Bài tổng quan
Cốt yếu của Mệnh số, bảng Trường Sinh và cách phân hạng Mệnh
Sáu cung Thân, Mệnh, Thiên Di, Tài, Quan, Phúc cùng nhập miếu thì cao thọ vinh hiển; cùng hãm địa thì yểu triết cô bần. Người xưa còn chia người ta thành chín bậc, từ bậc hoàng đế đến kẻ bôn tẩu bần cùng. Sao và số, hai thước đo ấy khớp nhau ra sao…
Xem Nạp Âm, Tài Bạch và Tài Phúc
Nạp âm Mộ khố khán hà cung?
Như người sinh Thủy Mệnh, Khố là cung Thìn, có Tài Quan ở đó, hoặc Lộc Tồn lại càng tốt hơn. Nếu cung Thiên Di ở đó lại phùng Hao Sát là bất mỹ. Tuyệt: Tuyệt địa. Trường Sinh: sinh địa. Mộc Dục: bại địa. Đế Vượng: vượng địa.
Bảng Trường Sinh, tính theo hành của Mệnh:
| Cung | Kim | Mộc | Hỏa | Thủy Thổ |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Tử | Mộc dục | Thai | Đế vượng |
| Sửu | Mộ | Quan đới | Dưỡng | Suy |
| Dần | Tuyệt | Lâm quan | Sinh | Bệnh |
| Mão | Thai | Đế vượng | Mộc dục | Tử |
| Thìn | Dưỡng | Suy | Quan đới | Mộ |
| Tị | Trường sinh | Bệnh | Lâm quan | Tuyệt |
| Ngọ | Mộc dục | Tử | Đế vượng | Thai |
| Mùi | Quan đới | Mộ | Suy | Dưỡng |
| Thân | Lâm quan | Tuyệt | Bệnh | Sinh |
| Dậu | Đế vượng | Thai | Tử | Mộc dục |
| Tuất | Suy | Dưỡng | Mộ | Quan đới |
| Hợi | Bệnh | Sinh | Tuyệt | Lâm quan |
Sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa.
Như Nạp âm theo năm sinh là Thủy Thổ thì Trường Sinh ở cung Giáp Thân (Thân thuộc Kim là chủ cung Thủy). Nếu an Mệnh ở cung Dậu là bại địa, lại gặp Dương Đà Kỵ Hao Thất Sát thì bất mỹ; được Lộc Tồn thì cũng được tốt nhưng không bền, như cái hoa sáng nở tối tàn.
Tuyệt sứ phùng sinh, hoa nhi bất hại.
Như người sinh Thủy Thổ Mệnh, Tuyệt tại cung Tị, an Mệnh ở cung Tuyệt sứ, được Kim tinh tại Tị sinh Thủy, thành ra phương vị không bị Tuyệt, mỏng mảnh như cái hoa mà không bị tàn tạ.
Cung Tài Bạch và cung Tài Phúc
Nhật Nguyệt giáp Tài gia cát diệu, bất quý tắc phú.
Như cung Tài Bạch tại cung Mùi, có sao Thiên Phủ ở đó, Nhật ở cung Ngọ, Nguyệt ở cung Thân giáp Tài, thì không quý ắt đại phú.
Tả Hữu Tài cung kiêm giáp củng, y lộc phong long.
Như Tả Hữu cùng ở cung Tài Bạch tại Sửu, cung Nhật ở cung Dần, Nguyệt ở cung Tý giáp Tài Bạch, là tài lộc nhiều.
Tử Vi Phụ Bật đa vi tài phú chi quan.
Như cung Tài Trạch có Tử Vi tọa thủ ngộ Phụ Bật là người làm quan lớn về tài chính.
Vũ Khúc Thái Âm đa cư tài phú nhi nhậm.
Cung Tài, Trạch có Vũ Khúc gặp Thái Âm là đã có nhiều trách nhiệm về tiền tài, như số các ông chủ nhà băng.
Tử Phủ Vũ Khúc cư Tài Bạch, cánh kiêm Quyền Lộc, phú xa ông.
Cung Tài Bạch có Tử Phủ Vũ Khúc tại gia Quyền Lộc là số nhà đại phú.
Vũ Khúc Tham Lang Tài Trạch, hoạch phát tứ tài.
Cung Tài Trạch có Tham Vũ là số người có tài lợi hoạch phát, tự nhiên có ở đâu mang lại, như các nghề tự do: kiến trúc sư, luật sư, bác sĩ, họa sĩ. Cách trên chỉ kỵ Không vong, không nên gặp.
Lộc Tồn thủ ư Tài Trạch, mai kim tích ngọc.
Cung Tài Trạch có Lộc Tồn tọa thủ là người giàu có, vàng chôn ngọc cất.
Quyền Lộc thủ Tài Phúc chi vị, xuất thế vinh hoa.
Cung Tài Bạch, Phúc Đức có Quyền Lộc tọa thủ, là người vinh hiển hơn đời.
Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương, sinh lai bần tiện.
Cung Tài Bạch, Phúc Đức có Kiếp Không tọa thủ là người sinh ra đã bần tiện.
Cốt yếu của Mệnh số và cách phân hạng Mệnh
Mỗi cung có cách của nó, nhưng muốn luận một lá số phải theo thứ tự, từ Mệnh, Thân cho tới sáu cung cần thiết.
Cốt yếu của Mệnh số.
Xem Thân Mệnh Lộc Mã không bị lạc vào Không vong: Thiên Không; thứ nhì là lạc vào Tuần Không; rất nguy là lạc vào Triệt Không.
Trước hết phải xem cung Mệnh những sao tọa thủ cát hung, miếu vượng hay lạc hãm, Kỵ Sát sinh khắc thế nào? Sau đến cung Thân cũng xem như cung Mệnh ở trên.
Thứ ba xem đến những cung xung hợp Mệnh là Thiên Di, Tài Bạch, Quan Lộc, ba phương chiếu lại, hình xung khắc hại thế nào?
Thứ tư xem đến Phúc Đức, các sao Quyền Lộc, Kiếp Không miếu hãm thế nào? Lấy cung Tài Bạch đối chiếu cung Phúc Đức thế nào?
Sáu cung: Thân, Mệnh, Thiên Di, Tài, Quan, Phúc là sáu cung cần thiết. Nếu được nhập miếu tụ được cát tinh thì hóa cát, được phú quý vinh hiển cao thọ; nếu sáu cung ở vào hãm địa và có hung tinh hội lại, Kỵ khắc, thì yểu triết, cô bần; nếu người sinh giờ Mão Dậu thì xuất ngoại tốt hơn.
Cung Điền Trạch theo sau có cùng Tật Nguy (Giải Ách) và cung Phụ Mẫu, Thê, Tử, ba cung sau đều có Kiếp Không Sát Kỵ là Mệnh số người đi tu; nếu không thế thì bị cô độc bần cùng.
Nếu Mệnh vô chính diệu nhưng được cung Tài, Quan có cát tinh cũng chiếu thì cũng được phú quý song toàn, hoặc là con thứ mẫu sinh ra; nếu ba phương có hung tinh chiếu thì phải mang hai họ mới sống lâu, ly tổ xuất ngoại có thể thành cơ nghiệp.
Như cung Mệnh có chính diệu, có cát tinh miếu vượng, có Tam hóa, ba phương có cát tinh hội hợp là thượng thượng chi Mệnh. Như Mệnh vô chính diệu, ba phương có cát tinh chiếu lại là thượng thứ chi Mệnh. Như Mệnh có sao không cát không hung, hoặc cát hung tinh bằng nhau, như ba phương cũng chỉ có sao trung bình chiếu lại là trung cách.
Cung Mệnh tuy sao được nhập miếu vượng địa, nhưng ba phương chiếu lại có ác tinh thủ chiếu là phá cách. Cung Mệnh có sao bị lạc hãm, phản hội gia Dương Đà Kiếp Kỵ, thì được Lộc Tồn và hóa cát chiếu lại cũng là trung đẳng chi Mệnh.
Nếu Mệnh không có cát tinh lại bị phản chiếu như hung Sát Kỵ, không có Lộc lại lạc hãm là hạ đẳng chi Mệnh; nhưng ba phương có cát tinh chiếu lại thì có thể vào hàng trung đẳng, trước nhỏ sau to, cũng không được lâu, rồi sau cũng bị thành bại yểu triết.
Nếu an Mệnh ở vào cung hãm địa gia hung Sát Kỵ, ba phương lại hội với Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là hạ cách, bần tiện; mang hai họ thì sống lâu là nô bộc chi Mệnh; nếu không phải thì chết non hay lục súc chi Mệnh.
Luận Mệnh nhập cách
- Mệnh nhập cách (xem những cách ở trên) miếu vượng, tụ hội các sao tốt như Khoa Quyền Lộc là thượng thượng chi Mệnh.
- Không nhập miếu, gia cát hóa Khoa Quyền Lộc là thượng thứ chi Mệnh.
- Không nhập miếu, không gia cát tinh là bình thường chi Mệnh; nhập miếu không gia cát tinh là bình đẳng chi Mệnh.
- Nếu cư hãm địa lại gia Sát Kỵ là hạ đẳng chi Mệnh. Không phải cứ lấy sự nhập cách mà luận; nhập cách mà không hóa cát lại hóa hung lại là vô ích, vậy chỉ lấy bản Mệnh cát hung tinh nhiều ít mà đoán.
Luận cách của tinh số cao hạ
Mệnh đã có bậc thang, mà sao và số lại là hai thước đo riêng để phân hàng cao thấp giữa người với người.
Tinh là sao miếu hay lạc hãm. Số là Mệnh số đã luận ở trên. Sao Tử Phủ và số tương hợp thế nào? Ta phải hiểu thấu hết các cách cục, các Tinh và Số để có thể hòa với nhau mà quyết đoán đến cùng kỳ lý, thì hào ly cũng chẳng sai một mảy.
Biết rằng: Tử Vi là sao Nam Bắc Đẩu, là chủ các hàng tinh tú trong vũ trụ, mà Thiên Phủ làm chủ các sao Nam Đẩu, lại có Âm Dương hòa đều nhau, cân đối để lấy sự quân bình mới có sự tương sinh; nếu Âm Dương không đều hòa lẫn nhau thì số không có sự tương sinh tương hợp ắt là hạ cách. Âm Dương thuần một thứ là trung cách. Ba phương tứ chính đều có cát tinh là thượng cách. Cát hung tinh đều nhau là trung cách. Cát tinh mà gặp ác Sát là hạ cách, là gặp bọn côn đồ.
Thượng tinh
- Sao được thượng cách mà số lại được thượng cách là bậc nhất, là số của hàng chủ tể một nước, là số những bậc hoàng đế, bậc tổng thống, quốc vương.
- Sao được thượng cách mà số được trung cách là hạng nhì, vị đến Tam công (đại thần, tứ trụ, tể tướng).
- Sao được thượng cách mà số là hạ cách là hàng thứ ba, vị đến Lục khanh (thượng thư, tổng trưởng), đều là thượng cách hay thượng thọ chi nhân.
Trung tinh
- Sao được trung cách mà số thượng cách là thứ tư, làm đến giám ty (giám đốc công sở).
- Sao trung, số trung là thứ năm, làm đến huyện lệnh.
- Sao trung, số hạ cách là thứ sáu, là số các người theo con đường khác lạ mà đến bực quý hiển; đều liệt vào hạng trung đẳng hay hưởng phúc chi nhân.
Hạ tinh
- Sao hạ cách mà số được thượng cách là thứ bảy, được y lộc phong túc, giàu có như Đào Công tác nghiệp, con cháu phồn thịnh, sống lâu. Tuy sao là hung nhưng vẫn nhập cách hợp cục mới được như trên đoán; nếu không thì hư danh hư lợi.
- Sao hạ, số trung là thứ tám, hạng người y lộc lúc nào cũng đủ.
- Sao hạ, số hạ là thứ chín, là người bôn tẩu bần cùng yểu triết.
Thượng, trung, hạ, ba hạng trên đây cứ y theo cái lý trên mà đoán, thì người hàng thượng đẳng có thể biết được cái nguyên giống của tổ tông (vì mình là cái quả mà tổ tông là nhân), mà người hạ đẳng có thể biết được sự vượng thịnh của con cháu về sau (vì hạ cách ắt phải động, làm lụng cực nhọc, đó là cái nhân mà con người gieo ra để được quả trái về sau, tức là con cháu vậy). Đó là huyền linh ảo diệu cơ vi của con người trong vòng nhân quả, thịnh suy của Thiên lý.
Luận nam nữ, tiểu nhi, giờ sinh và số tiền phú hậu bần
Cái nhân và cái quả ấy không giống nhau ở mọi người; đàn ông đi con đường khác, đàn bà đi con đường khác, và trẻ nhỏ lại có một cách xem riêng.
Luận nam nữ Mệnh dị đồng
Số Mệnh đàn ông và đàn bà, tinh số có những ảnh hưởng khác nhau. Nam Mệnh trước phải xem cung Thân, Mệnh đến cung Tài Quan, Thiên Di, nếu được miếu vượng thì tốt, bại hãm lại tụ hợp các hung tinh là hung. Thứ ba xem đến cung Phúc Đức, Quyền Lộc, Kiếp, Không miếu hãm cát kỵ. Rồi xem đến Điền Trạch, Thê Thiếp, Tật bệnh cát hung thế nào để đoán sau. Lại xem cung Phụ Mẫu, Thê, Tử, ba cung nếu có Kiếp Không Sát Kỵ lạc hãm là tăng đạo chi Mệnh, không phải thì bần cùng cô quả. Phải xem xét cân nhắc cho tường tận ắt có thể biết được họa phúc vinh nhục của người.
Nữ Mệnh trước phải xem Thân Mệnh cát hung, như gặp Tham Sát, Kình thì không tốt. Sau xem đến cung Phúc Đức các hung ra sao, nếu gặp Thất Sát một mình cư cung Phúc Đức tất chỉ làm nô tỳ, ca kỹ. Thứ ba xem đến cung Phu, sau đến Tử Tức, Tài Trạch, nếu có Đào Hoa Hình Sát thì bị bại tuyệt không tốt; nếu được sao tốt đắc miếu vượng thì tốt. Luận số đàn bà, cung Phu và Mệnh có quý cách thì tốt lắm, nếu ngược lại là vô dụng. Lấy ba cung: Phu, Phúc, Tử Tức là chính cường. Cung Điền, Tài là thứ cường. Cung Quan, Thiên, Tật Nguy, Nô Bộc là nhược cung.
Luận tiểu nhi Mệnh
Có Bác Sĩ, Lực Sĩ cư Mệnh thì trên ngắn dưới dày; có Thanh Long, Tướng Quân là tai nhỏ đầu tròn; có Đại Hao là mũi hếch, môi mỏng; có Tử Phù, Bệnh Phù thì tiếng lớn tính hùng mạnh; có Quan Phù, Tấu Thư phùng ác diệu lạc hãm địa thì khóc cười không ra tiếng. Có Bạch Hổ, Thái Tuế ngộ Thất Sát thì thân hình yếu đuối như giải khoai, gặp nhiều sự tổn thương về sức khỏe.
Nên phân sinh khắc, chế hóa sao và cung của Mệnh, xem giờ sinh suy bại chi địa, sau xem giờ Quan Sát ở đâu thì biết được thọ yểu. Xem số tiểu nhi, nếu Mệnh có sao được miếu vượng đắc địa, xem hai hạn mà đoán ít bệnh, dễ nuôi, không hình khắc cha mẹ. Nếu Mệnh có ác Sát tinh tọa thủ lạc lại hãm thì xem hai hạn mà đoán sự tai nạn thương hại, khó nuôi hay hình khắc cha mẹ.
Luận giờ sinh an Mệnh cát hung
Phàm nam nữ sinh giờ:
- Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn là sáu giờ thuộc dương; an Mệnh tại sáu cung đó thì tốt.
- Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi là sáu giờ thuộc âm; an Mệnh tại sáu cung đó thì tốt.
Phản lại thì ít khi được toại lòng.
Luận sinh con cái khắc cha mẹ
- Người sinh năm Dần Ngọ Tị Dậu mà sinh giờ Thìn Tuất Sửu Mùi thì tối độc.
- Sinh giờ Tý Thân Hợi Mão thì giảm bớt.
- Sinh năm Dần Hợi Tị, giờ Ngọ Thân Dậu Hợi là chủ phòng khắc cha trước, qua mười sáu tuổi thì khỏi.
- Sinh năm Thìn Tị Sửu Mùi, giờ Tý Ngọ Mão Tị Hợi Thân Dậu chủ khắc mẹ trước.
Luận số tiền phú hậu bần
Người sinh ra trong nhà giàu sang phú quý, nhất sinh khoái lạc, hưởng phúc, tài quan hiển đạt, thê vinh tử quý, tôi tớ thành tựu giúp đỡ, thanh danh rực rỡ, mà sau nửa chừng lại gặp những sự rủi ro: người nào chết, tài tán, quan phi, hỏa đạo, thân tàn gia vong.
Xét cho kỹ thì tất nhiên hạn bộ gặp lại nhị hạn có Thái Tuế xung chiếu, gia hung tinh Sát tinh thủ làm, ắt bị phá tán, tổn hại, không bần tắc yểu. Đó là số trước thành sau bại, trước sau lớn nhỏ: tiền phú hậu bần vậy.
Luận số tiền bần hậu phú
Ngược lại có số người xuất thân ở nơi bần hàn vi tiện, sinh hoạt bằng công nghệ, y thuật, làm ruộng; lúc đầu gian truân lao khổ độ nhật, nhưng về sau trung và hậu vận được bình yên làm ăn, cứ thế mà phát tài tiến lên dần dần, làm cho lân cận xóm giềng đều kính phục. Vì sinh ra là trung đẳng chi cục, sau rồi nhân được hạn độ tương phù, tinh phùng cát diệu miếu vượng, họa trở lại thành phúc, tiến tài, mới gọi là tiền bần hậu phú, trước nhỏ sau to vậy.
Luận họa phúc đại hạn mười năm
Giàu trước nghèo sau, nghèo trước giàu sau, tất cả đều xoay theo từng chặng mười năm của đại hạn.
Phàm xem các sao ở cung Đại hạn toàn là cát tinh miếu vượng đắc địa, không bị Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thì chủ mười năm an tĩnh, nhân tài toàn mỹ. Nếu trong hạn có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ là sự thành bại bất nhất.
Như phân xem trong cung có những sao hội lạc hãm có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ, lại lưu niên có ác Sát tinh tấu hợp, lại tiểu hạn đi đến chỗ có hung Sát tinh, là gặp quan tai, tử vong; gặp đại hạn tướng xuất có nhiều cát tinh ắt không tai nạn; nếu ít sao tốt thì tai nạn lại nhiều, tổn người phá của.
Phàm đi đến cung Dần Thân Tị Hợi, Tý Ngọ, gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Âm Dương, Xương Khúc, Lộc Tồn chủ cát tinh, ắt được nhân tài hưng vượng, thêm đinh vui vẻ. Đại hạn đi đến cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Mão Dậu, gặp ác Sát tinh như Liêm Trinh, Thiên Sứ, Dương Đà Hỏa Linh, Không Kiếp Kỵ, chủ người ly tán, tửu sắc hôn mê, nghèo khó, tử biệt. Nếu gặp Tả Hữu Xương Khúc thì kẻ sĩ ắt thăng cao chức phận, là người thường ắt sinh thêm con cái phát tài, đàn bà thì gặp hỉ sự, tăng đạo cũng lợi, thương gia phát tài.
Phàm đại tiểu nhị hạn chỉ sợ đến chỗ có Thái Tuế gặp Thương Sứ hay Không Kiếp giáp, sợ đi đến cung Dương Đà xung chiếu ắt gặp hung họa. Lại cũng nên sợ Thương Sứ Kiếp Không Dương Đà đến giáp. Như năm ở cung Sửu, Thiên Thương cung Tý, Thiên Sứ cung Dần là giáp vậy. Sao gặp vậy nên xem thọ tinh như Tử, Đồng Lương, Tham tọa Mệnh thì có thể giải được; lại xem Nhật Nguyệt có bị ác Sát tinh chiếu hợp; đại, tiểu hạn, tháng, ngày, giờ, năm thứ, xem cát hung tinh cân nhắc xấu tốt mà đoán.
Thái Tuế đi đến cung có Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù, Thiên Sứ, Thiên Thương, Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp Kỵ, gặp một hai vị chủ nhân ly, tài tán, bệnh hoạn, là triệu hung hại, đau buồn. Nếu gặp hạn phạm nhiều sao kể trên, như Nhật Nguyệt gặp một hai vị hung Sát trên lại gặp Kỵ tinh nữa thì quan lại bị khiển trách, thường nhân thì bị chuyện lôi thôi bất kỳ, đàn bà thì tổn thai, người bệnh thì chết. Nếu ác Sát tinh lại lạc hãm thì tai ương họa hại đến như vũ như bão.
Nếu đại tiểu hạn không có cát tinh, Mệnh không có cứu tinh thì chết chắc.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
