhiều sóng gió, đời người khó được thuận lợi toại ý.
Các sao Thiên Cơ, Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương không ưa bị Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cũng không ưa chúng đồng độ, dễ bị phá cách. Như "Thiên Cơ, Cự Môn" thủ mệnh ở cung Mão, Cự Môn Hóa Lộc, là cách cục "Cơ Cự đồng lâm", ý tượng là phú quý; nếu có Hỏa Tinh và Linh Tinh đồng độ thì chỉ chủ về no ấm.
Cung phu thê thấy Hỏa Tinh, Linh Tinh tương hội thì ý tượng là thành hôn vội vàng. Hỏa Tinh gặp Linh Tinh ở cung mệnh thì ý tượng là sắp thành công thì thất bại, trải qua nỗ lực vẫn không được như ý muốn. Người theo võ nghiệp mà gặp chúng thì lại là ý tượng lập được công trạng.
Nữ mệnh thấy Hỏa Tinh hay Linh Tinh, cổ nhân cho rằng "hiếp đáp chồng và khắc con", duyên với người kém, tính cách cương cường, nhất là Hỏa Tinh thì càng nặng, là chủ về lòng dạ lang sói; thuyết này phải xem xét tinh hệ chính diệu ở cung mệnh mà định, không thể luận đoán bừa bãi.
Cung phúc đức thấy Hỏa Tinh, Linh Tinh thì phần nhiều nội tâm nóng nảy. Hỏa Tinh chủ về tính cương, Linh Tinh chủ về tính cứng cỏi; vì tính cương phần nhiều đều có tính khí nóng nảy, tính cứng cỏi thì miệng tuy không nói nhưng lại dùng hành động để phản kháng.
Địa Không, Địa Kiếp trong Hà Lạc phái
Hai sao lửa đốt ngoài sáng và ngấm trong tối; hai sao Không Kiếp thì không đốt mà làm cho mất đi.
Địa Không thuộc âm hỏa, Địa Kiếp thuộc dương hỏa. Cổ nhân nói Địa Không thủ cung mệnh chủ về "làm việc không thiết thực, thành bại đa đoan"; Địa Kiếp thủ cung mệnh thì ý tượng là "làm việc lơ là, không có thực chất, không theo chính đạo". Sở dĩ có thuyết này thực ra là vì người có Địa Không thủ cung mệnh ưa ảo tưởng, người khác không thể hiểu được cách suy nghĩ của họ; còn người có Địa Kiếp thủ cung mệnh thì ưa chống lại truyền thống, đi ngược với trào lưu, hành vi của họ người khác cũng không thể hiểu được.
Địa Không chủ về tinh thần, Địa Kiếp chủ về vật chất. Cho nên Địa Không mang lại trở ngại, đả kích về mặt tinh thần hơn là tổn thất về mặt vật chất; còn Địa Kiếp thì mang lại trở ngại, tổn thất về mặt vật chất lớn hơn đả kích về mặt tinh thần.
Địa Không thủ cung mệnh ưa thấy các sao mang sắc thái hành động, như "Vũ Khúc, Thất Sát", Tham Lang ở cung vượng, Phá Quân Hóa Lộc; hoặc "Tử Vi, Thất Sát" thấy cát tinh; đều chủ về có thể biến những điều không tưởng thành hành động, triệt tiêu những khuyết điểm do Địa Không mang lại.
Nếu Địa Không đồng độ với Thiên Cơ, Cự Môn thì phần nhiều là không tưởng, hoặc lí tưởng quá cao, không thể biến thành hành động thực tế, nên dễ có biểu hiện "làm việc lúc hăng hái, lúc lại không có tinh thần", hoặc "làm việc thiếu thiết thực".
Lửa trống thì bộc phát, kim loại rỗng thì kêu to.
Cho nên Địa Không ưa gặp Hỏa Tinh ở cung Tị hay cung Ngọ, ý tượng là phát đột ngột; cũng ưa gặp các sao thuộc kim ở cung Thân hay cung Dậu, ý tượng là danh vọng, nhưng không nên thấy thêm sát tinh khác.
Cung tật ách có Địa Không đồng độ thì phần nhiều chủ về bệnh hiếm gặp. Ví dụ như Thiên Lương thủ cung tật ách, có Địa Không đồng độ, gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, thì ý tượng là mắc bệnh lao, viêm não.
Địa Kiếp chủ về tổn thất vật chất, nhưng di chứng về sau nhẹ hơn Địa Không. Thất bại của Địa Kiếp cũng giống như có được một món đồ cổ đắt giá nhưng tới tay thì bị vỡ, tuy có thể sửa chữa nhưng không còn được như cũ; còn thất bại của Địa Không thì giống như muốn mua một món đồ cổ nhưng bị người ta nhanh chân mua trước, cuộc đời thường hay hối tiếc. Xét từ góc độ tinh thần thì đả kích của Địa Không nặng hơn; xét từ góc độ vật chất thì tổn thất của Địa Kiếp nặng hơn. Do đó có thể biết, Địa Không không nên vào cung phúc đức, cung phu thê, cung tử nữ; còn Địa Kiếp thì không nên vào cung mệnh, cung sự nghiệp, cung tài bạch.
Người có Địa Kiếp thủ cung mệnh nên thiết thực, hợp khởi nghiệp bằng công nghệ, vì có thể sáng tạo ra cái mới nên cũng chủ về có thể phát đạt. Địa Kiếp ưa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, do vào Thiên La, Địa Võng nên có khuynh hướng hiện thực hơn. Không, Kiếp mà giáp cung mệnh thì đường đời gập ghềnh, nhiều trắc trở.
Không, Kiếp đồng độ thủ cung mệnh, hoặc chia ra ở hai cung đối xung, phần nhiều chủ về tuổi trẻ bất lợi, không được cha mẹ che chở, hoặc hay bệnh đau, nghèo khổ, nhiều tai ách.
Không, Kiếp thủ cung mệnh hoặc giáp cung mệnh, cổ nhân cho rằng nên xuất gia. Ở thời hiện đại có thể nghiên cứu những môn học ít người chú ý: Địa Không nên nghiên cứu triết học, Địa Kiếp nên theo ngành công nghệ. Cung phu thê và cung mệnh chia ra thấy Không, Kiếp thì ý tượng là vợ chồng tính cách không hợp nhau, đời sống hôn nhân có điều khó nói, thường đau khổ về nội tâm.
Thiên Hình, Thiên Diêu trong Hà Lạc phái
Sát tinh đã đủ mặt; tới lượt một cặp đối tinh, một bên tự trói mình, một bên buông thả.
Thiên Hình thuộc dương hỏa, là tinh túy của hỏa; Thiên Diêu thuộc âm thủy, là tinh túy của thủy. Thiên Hình chủ về tự kiềm chế, Thiên Diêu chủ về phóng túng; cho nên đây là "đối tinh" có bản chất tương phản nhau.
Thiên Hình
Thiên Hình ưa có Văn Xương và Văn Khúc thành cặp hội chiếu hoặc đồng độ; ý tượng là tự kiềm chế nhưng không mang khí lạnh lẽo tiêu điều. Nếu Thiên Hình ở các cung Dần, Mão, Dậu, Tuất vào miếu mà thấy Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân cho là "chức vị cai quản biên cương", nhưng không phải là võ tướng, phần nhiều chủ về chức võ mà làm công việc văn, giống như nhân viên hải quan và cơ quan xuất nhập cảnh ngày nay.
Thái Dương, Cự Môn, Thiên Hình cùng hội hợp là chức vị cai quản về hình pháp. Thái Dương, Thiên Lương, Thiên Hình cùng hội hợp, thấy các sao sát kị, thì ý tượng là quan cai quản về kiện tụng.
Tử Vi gặp Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hoặc đồng độ với Tham Lang ở hai cung Mão hoặc Dậu, thì ưa thấy Thiên Hình, không phải là "Đào hoa phạm chủ", có thể tự kiềm chế. "Vũ Khúc, Thất Sát" đồng cung với Kình Dương, có Thiên Hình đồng độ, cổ nhân nói là "cầm khí cụ bén để kiếm tiền", như thợ cắt tóc, đồ tể; ứng ở thời hiện đại còn có thể là bác sĩ ngoại khoa, nha khoa.
Thiên Hình ở hai cung Sửu hoặc Mùi có sắc thái "cô khắc" (cô độc và hình khắc), bất lợi về lục thân.
Cung tật ách có Thiên Hình, lại có thêm các sao sát kị xung hội, thì ý tượng là lúc nhỏ dễ bị thương tổn hoặc dị tật bẩm sinh. Cung tật ách của lưu niên, đại vận mà thấy Thiên Hình, Kình Dương xung hội thì chủ về phải động tới phẫu thuật.
Thiên Diêu
Thiên Diêu thì ý tượng là đào hoa, có cơ hội gặp người hôn phối, hoặc chủ về mới gặp đã yêu. Các sao như Hàm Trì, Đại Hao, Mộc Dục có thể làm mạnh thêm thói xấu của Thiên Diêu, như hiếu sắc, trùng hôn, bệnh về tính dục. Hồng Loan, Thiên Hỉ thì có thể giảm nhẹ tật xấu của Thiên Diêu, có lúc chỉ chủ về được người khác giới ưa thích hay theo đuổi.
Thiên Diêu không ưa thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi; ý tượng là người này dễ quyến luyến chốn phong hoa tuyết nguyệt.
Văn Xương, Văn Khúc đồng độ với Thiên Diêu thì người này ắt có tính phong lưu; Văn Xương, Văn Khúc đồng độ với Thiên Hình thì có tính thiết thực.
Thiên Diêu gặp các sao sát kị sẽ làm mạnh thêm tính chất vì sắc mà chuốc họa; cần phải xem tính chất của tổ hợp chính diệu và ở cung nào mà định. Nếu ở cung tài bạch thì ý tượng là vì tửu sắc mà phá tài; ở cung điền trạch thì ý tượng là tổ nghiệp phá tán; ở cung phu thê thì ý tượng là trùng hôn hay tái giá; ở cung phúc đức thì ý tượng là tư tưởng thường hay rối loạn.
Thiên Diêu thủ cung thiên di, có cát tinh đồng độ, tổ hợp chính diệu cũng đẹp, thì ý tượng là lúc thiên di gặp nhiều cơ hội và được người ở tha hương trợ lực.
Thiên Diêu có Mộc Dục, Hàm Trì, Đại Hao đồng độ, lưu niên mà gặp chúng thì ý tượng là có tính chất khổ lụy vì đào hoa.
Thiên Mã trong Hà Lạc phái
Kẻ tự kiềm chế và người phóng túng đều ngồi yên một chỗ; còn con ngựa trời thì chỉ có ý nghĩa khi nó chạy.
Thiên Mã thuộc dương hỏa (bính hỏa), cai quản "lộc"; ý tượng là "dịch động". Có hai loại Thiên Mã, một là "Sinh Mã", hai là "Lưu Mã"; các thuyết còn nhiều tranh cãi, có phái chủ trương Thiên Mã chỉ có một loại dựa vào tháng sinh và năm sinh để định cung nó trú đóng.
Thiên Mã cai quản "lộc", cho nên chủ về "tiền tài", cũng chủ về thăng tiến, càng động càng có tiền; mà "dịch động" thì có hai thái độ: chủ động và bị động. Lúc Thiên Mã có các sao khác đồng cung sẽ có các tên gọi khác nhau như sau:
Có Lộc Tồn đồng cung: "Lộc Mã giao trì".
Có "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng cung: "Phù dư mã" (ngựa kéo xe).
Có Hỏa Tinh đồng cung: "Chiến mã".
Có Kình Dương đồng cung: "Phụ thi mã" (ngựa chở thây ma).
Có Đà La đồng cung: "Chiết túc mã" (ngựa gãy chân).
Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung: "Mã thất tiền đề" (ngựa mất móng trước).
Trên đây là những tên gọi mở rộng chức năng của Thiên Mã, trong đó Lộc Tồn, Tử Vi, Thiên Phủ gặp Thiên Mã là khá có ý nghĩa. Vì Lộc Tồn bị Kình Dương, Đà La giáp cung, lấy Thiên Mã để dẫn động thì Lộc Tồn không tới nỗi bị khống chế hoàn toàn, cũng chủ về có cơ hội "dịch động"; còn Tử Vi, Thiên Phủ là tinh diệu rất có trọng lượng, có lực hành động. Thường thấy Tử Vi, Thiên Phủ hành động chậm chạp; nếu có Thiên Mã đồng cung thì tăng nhanh lực hành động. Còn liên quan tới "Phụ thi mã", v.v… phần nhiều là có ý nghĩa vất vả và bôn ba, hoặc làm nhiều mà chẳng hưởng được bao nhiêu!
Thời xưa giao thông không tiện lợi, xuất hành đi xa là một đại sự; đi bộ hay đi xe, thuyền thì thời gian đều kéo dài, phải tính toán, lo nghĩ nhiều về vấn đề an nguy, cho nên đối với vấn đề hung cát của Thiên Mã, mức độ thuận lợi rất là quan trọng. Ở thời hiện đại giao thông tiện lợi, "dịch động" của ngày ngày đi làm là chuyện bình thường, cho nên hiệu năng của Thiên Mã không còn quan trọng như trước.
Lộc Tồn trong Hà Lạc phái
Ngựa chạy thì cần có lộc để mang theo; kho lộc ấy đứng ngay chỗ con ngựa trời dừng chân.
Lộc Tồn là kỉ thổ, thuộc âm; đây là sao thuộc tinh hệ Bắc Đẩu, hóa khí làm "phú", là thần bổng lộc, là sao cai quản lợi lộc, có thể chế hóa, giải nguy, cũng là một sao quý nhân; là người tâm tính thẳng thắn, thông minh, học rộng đa năng, tướng mạo đầy đặn, vững vàng, thanh tú, có bản tính chịu khổ chịu cực để làm giàu.
Lộc Tồn là sao "chính tài", nên vào cung mệnh hoặc cung tài bạch thì ý tượng là có tiền tài.
Lộc Tồn vào cung điền trạch thì ý tượng là gây dựng cơ nghiệp.
Lộc Tồn vào cung phụ mẫu chủ về sống thọ, tuổi già có tiền, cha mẹ phần nhiều là người vất vả.
Lộc Tồn không nên vào các cung lục thân; ý tượng là khá vô duyên với người thân, dễ xảy ra tranh chấp.
Lộc Tồn vào cung tật ách thì ý tượng là tuổi trẻ cơ thể hư nhược, nhiều bệnh.
Lộc Tồn gặp Hóa Lộc thì ý tượng là tiền tới từ đâu.
Lộc Tồn gặp Hóa Kị thì ý tượng là tiền dùng vào chỗ nào.
Âm Sát trong Hà Lạc phái
Lộc đến từ đâu, lộc đi về đâu đã rõ; cuối cùng là một cái bóng tiểu nhân nấp trong cung dương.
Âm Sát trong tôn giáo là ma quỷ; ở vận số thì chủ về phạm họa tiểu nhân, bị họa tiểu nhân tiềm phục. Nó chỉ ở sáu cung dương Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Âm Sát vào cung mệnh hay cung thân thì chủ về đa nghi, đố kị, có âm mưu hại người, ưa khơi lên thị phi, cuộc đời dễ chuốc đố kị. Gặp thêm Kình Dương, Đà La thì tâm tính âm trầm độc địa, ưa lén làm chuyện xấu.
Âm Sát ưa gặp các sao Địa Không, Địa Kiếp để xung tán nó. Người lúc đang đắc ý, vui vẻ thường sẽ có tâm trạng kiêu ngạo, tự đại, buông thả, thỏa mãn, khiến sự nghiệp dễ lâm vào cảnh đình đốn; nếu có Âm Sát xung kích sẽ khiến mệnh tạo cảnh giác, thận trọng hơn, hoặc có thể khích lệ bản thân, giảm bớt tai họa.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
