Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Hai mươi lăm sao hiếm muộn con và chuyện con nuôi

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202617 phút đọc2 lượt đọc
Hai mươi lăm sao hiếm muộn con và chuyện con nuôi

Trong tổng số 111 ngôi sao, có đến 25 ngôi mang nghĩa hiếm muộn, gần một phần tư cả bầu trời Tử Vi. Người xưa lo cho dòng giống đến mức ấy, đến mức lấy vợ bé cho chồng để có con nối dõi. Nhưng hiếm muộn hóa ra không chỉ là chuyện không có con, và lá số còn kể được cả chuyện con nuôi…


Quan niệm hiếm muộn trong khoa Tử Vi

Khoa Tử Vi không xem cung Tử là quan trọng. Những điều liên quan đến con cái chỉ được khoa Tử Vi chú ý một cách thông thường. Có lẽ vì khoa này quan tâm đến cá nhân con người nhiều hơn, cho nên chỉ xem con cái như chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến hạnh phúc cá nhân.

Riêng phạm vi Tử Tức, khoa Tử Vi lưu tâm đến sự hiếm muộn nhiều nhất. Mối quan tâm này có lẽ bắt nguồn từ quan niệm nho giáo về gia đình, cho rằng nhà nào đông con, đặc biệt là nhiều con trai thì có phúc lớn. Cho nên, khoa Tử Vi có rất nhiều sao hiếm muộn, tính ra có đến 25 ngôi trong tổng số 111 sao, chiếm tỷ lệ gần một phần tư.

Tuy nhiên, khoa Tử Vi rất hời hợt trong việc định nghĩa hiếm muộn, cũng rất sơ sài trong việc nêu lên hình thái của sự hiếm muộn. Nếu phân tích ý nghĩa các sao hiếm muộn, ta có thể phân biệt những nguyên nhân sau đây:

  • Do tình trạng máu và sinh dục của phụ nữ
  • Do số sát con của phái nam hay nữ
  • Do sự cố ý phá thai

Mặt khác, tưởng cũng cần nêu lên nội dung danh từ “hiếm muộn” được dùng ở đây. Danh từ này được hiểu theo một nghĩa rất rộng rãi, bao hàm:

  • Sự hiếm con, tức là ít con hay ít con trai, không con hay không có con trai;
  • Sự chậm con, nhất là chậm con trai;
  • Sự sát con, do sự yếu tử của bào thai, của đứa bé, hoặc do sự phá thai;
  • Tình trạng cô độc dù là có con, chẳng hạn như trường hợp con hoang đàng bỏ nhà ra đi, cha mẹ không nhờ vả được, làm cho hạnh phúc gia đình, đặc biệt là sự đoàn tụ gia đình bị ảnh hưởng.

Sở dĩ phải hiểu theo lối nghĩ này là vì trên lá số Tử Vi, các hình thức đó được thể hiện bằng những sao tương tự ở cung Tử, khiến cho các cung Tử của các hình thái đó na ná nhau. Cung Tử của kẻ tuyệt tự hao hao giống cung Tử của kẻ sát con.

Trên cơ sở 4 ý nghĩa bao quát này, gia đình nào không hiếm muộn sẽ có:

  • Nhiều con, nhất là nhiều trai
  • Sớm có con, nhất là sớm có trai
  • Con nuôi được đầy đủ
  • Con cái đề huề, đoàn tụ

Ngoài ra, ta nên hiểu và nên xét tình trạng hiếm muộn nói trên trong khuôn khổ của cung Phúc đức. Cung Tử cũng như các cung khác trong lá số bao giờ cũng là hàm số của cung Phúc. Nếu cung Tử xấu mà cung Phúc tốt thì sự hiếm muộn bị giảm thiểu.

Cách hiếm muộn qua các cung

Sự hiếm muộn hiện rõ nhất ở cung Tử, nhưng những cung kề bên vẫn đứng sau lưng, khi thì soi sáng thêm, khi thì làm người ta nhầm lẫn.

Thông thường cách hiếm muộn được biểu thị trực tiếp trong cung Tử Tức. Còn các cung khác như Phúc, Mệnh, Thân chỉ cung cấp yếu tố bổ túc mà thôi.

Về phương diện Tử Tức, rất khó quyết đoán sự liên quan giữa các cung Phúc, Mệnh, Thân với cung Tử Tức. Vì vậy, việc kê khai các cung liên hệ ở đây chỉ để ghi nhớ là để xác định.

Chỉ có thể nói chung rằng cung Phúc, Mệnh, Thân tránh né các sao hiếm muộn càng nhiều càng tốt. Mặt khác, ba cung này phải có nhiều sao có lợi cho sự sinh nở càng nhiều càng hay.

Những sao hiếm muộn cũng như những sao có lợi cho sự sinh sản đều được liệt kê trong những mục dưới đây. Còn riêng mục này chỉ đề cập một cách đơn sơ cách hiếm muộn qua các cung nói trên để gợi ý.

Cung Phúc

Sao hiếm muộn càng hội chiếu và nhất là càng tọa, thủ tại cung Phúc nhiều chừng nào thì càng hiếm con.

Vì sự hiếm hoi nằm ở cung Phúc cho nên có thể suy luận rộng ra rằng tình trạng hiếm muộn này có dòng, nghĩa là ông bà cha mẹ vốn ít con trai và sự hiếm hoi đó đến đời mình. Có thể, trên phương diện sinh học và y học, điều này không chính xác, song trên phương diện luận lý của Tử Vi học thì phải kết luận như thế. Khía cạnh này cho thấy rất khó giải đoán về sự hiếm muộn từ cung Phúc mà khỏi rơi vào võ đoán.

Cung Mệnh, cung Thân

Những sao hiếm muộn ở Mệnh, Thân thật sự không giúp kết luận trực tiếp và chính xác vấn đề hiếm muộn. Ví dụ như các sao có độc: Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân nếu đóng ở cung Tử thì có nghĩa hiếm muộn, nhưng nếu đóng ở cung Mệnh, cung Thân thì chưa hẳn mang ý nghĩa đó mà có thể chỉ có nghĩa là ít giao thiệp, ít bạn bè hay chậm tình duyên mà thôi.

Do đó, những kết luận về hiếm muộn từ các sao liên quan ở 2 cung Mệnh, Thân rất dễ sai lầm.

Cung Tử

Chung quy chỉ còn có cung Tử là cung phản ảnh khá rõ rệt tình trạng hiếm muộn. Trong thực tế, vấn đề này cũng còn đòi hỏi những cân nhắc cẩn thận vì trong cung Tử, thường lẫn lộn sao hiếm con với sao có con. Thông thường, người giải đoán có xu hướng cân nhắc số lượng hai loại sao để kết luận. Thiết tưởng thể thức này xét ra không mấy ổn, vì còn phải tính phẩm chất, cường độ của các sao. Trên thực tế, không thể đề ra một quy tắc nào rõ rệt để làm khuôn thước áp dụng chung. Đây là một lượng giá trên thực trạng, tùy thuộc vào sự linh mẫn của người giải đoán.

Dù sao, cũng cần biết mặt các sao hiếm muộn để cân phân.

Cách hiếm muộn qua các sao

Trong cung Tử có sao nói con thưa, sao nói con khó nuôi, sao nói con đi xa không về. Mỗi sao kể một mảnh của cùng một nỗi hiếm hoi.

Các chính tinh ở cung Tử

Trong số các chính tinh, có một số sao có ý nghĩa hiếm muộn nặng nề hơn những sao khác. Đó là:

Vũ khúc. Dù đắc địa hay hãm địa, Vũ Khúc chỉ sự cô độc, ít ỏi. Ở thế hãm địa, con sinh ra càng khó nuôi và tốn kém lúc nuôi dưỡng. Ý nghĩa hiếm muộn càng rõ rệt hơn nếu Vũ nằm ở cung Tử của nữ số.

Đi với Thất Sát thì càng ít con hơn, khả dĩ tuyệt tự. Nếu có thì con cũng có tật hoặc hoang đàng cha mẹ không nhờ vả được.

Dù đi với Thiên Tướng cũng còn hiếm con.

Đi với Phá Quân, may ra được 2 con, nhưng có thể không có trai, vì Vũ và Phá là Bắc đẩu.

Thất Sát ở Thìn, Tuất. Số con rất hiếm, con lại mang bệnh tật hoặc hoang đàng. Nếu ở Tý, Ngọ, nhiều lắm là được 2 người, có thể có 1 trai.

Đi với Liêm Trinh, ý nghĩa tương tự.

Tham Lang ở Tý, Ngọ. Con hữu sinh vô dưỡng và rất ít, đặc biệt có thể không con trai. Ngoài ra, con lớn lên thường bất mục, khó dạy.

Phá Quân. Sao này cũng hiếm con, hữu sinh vô dưỡng, lại hình khắc với cha mẹ, dù Phá tọa thủ ở cung nào cũng vậy.

Đặc biệt đi với Liêm Trinh ý nghĩa cũng tương tự.

Thiên đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi. Hiếm con và khó nuôi con, may mắn thì có 1 con, ở Tỵ, Hợi thì có 2, nhưng sau này tha phương cầu thực, hoang đàng.

Đồng cung với Nguyệt ở Ngọ cũng hiếm, vì ở Ngọ cả 2 sao đều hãm. Nếu là nữ số, sự hiếm muộn này bắt nguồn từ khí huyết suy nhược.

Số con và tình trạng hữu sinh, hữu dưỡng của các con kể trên căn cứ vào những chính tinh xét riêng rẽ. Trên thực tế còn phải cân nhắc thêm với phụ tinh nữa để giảm chế một lần nữa.

Các phụ tinh ở cung Tử

Địa không, Địa kiếp. Kình dương, Đà la. Hỏa tinh, Linh tinh hay Tuần, Triệt đồng cung.

Cung Tử gặp những sao sát này hãm địa thì ít con, sát con rất nặng, khả dĩ đi đến tuyệt tự, nếu gặp nhiều sao trong số 6 sát tinh này.

Ngoài ra, còn có nghĩa là con du đãng, ăn hại, phá hoại, hoặc bị bệnh tật nặng, khó nuôi, làm hao tán tài lực của cha mẹ.

Cho dù ở vị trí đắc địa cũng hiếm muộn và con không hiền đạt, bất hiếu.

Tang môn, Bạch hổ. Trường hợp này báo hiệu con yếu tử, chết trước cha mẹ và chết trẻ. Nếu gặp sát tinh kể trên thì phụ mẫu gặp tang tóc triền miên, hay ít nhất phải đau khổ và bệnh hoạn của con cái, có thể do sự sinh non, sinh thiếu tháng mà ra.

Đại hao, Tiểu hao. Hai sao này chỉ hao con, sinh nhiều nuôi ít, hoặc vì con bệnh hoạn khó nuôi làm hao tiền tốn của cha mẹ, hoặc con chơi bời phá sản phụ mẫu.

Thiên khốc, Thiên hư. Cũng chỉ tình trạng khó nuôi, chậm con, sinh nhiều nuôi ít. Con dễ bị bệnh hoạn triền miên, do đó cha mẹ khổ nhọc vô cùng trong việc nuôi nấng.

Thiên hình. Sát con, hoặc con sinh ra bị tật nguyền khó chữa, thiếu bộ phận, hoặc có bộ phận lệch lạc. Ngoài ra còn có nghĩa sát con và muộn con. Gặp sát tinh dễ tuyệt tự.

Hóa kỵ hoặc Tử. Không có số nuôi con, không có số ở chung với con cái, hoặc chậm con. Các con lớn lên cũng bất hòa với nhau hay xung khắc với cha mẹ.

Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân. Ba sao này điển hình cho sự hiếm muộn, có thể đi đến tuyệt tự, nếu hội đủ ở 3 cung Tử. Nếu không, cha mẹ không ở chung với con cái vì con ly tán tha phương cầu thực, cha mẹ phải chịu cảnh cô độc trước tuổi già.

Lộc Tồn hay Phi Liêm. Chỉ sự chậm con hay muộn, ít con. Riêng Lộc Tồn gặp thêm sao hiếm muộn khác thường dễ bị tuyệt dòng.

Bệnh, Suy, Tuyệt. Ở cung Tử, những sao này chỉ sự đau yếu, suy nhược của con cái, hoặc sự suy nhược khả năng thụ thai của người mẹ có hại cho sự kết tinh, sự sinh nở. Riêng sao Tuyệt còn báo hiệu con bị mù.

Tùy theo sự hội tụ nhiều ít ở cung Tử, các sao trên sẽ giúp đánh giá mức độ hiếm muộn. Ý nghĩa tuyệt tự càng rõ rệt hơn nếu tại cung Tử có những sao nghĩa Tử dưới đây:

Dưỡng. Sao này chỉ sự chăm nuôi con cái một cách tận tụy, đồng thời cũng có nghĩa là lập con nuôi.

Ân quang, Thiên quý. Có thể có dưỡng tử làm phúc. Không hoàn toàn có nghĩa tuyệt tự mà phải lập con nuôi. Nếu lập con nuôi thì con nuôi rất hiếu lễ.

Thái âm, Hỏa, Thai. Có con cầu tự.

Ngoài ra, sự hiếm muộn còn có thể bắt nguồn từ sự hư thai, phá thai được mô tả bởi những bộ sao dưới đây.

Thai, Không, Kiếp. Bộ sao này chỉ sự phá thai vì Không, Kiếp là những hành động tàn bạo đối với bào thai.

Thai, Bạch hổ, Quan đới. Đây cũng là trường hợp phá thai. Bạch hổ chỉ cái chết (cũng như Tang môn). Quan đới chỉ cái chết không tự nhiên. Nếu có thêm sát tinh thì càng chắc chắn phá thai.

Thai, Hóa kỵ hay Bạch hổ. Đây là trường hợp hư thai, nếu đi với Hóa kỵ có thể là vì dùng thuốc hay vật thực kỵ thai. Đi với Hổ, có nghĩa là bào thai ra máu, có thể sinh non.

Thai, Tuần, Triệt. Bộ sao này có thể có nghĩa là ngừa thai, phá thai, hoặc con chết trước khi sinh, hoặc con sinh khó, có di lụy đến hình thù đứa bé.

Thai, Thất Sát. Bị hư thai sẩy thai.

Mộc dục, Tang môn, Địa kiếp. Thường sinh con thiếu tháng, hoặc thiếu hoặc dư bộ phận.

Thai, Hỏa, Linh. Có thể bị động thai, sinh thiếu tháng, sau này trẻ bị ngớ ngẩn. Có thể là quái thai, sinh ra rồi chết.

Cách hiếm muộn con trai, con gái

Có nhà không thiếu con, chỉ thiếu con trai, và lá số cũng biết nói điều đó.

Khoa Tử Vi có chia chính tinh thành Nam đẩu và Bắc đẩu. Tại cung Tử Nam đẩu chỉ trai, Bắc đẩu chỉ gái. Nếu hiếm trai thì tại cung Tử có sao Bắc đẩu đơn thủ hay đồng cung.

Có 6 Bắc đẩu chỉ gái tại cung Tử:

  • Cự môn
  • Thái âm
  • Liêm trinh
  • Tham lang
  • Vũ khúc
  • Phá quân

Có 7 Nam đẩu chỉ trai:

  • Thiên phủ
  • Thiên tướng
  • Thiên lương
  • Thiên đồng
  • Thiên cơ
  • Thái dương
  • Thất sát

Mặc dù vậy, sự hiện diện của Bắc đẩu ở cung Tử chỉ có nghĩa là có nhiều gái hơn trai. Sự có mặt ở Nam đẩu có nghĩa là con trai nhiều hơn con gái.

Trong trường hợp Nam Bắc đẩu đồng cung thì phải tính âm dương tính của cung Tử. Nếu cung Tử là Dương cung thì trai nhiều hơn gái, nếu là Âm cung thì gái nhiều hơn trai.

Riêng sao Tử Vi thì thuộc cả Nam đẩu lẫn Bắc đẩu. Điều này không có nghĩa là con lại cái. Nếu Tử Vi đi với Nam đẩu ở cung Tử thì trai nhiều hơn gái. Nếu đồng cung với Bắc đẩu thì gái nhiều hơn trai, hoặc trai gái bằng nhau.

Các trường hợp trên chỉ diễn tả sự hơn kém giữa con trai và con gái chớ chưa giúp quyết đoán sinh con trai hay con gái vào thời hạn nào nhất định. Muốn biết chắc điểm này phải tính cung Hạn: có Nam đẩu đơn thủ thì sinh con trai, có Bắc đẩu thì sinh con gái. Nếu tiểu hạn rơi vào cung có cả Nam Bắc đẩu đồng cung thì tính theo âm, dương của cung: nếu cung Tiểu hạn là dương thì sinh trai, là âm thì sinh gái.

Trong trường hợp cung Tử vô chính diệu thì dùng chính tinh xung chiếu làm tiêu chuẩn tính trai gái. Nếu cung xung chiếu có cả Nam Bắc đẩu tinh lẫn lộn thì lấy cung Tử (âm cung hay Dương cung) mà đoán trai gái. Vào hạn sinh nở, gặp cung tiểu hạn vô chính diệu thì cũng theo thể thức đó.

Có điều cần lưu ý là việc đoán trai, gái hay nhiều trai gái không căn cứ trên âm dương tính của sao, mà chỉ căn cứ trên Nam, Bắc đẩu tinh của sao và âm dương tính của cung Tử hay cung hạn. Không thấy sách vở nào nói đến trường hợp phải căn cứ vào Nam Bắc đẩu tinh của phụ tinh để tính trai gái. Riêng Tuần hay Triệt ở tiểu hạn làm đảo lộn ý nghĩa: gặp Nam đẩu là gái, Bắc đẩu là trai.

Vấn đề có con với vợ lẽ, nhân tình

Cái hiếm muộn của cung Tử chỉ đúng với vợ chồng chính thức. Còn nếu người đàn ông có nơi khác, lá số kể một chuyện khác.

Những cách hiếm muộn kể trên là cách hiếm muộn của vợ chồng chính thức, hoặc bắt nguồn từ người chồng hoặc người vợ. Trong trường hợp chồng có vợ lẽ hay nhân tình (hoặc giả người vợ ngoại tình) chưa chắc cách hiếm muộn trên xảy ra. Chính vì căn cứ trên niềm tin này mà ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, có tục lệ lấy vợ bé cho chồng để có con nối dõi. Lẽ dĩ nhiên, không có vấn đề chồng gả vợ chính thức của mình cho người khác.

Về điểm này, Thái Thứ Lang trong quyển Tử Vi đẩu số cho rằng:

Cung tử tức có nhiều sao mờ ám, xấu xa hội hợp; nhưng nếu xem 3 cung hội chiếu vào cung Phúc, Mệnh, Thân, thấy có nhiều sao sáng sủa, tốt đẹp hội hợp, như vậy vợ lẽ tất sinh được nhiều con. Con lại dễ nuôi và sau này cũng khá giả.

Có thể nhận định này là đúng trên phương diện lý người của khoa Tử Vi, mặc dù có phần đi ngược với định chế pháp luật hiện hành về việc cấm chế độ đa thê và cuộc sống ngoài hôn nhân. Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam trước đây, việc lấy lẽ để tìm con nối dõi là một tập tục. Tập tục này hiện đã phạm vào cấm chỉ của pháp. Nhưng ở đây, chúng ta không xét vấn đề pháp lý, chỉ xét vấn đề tuyệt tự hay không tuyệt tự. Đứa con với vợ lẽ hay nhân tình hiển nhiên không phải là đứa con trên pháp lý mà là đứa con trên huyết thống. Trong trường hợp có con ngoại hôn như thế, những cách tuyệt tự ở cung Tử sẽ không còn giá trị thực tế.

Khoa Tử Vi có ghi nhận nhiều trường hợp về con dị bào qua những bộ sao dưới đây đóng hay chiếu vào cung Tử, hoặc cung Nô cũng có thể được.

  • Thiên tướng, Tuyệt
  • Thái âm, Thiên phúc
  • Cự môn, Thiên cơ đồng cung
  • Phục binh, Tướng quân
  • Thai, Đế vượng hay Thai, Tả, Hữu

Sáu bộ sao này coi như phủ nhận tình trạng tuyệt tự. Nếu cung Tử có một trong sáu bộ đó đóng ở cung dương thì con cùng cha khác mẹ, nếu đóng ở cung âm thì cùng mẹ khác cha. Với cung Nô cũng vậy.

Vấn đề con nuôi

Khi dòng máu không nối được, người xưa vẫn nối bằng lòng nhân, và lá số cũng có sao ghi nhận điều ấy.

Con nuôi ở đây là con khác dòng máu của cả cha lẫn mẹ, chớ không phải con riêng của cha hay mẹ được mang về nuôi chung với con ruột. Không cần gì phải tuyệt tự mới lập con nuôi. Có gia đình có con cái đông mà vẫn nuôi con nuôi là phúc. Cho dù tuyệt tự mà lập con nuôi thì đây cũng là một cách tích phúc.

Vì lý do nhân đạo đó cho nên, trong cách con nuôi, tại cung Tử, đều có những sao phúc dưới đây:

  • Ân quang, Thiên quý
  • Thiên quan, Thiên phúc
  • Dưỡng

Có khi không cần phải hội đủ hai bộ sao. Riêng 2 sao Quang quý còn có nghĩa là con nuôi hiếu đễ.

Các sao này nằm trong cung Tử hiếm muộn càng xác nhận việc lập con nuôi.

Việc đoán trai hay gái trong số con nuôi rất khó và mơ hồ. Duy có thể căn cứ vào số trai hay số gái nhiều để đoán thử. Trong trường hợp cung Tử có trai nhiều thì con nuôi có thể là gái. Ngược lại là trai.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề