Bài tổng quan
Giờ sinh của con trẻ và vận đời đầu giữa cuối giờ
Đứa bé chào đời đúng giờ Ngọ của một tháng nào đó, và người lớn trong nhà đã bắt đầu đếm ngón tay. Người xưa tin rằng có những giờ trẻ hay khóc đêm, hay giật mình, hay ốm vặt, lại có những giờ định sẵn chuyện cha mẹ song toàn hay lìa sớm. Nhưng cùng một giờ Ngọ, đầu giờ và cuối giờ lại đọc khác nhau?
Những giờ sinh khiến trẻ hay đau ốm, giật mình, khóc đêm
Sách chia những giờ xấu cho trẻ mới sinh thành ba nhóm, mỗi nhóm một biểu hiện. Đứa trẻ sinh ra ngoài những giờ ấy thì theo lời sách là rất dễ nuôi, con trai con gái đều như nhau.
Giờ con sát: trẻ hay đau ốm bệnh tật
Tính theo tháng sinh: sinh tháng Giêng gặp giờ Tỵ, tháng Hai gặp giờ Ngọ, tháng Ba gặp giờ Mùi, tháng Tư gặp giờ Thân, tháng Năm gặp giờ Dậu, tháng Sáu gặp giờ Tuất, tháng Bảy gặp giờ Hợi, tháng Tám gặp giờ Tý, tháng Chín gặp giờ Sửu, tháng Mười gặp giờ Dần, tháng Mười Một gặp giờ Mẹo, tháng Mười Hai gặp giờ Thìn.
Giờ Diêm Vương: trẻ hay sợ sệt, giật mình
Tính theo mùa: sinh mùa xuân gặp giờ Sửu và giờ Mùi; mùa hạ gặp giờ Thìn và giờ Tuất; mùa thu gặp giờ Tý và giờ Ngọ; mùa đông gặp giờ Mẹo và giờ Dậu.
Giờ xấu khiến trẻ khóc đêm
Trẻ sinh vào những giờ này hay khóc vào ban đêm, người xưa gọi là khóc dạ đề: mùa xuân là giờ Ngọ, mùa hạ là giờ Dậu, mùa thu là giờ Tý, mùa đông là giờ Mẹo.
Cách tính mười hai giờ và chuyện đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ
Biết giờ xấu rồi thì phải biết giờ ấy bắt đầu và kết thúc lúc nào, nếu không thì đứa bé sinh sát ranh giới sẽ đọc thế nào?
Mười hai giờ theo địa chi chia như sau: giờ Tý từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng; giờ Sửu từ một đến ba giờ sáng; giờ Dần từ ba đến năm giờ sáng; giờ Mẹo từ năm đến bảy giờ sáng; giờ Thìn từ bảy đến chín giờ sáng; giờ Tỵ từ chín đến mười một giờ trưa; giờ Ngọ từ mười một giờ trưa đến một giờ chiều; giờ Mùi từ một đến ba giờ chiều; giờ Thân từ ba đến năm giờ chiều; giờ Dậu từ năm đến bảy giờ tối; giờ Tuất từ bảy đến chín giờ tối; giờ Hợi từ chín đến mười một giờ đêm.
Như vậy mỗi giờ địa chi dài hai tiếng đồng hồ, hai mươi bốn giờ đồng hồ chia cho mười hai giờ địa chi. Sách ghi thêm các mốc giữa giờ: sáu giờ sáng là giữa giờ Mẹo, mười hai giờ trưa là giữa giờ Ngọ, hai giờ trưa là giữa giờ Mùi, bốn giờ chiều là giữa giờ Thân, sáu giờ chiều là giữa giờ Dậu, tám giờ tối là giữa giờ Tuất, mười giờ đêm là giữa giờ Hợi, mười hai giờ đêm là giữa giờ Tý, hai giờ đêm là giữa giờ Sửu, bốn giờ khuya là giữa giờ Dần. Những mốc kế nhau chính là chỗ cuối giờ này giáp đầu giờ kia.
Sinh giờ nào thì sang hèn ra sao
Mỗi giờ sinh chia ba phần đầu, giữa và cuối, và mỗi phần một số phận riêng.
Sách viết phần này bằng vần thơ ngắn, nam nữ xem chung. Mỗi đoạn cho biết cha mẹ còn đủ hay khuyết, anh em thân sơ, tính tình, tiền vận và hậu vận. Giờ Tý và giờ Thân chỉ có hai đoạn đầu giờ và cuối giờ hoặc đầu giờ và giữa giờ, những đoạn còn lại bản sách không có.
Giờ Tý
Sinh đầu giờ Tý thì tính nóng vội, còn cha thì khắc mẹ, cũng khắc vợ, con cái không hợp với con trai, họ hàng xung khắc, thân phận trôi nổi nơi xứ người. Sinh cuối giờ Tý thì cha mẹ không được vẹn toàn, anh em ít, phải sống nhờ người dưng, số kiếp long đong, tình duyên phải hai lần mới nên.
Giờ Sửu
Đầu giờ Sửu, cha mẹ đủ đôi, anh em họ hàng đông, đến hai mươi tuổi thành người, văn võ song toàn tài ba hơn người. Giữa giờ Sửu, có cha có mẹ nhưng tuổi thơ cực khổ lao đao, anh em không nhờ được, phải gắng công một mình dựng nghiệp. Cuối giờ Sửu, còn mẹ thiếu cha, tuổi thơ cay đắng, đến bốn mươi tuổi mới có lộc, tuổi già mới thảnh thơi an nhàn.
Giờ Dần
Đầu giờ Dần, cha đã mất, tiền vận vất vả phải chờ vận sau, ngoài ba mươi tuổi mới lên, tuổi già hưởng đủ hiển vinh. Giữa giờ Dần, số giàu sang, ba mươi tuổi đã vẻ vang hơn người, anh em vui vẻ hòa thuận, gia môn yên ổn, con cháu sum vầy. Cuối giờ Dần, thiếu mẹ còn cha, tuổi thơ gian nan trăm bề, đến ba mươi sáu tuổi mới lập thân, vợ con có sớm nhưng rồi như không.
Giờ Mẹo
Đầu giờ Mẹo, đủ cha mẹ, tính ngay thẳng hiền lương, hưởng giàu sang, ba mươi hai tuổi công danh vang lừng. Giữa giờ Mẹo, chỉ còn cha, tính nông nổi khó nên việc, anh em lạnh nhạt bất hòa, tình duyên trắc trở nhiều lần mới nên. Cuối giờ Mẹo, vắng cả cha mẹ, ngược xuôi vất vả gian nan, về sau có tài có lộc, vợ con sum họp, tuổi già thảnh thơi.
Giờ Thìn
Đầu giờ Thìn, còn đủ cha mẹ, tính nóng nảy nên việc nhà chẳng xong, anh em chẳng khác người dưng, tuổi thơ đau khổ, sau này mới nên. Giữa giờ Thìn, còn mẹ khắc cha, có nhiều bạn quý gây dựng gia đình, tuổi thơ lưu lạc nhiều phen, về già mới hưởng thảnh thơi. Cuối giờ Thìn, có cha có mẹ, thông minh, việc làm đều thành công, bạn bè tốt đông, gia đình êm ấm, tiền bạc dư dả.
Giờ Tỵ
Đầu giờ Tỵ, chỉ còn cha, tuổi thơ vất vả không người giúp, hậu vận gặp điều tốt lành, vợ chồng con cái yên vui giàu sang. Giữa giờ Tỵ, còn mẹ khắc cha, tiền bạc dư dả, nhà cửa giàu sang, họ hàng đông, một nhà sum họp con cháu đầy đàn. Cuối giờ Tỵ, còn mẹ thiếu cha, tuổi xanh gian khổ chẳng biết cậy ai, anh em thân thuộc dửng dưng, về già mới hanh thông, nhàn hạ.
Giờ Ngọ
Đầu giờ Ngọ, mất cả cha lẫn mẹ nhưng anh em thân thuộc thuận hòa, gia đình giàu sang hanh thông, đông con nhiều cháu yên vui. Giữa giờ Ngọ, cha mẹ đủ đôi, tuổi thơ túng thiếu nhục nhằn, ngoài ba mươi tuổi mới nên, vợ chồng hòa hiệp đến bạc đầu. Cuối giờ Ngọ, còn mẹ thiếu cha, hôn nhân chậm trễ mới hay, sinh con đầu lòng chưa yên, về sau gia đình mới hòa vui.
Giờ Mùi
Đầu giờ Mùi, đủ cha mẹ, có thanh danh lại thêm giàu sang, anh em hòa thuận giúp nhau, gặp may hưởng phước trời cho suốt đời. Giữa giờ Mùi, thiếu mẹ còn cha, tính rộng lượng được người mến thương, hôn nhân và con cái đều muộn, tuổi già hưởng thanh nhàn. Cuối giờ Mùi, mất cả cha mẹ, anh em lạnh nhạt như người dưng, tuổi thơ vất vả gian lao, vận sau thành đạt, nhà cửa yên vui.
Giờ Thân
Đầu giờ Thân, cha mẹ song toàn, thông minh sáng suốt, tính hiền lương, anh em đều giàu sang, hưởng phước trời, của chất đầy kho. Giữa giờ Thân, còn mẹ thiếu cha, bà con thân thích cũng như người dưng, con cái phá hại gia cang, ngược xuôi buôn bán, kiếp này gian nan.
Giờ Dậu
Đầu giờ Dậu, còn đủ cha mẹ, thông minh gặp bạn bè hiền lương, anh em thân thích cậy trông được, giàu sang hạnh phúc, con cháu sum vầy. Giữa giờ Dậu, mẹ khắc cha, tính nóng nảy hay giận hờn, lúc đầu khắc cả mẹ lẫn con, về sau cũng có ngày dựng nên. Cuối giờ Dậu, khắc cả cha lẫn mẹ, phải tha phương lập nghiệp mới nên cửa nhà, tiền vận vất vả gian truân, hậu vận buôn bán giàu sang.
Giờ Tuất
Đầu giờ Tuất, chẳng phải lo về cha mẹ, một tay lập nghiệp mới nên, có danh có tướng giàu sang, tiền vận khó nhọc, hậu vận thanh nhàn. Giữa giờ Tuất, thuận mẹ khắc cha, anh em chẳng sống cùng, như người dưng, vợ chồng khắc đứa con đầu, ngoài ba mươi tuổi trở đi mới làm giàu. Cuối giờ Tuất, tính nóng nảy nhưng hay thương người, anh em chỉ có ba người, gia đình sum họp yên vui.
Giờ Hợi
Đầu giờ Hợi, mẹ sớm lìa đời, cùng anh em gian nan vất vả, tiền vận chẳng an vui, đến cuối đời mới thảnh thơi. Giữa giờ Hợi, tính hiên ngang, thông minh tài giỏi, nghiệp nhà làm nên, anh em hòa thuận vui tươi, gia đình sum họp nhờ phước trời ban. Cuối giờ Hợi, khắc mẹ thuận cha, tính quảng đại hay giúp người, thuở nhỏ vất vả, tuổi già mới được vinh hoa cả đời.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
