Bài tổng quan
Công danh, nhà đất và lẽ âm đức của cung Phúc Đức
Có người Mệnh thật tốt mà cung Phúc kém, hạnh phúc ở đời không được toại mãn. Có kẻ Mệnh xấu, Thân xấu, hạn đi thường thường mà cung Phúc tốt lại được đời hạnh phúc. Lý do nằm ở đâu, ở chiếc áo dệt bằng gai hay bằng lụa…
Mục lục · 3 phần
Cung Quan Lộc
Có Tử Vi miếu vượng ngộ Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt được phong đến Hầu Bá, gia Dương Đà Hỏa Linh là bình thường, gặp Thiên Phủ là Quyền quí, danh lợi song toàn, gặp Thiên Tướng là trong ngoài có Quyền quí Thanh chính gặp Phá Quân là trong động thì yên thân.
Thiên Cơ nhập miếu là Quyền quí hội với Văn Khúc là bầy tôi hiền, gia Dương Đà Hỏa Linh công danh ắt có, với Thiên Lương là có tài Văn Võ, với Thái Âm là có tài làm Tướng trấn biên thùy; ở Hãm địa thì làm quan bị giáng chức hay mất chức trở lại chức nhỏ để giữ chân mà sống.
Thái Dương nhập miếu là Văn võ song toàn tài, không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, có Thái Âm là quí hiển, có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, lại có Khoa Quyền Lộc là “Nhất Phẩm chi quí”.
Vũ Khúc nhập miếu cùng Xương Khúc Tả Hữu là Quan Võ cao cấp, thường nhân thì phát phúc, hội với Khoa Quyền Lộc là Quan về Tài chánh, có Tham Lang ở Hãm địa là quan tham ô, có Phá Quân là nhà Binh xuất thân thì tốt, có Thất Sát thì hoạnh lập công danh, ở Hãm địa lại gặp Đà Linh Kiếp Địa là không có phận, người không công danh.
Thiên Đồng nhập miếu không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, làm nên văn lẫn võ, có Cự Môn thì nhỏ sau lớn, có Thái Dương Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc thì tốt đẹp, có Thiên Lương là Quyền quí, có Thái Âm ở hãm cung là làm Thư lại.
Liêm Trinh nhập miếu là quyền qui về Võ công không được bền, với Tham Lang là trong động thì có quyền quí, có Tử Vi hội ở ba phương lại là Văn chức, với Thất Sát là người xuất thân ở quân lữ, với Thiên Tướng, Thiên Phủ cùng là được làm quan phú quí.
Thiên Phủ nhập miếu làm Văn Võ quan đều tốt, không có Dương Đà Hỏa Linh Không Hao thì đẹp đẽ hoàn toàn, gặp Tử Vi là làm văn quan đều được thanh danh, với Liêm Vũ đồng chiếu là quyền quí, có Không Kiếp là bình thường.
Thái Âm nhập miếu là Đại quí, lạc hãm là người khí cả mà hoạnh phá khó hiển đạt, với Thái Dương Xương Khúc Tả Hữu là quan đến Tam phẩm, có Thiên Đồng là Văn Võ quan đều nên cả, với Thiên Cơ là tự mình xin làm thơ lại để lấy chân mà lên.
Tham Lang nhập miếu ngộ Hỏa Linh là Quan Võ cầm quyền binh lớn trong tay, vào hàng Thượng Tướng. Gặp Tử Vi là làm Văn Võ quan có quyền uy lớn lao. Ở Hãm địa là tham quan ô lại, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.
Cự Môn nhập miếu là Vũ Chức quyền quí, là Văn nhăn thì không bền, gặp Thái Dương là có sự thăng đáng. Nhập miếu là làm lớn bền lâu, gặp Thiên Cơ tại cung Mão là Cát mỹ, tại Cung Dậu tuy đẹp đẽ mà hữu thủy vô chung, lạc hãm là bị thương tàn, hối lẫn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp đều không được đẹp lòng, nên từ chức thoái quan.
Thiên Tướng nhập miếu là Văn Võ đều nên, thực lộc thiên chung, ở Hãm địa thì khi thành khi bại, có Tử Vi là Quyền quí, có Xương Khúc Tả Hữu là quyền quí hiển vinh có Vũ Khúc là làm võ chức ở biên thùy, gặp Liêm Trinh là quyền quí cao, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp có sự giáng chức.
Thiên Lương miếu ở cung Ngọ hội với Tả Hữu Khôi Việt là có tài văn võ, với Thiên Đồng là quyền quí lớn lao, có Thiên Cơ là quí hiển cao vọi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.
Thất Sát miếu vượng là Vũ chức quyền quí cao vợi lớn lao, không nên làm ăn quan, gặp Vũ Khúc là quyền quí, đồng với Liêm Trinh là công danh hiển đạt.
Phá Quân miếu vượng làm quan võ thì được thăng cao gia Dương Đà Hỏa Linh thì bình thường, gặp Tử Vi đồng cung là danh vang lừng lẫy, gặp Liêm Trinh mà là Văn nhân thì không được lâu chỉ làm lại thì tốt.
Văn Xương nhập miếu có Thái Dương gia Cát tinh và Khoa Quyền Lộc là có tài Văn Võ, có Thiên Phủ Văn Khúc là Phú quí song toàn.
Văn Khúc miếu vượng là về Văn Võ đều nên, lạc hãm gặp Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung là làm lại có quyền quí. Hội có Tử Phủ Tả Hữu là cận thần, có quyền chấp chánh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bình thường.
Tả Phụ nhập miếu là tài Văn võ, làm về Võ quan thì rất vượng, về văn thì bất lợi, hội với Cát tinh về văn hay võ là người thanh liêm, và hiền lành, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là lên xuống không chừng.
Hữu Bật nên làm Quan Võ, không hòa hợp với chức quan văn, có Tử Phủ, Xương Khúc thì tài quan song mỹ, lạc hãm thì thành bại, bị dáng chật hay thải hồi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cũng bị truất dáng.
Lộc Tồn hội với Cát tinh, giỏi cả văn lẫn võ, Tài quan song mỹ, con cháu cũng được phong tặng được mỹ mãn.
Kình Dương nhập miếu làm Vũ chức rất lợi, với Cát tinh là quyền quí lạc hãm là thường, là hư danh.
Đà La đứng một mình là bình thường, gia Cát Tinh là hư danh.
Hỏa Tinh miếu vượng thì về già công danh được toại nguyện, còn nhỏ tuổi thì có thành có bại, hội với Tử Tham thì tốt, ở hãm địa ắt không mỹ mãn.
Linh tính đứng một mình ở vượng cung thì tốt, lạc hãm không mỹ mãn, gia Cát tinh là quyền quí.
Đẩu quân gặp Cát tinh, năm tháng đó là Tài Quan vượng, phùng Hung Tinh, Hóa Kỵ không hiển đạt, có sự lao khổ bôn ba.
Định Công Khanh: Tử Vi gặp Phụ, Bật: Quan làm đến tam phẩm.
Nếu bị Không vong, ác tinh ba phương chiếu lại chỉ là hư danh thụ ám phong (các quan Hàn, Cụ Bá, Cụ Cửu).
Định Chức Phủ: cung Quan Lộc có Xương Khúc miếu vượng rất khó gặp, là cách “Văn Quế Văn Hoa” ắt được phong hầu, làm chức phủ hay Huyện Lệnh.
Nếu bị hung sát tinh lâm vào phá thì cách Tốt hóa ra xấu.
Định Văn Quan. Cơ Xương Khúc ở cung Quan Lộc gặp Tử Tướng là bậc Văn Quan kiêm Quyền Lộc làm ra Phong biến tiêu biểu Lễ nghi Triều đình.
Định Võ Quan. Cung Quan Lộc có tướng quân là Võ Tinh, gặp Tử Vi, Phụ Bật cũng chiếu là bậc Cái Thế Anh hùng, Kim chương Ngọc đái tá Hoàng Vương.
Định Quan Lại. Thái Dương ở cung Quan Lộc, ở cung Dương tuy được sáng lạng mới đầu không hung, nếu gặp Tử Vi kiêm Tả Hữu là văn chức lại thích anh hùng.
Cung Điền Trạch
Thành bại của việc làm ăn còn hiện trên ruộng vườn nhà đất.
Có Tử Vi là cơ nghiệp được mậu thịnh, tự dựng lên thì vượng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có để lại, có bỏ đi, với Phá Quân là bỏ tổ nghiệp, có Thiên Tướng cùng với Tả Hữu Xương Khúc là thành cơ nghiệp lớn.
Thiên Cơ là bỏ tổ nghiệp làm lại cơ nghiệp mới, có Cự Môn tại cung Mão ắt có ruộng vườn, tại cung Dậu không giữ được tổ nghiệp, trước to sau nhỏ, với Thiên Lương thì dựng được cơ nghiệp, về già thì giàu, gặp Thái Âm là tự dựng lên thì thịnh vượng.
Thái Dương nhập miếu là được tổ nghiệp để lại, mới thì lớn sau bình thường, gặp Thái Âm gia Cát tinh thì nhiều ruộng, cùng với Cự Môn ở cung Dần thì thịnh vượng ở cung Thân thì thoái tổ cũng không đến nỗi không có điền sản, ở Hãm địa phùng Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.
Vũ Khúc một mình ở vượng địa là được Tổ phụ để lại cơ nghiệp lớn lao, ở Hãm địa thì cơ nghiệp bị suy sau tất thành. Gặp Phá Quân, Đại Hao là phá đãng gia sản, có Thiên Tướng thì trước phá sau thành, với Thất Sát là tâm không muốn, với Thiên Phủ thì giữ được Tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp to, gặp Tham Lang thì đến già dựng được cơ nghiệp, gặp Hỏa Linh miếu vượng thì cực mỹ, ruộng vườn sanh tốt, thịnh vượng có Không Kiếp thì có mua, có bán.
Thiên Đồng trước ít sau nhiều, tự mình dựng cơ nghiệp thì thật vượng, có Cự Môn là ruộng ít, có Thái Âm nhập miếu thì giàu lớn. Gặp Thiên Lương thì trước ít sau nhiều hơn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.
Liêm Trinh là phá tổ Nghiệp, gặp Tham Lang là có Tổ nghiệp để lại nhưng không bền, gặp Thất Sát là tự dựng gặp Thiên Phủ là giữ được tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp, với Thiên Tướng là trước không sau có.
Thiên Phủ là ruộng vườn sanh Tốt thì thịnh vượng, giữ được Tổ nghiệp và tự dựng lên, gặp Tử Vi là đại phú với Liêm Vũ là giữ được Tổ nghiệp được vinh xương, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì có ít lúc thành lúc bại.
Thái Âm nhập miếu là nhiều ruộng, ở Hãm địa gia Kỵ Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì không có một tấc, với Thiên Cơ là tự dựng lên với Thiên Đồng là tay trắng tự dựng lên cơ nghiệp, gia Tả Hữu, Quyền Lộc, Lộc Tồn chủ nhiều điền sản.
Tham Lang hãm địa là thoái tổ, một đòi ít ruộng nương, miếu vượng là có tổ nghiệp để lại, trung vận thì bán hết, đến hậu vận lại tự dựng lên, với Liêm Trinh là không có phận, gặp Tử Vi thì có tổ nghiệp với Vũ Khúc là về già dựng nghiệp, gặp Hỏa Linh là giữ được Tổ nghiệp tự dựng lên, nhưng sợ nhà cửa bị cháy.
Cự Môn miếu vượng là hoạnh phát dựng lên, mua được, ở hãm địa là không có phần, nhân vì điền sản mà chiêu lấy thị phi. Với Thái Dương thì trước không sau có gia Da Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì ruộng nương nhà cửa đều không.
Thiên Tướng miếu vượng là có phận, với Tử Vi là tự dựng lên với Vũ Khúc thì không có phận, gia Liêm Trinh mà không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sau có Điền trạch.
Phá Quân tại cung Tý Ngọ là giữ được Tổ nghiệp được vinh xương chỉ có sự hơn kém thôi, gia Dương Đà Hỏa Linh thì kém tổ nghiệp, ruộng nhà ít, với Tử Vi thì thành gia nghiệp, có Liêm Trinh là trước phá sau thành, bị Hao Kỵ thì toàn vô.
Văn Xương hội với Cát tinh thì ruộng vườn xa rộng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bại tổ.
Văn Khúc ở vượng địa thì có phận, giữ được Tổ nghiệp gia Cát tinh là tự dựng, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có lên xuống.
Tả Hữu là có Tổ nghiệp, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp kém tổ nghiệp, ruộng đất ít, hội cát tinh thì nhiều.
Lộc Tồn là điền viên nhiều, thịnh vượng, tự tay dựng lên hội với cát tinh là thừa hưởng tổ nghiệp, vinh xương gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là ruộng nhà ít.
Kình Dương, nhập miếu trước phá sau thành, ở Hãm địa gia Không Kiếp là bán tổ nghiệp.
Đà La, là bán Tổ nghiệp làm ăn khổ sở để độ nhựt gia Cát tinh, trước không sau có, gia Không Kiếp là toàn vô.
Hỏa Tinh một mình là bán tổ nghiệp hội với Cát tinh là trước không sau có, gặp Không Kiếp là không có.
Linh Tinh là bán Tổ nghiệp, nhập miếu gia Cát tinh tự dựng lên, gặp Không Kiếp là toàn vô.
Đẩu quân quá độ gặp Cát tinh thì năm đó điền sản bồi thêm, gặp Hung Sát Kỵ Hao thì thoái bại.
Cung Phúc Đức
Nhưng dưới cả sự nghiệp và nhà cửa còn một tầng nền mà ít người nhìn thấy.
Phúc Đức là cung cần phải xem cho kỹ, vì người ta có ảnh hưởng liên lạc đến cái âm đức của các Tiền nhân để lại như người Mệnh thật tốt mà cung Phúc kém ắt cái hạnh phúc ở đời không được toại mãn. Lắm người Mệnh thật xấu Thân xấu, Hạn đi thường thường mà cung Phúc được tốt ắt là đời được hạnh phúc mỹ mãn. Muốn cho dễ hiểu tôi ví cái Thân Mệnh con người như cái áo dệt để bao thân thể, có thứ bằng gai, bằng tơ, bằng vải, bằng lụa, cái nào cũng có chỉ ngang chỉ dọc. Nhưng có cái lại có bông có hoa đẹp đẽ, màu mè xinh tươi bọc lên tấm thân các vị Vua chúa. Được nâng niu quí báu, có cái lại bọc cái thân xác ốm o của người bần hàn ti tiện. Thế là nghĩa làm sao?
Cái Phúc Đức ta có thể tượng trưng trong ví dụ này là cái vị của cái áo ở được nơi quyền quí hay ở chỗ thấp hèn. Cũng như con người sao lắm người tài ba lỗi lạc mà thi không đỗ, ra xã hội lại bị nhiều cảnh éo le, lắm kẻ ngu muội hèn nhát lại được hưởng muôn sự hạnh phúc ở đời. Nếu không có những sự ảnh hưởng vô hình mà ta gọi là Âm Đức, ắt ta cho những sự chênh lệch khắt khe ấy là vô lý, không còn có số Mệnh và Đạo Trời bất công vậy. Cho nên người có Âm Đức được hưởng vạn phúc lành bất kỳ trong trường hợp nào cũng vậy. Nếu Mệnh là số thứ dân ắt cũng được hạnh phúc vui vẻ, tai họa qua khỏi, nếu là kẻ sĩ ắt phong vân gặp hội mà đường hoạn lộ ắt được cao thăng.
Cái Phúc Đức của Tổ Tiên để lại theo phương Đông là do Tiền nhân, mà cái xương cốt còn lại có ảnh hưởng trực tiếp với con cháu về sau. Khoa học hiện tại cho ta biết rằng có Nguyên tử mà Nguyên tử bất diệt, nên những cái Nguyên tử của Tiền nhân còn lại ở Xương Cốt một khi được nhuần thấm các Thiên khí, phong thủy đều hòa ung đúc thành như một cái máy “Phát khí lực” xấu hay tốt cho con cháu đời sau. Con Cháu đời sau đã sẵn có những loại Nguyên tử gia truyền, có người hợp kẻ xung, để chịu ảnh hưởng mau hay chậm những âm đức của Tiền nhân phóng ra. Đây một nguyên lý cao siêu vô hình mà các bạn có thể tưởng tượng cái Mồ mã của Tiền nhân như một đài “Phát Thanh” và các con cháu sau này như những cái máy “Thâu Thanh”.
Máy “Phát ra” này người Phương Đông lấy ở Mồ mã, tiền nhân làm căn bản, nó có thể hữu lý và chúng ta đã biết rằng Nguyên tử là bất diệt vậy.
Nếu muốn tồn tại được cái Phúc vì vậy người Á Đông ta có môn địa lý để phong thủy mồ mã, đó chỉ là một Khoa học cao siêu biết được cái lý của Đất thu được Thiên Khí để hấp thụ cái di bài con Người còn lại như xương cốt, hay nói cho dễ hiểu, ông Thầy Địa cũng như các kỹ sư về điện khi biết cách chế biến những máy Phát thanh cho bền cho mạnh, mỗi một giòng họ có một Nguyên tử đặc biệt riêng chỉ con cháu họ, giống của họ mới có mà sau này thành những máy Thâu Thanh riêng biệt vậy.
Nếu ta chịu nhận những làn sóng Hertzienne vô hình kia là có, ta cũng không thể không nhận những làn sóng vô hình Phúc đức ảnh hưởng từ một Ngôi Mộ cho con cháu được. Ta cho là không có là tại ta chưa thấy, chưa học đến, nhưng ông Cha ta cũng chẳng dại gì cứ tin tưởng đến nỗi thành ngạn ngữ như những câu “Sống vì Mồ Mã, Ai sống về cả bát ăn” Nên mới đến Phúc Đức của một người là người ta liên tưởng đến ngay Mồ Mã, vì lẽ ấy trong Số Tử Vi của người ta có cung Phúc Đức là để xem Mồ mả ảnh hưởng trực tiếp cho số từng người một. Mà cung Phúc Đức là cái nguyên nhân của từng số. Như một cây đa to lớn sống ở trên một khoảnh đất ít màu ít khí, cây đa là loại cây lớn nhưng cái nguyên nhân căn bản để sống mà không có ắt cũng tàn tạ mà chết, không bằng cây lau cây sậy nhỏ bé mà được ở chỗ vượng địa ắt lúc nào cũng được xanh tươi. Cho nên xem một số người ngoài sự xem Mệnh Thân cung rồi phải xem cung Phúc Đức cân nhắc, đối chiếu ắt sẽ biết cái lực suy vượng, tồn vong mà cái Số đo có thể tới được.
Vì lẽ ấy tôi đã hết sức khảo cứu và nghiệm xét rất lâu về cung Phúc đức để viết ra đây thật rõ ràng cho các bạn dễ hiểu. Ta có thể tả được rõ ràng ngôi mộ tọa hướng nào, hướng mặt về hướng nào...
Cung đằng trước là Tả là ngoài, ba phương là Ngoại Long, Hổ và Khánh Sơn, cung đằng sau là Hữu là sau.
Dương trạch âm phần đều xem như vậy.
Ví dụ như cung Phúc đức ở cung Tý, cung Sửu ở đàng trước la Tả, cung Hợi là đằng sau là Hữu. Ba phương thì; Ngọ là Khánh Sơn, Thân là Long, Thìn là Hổ.
Thân Tý Thìn tam hợp là ba phương
Xem Dương Trạch thì lấy cung Mệnh làm Bản cung, xem hành hạn cũng vậy.
Hình tính các sao trong cung Phúc Đức
Thiên Cơ là mộc tinh vật là thảo mộc.
Thái Dương là Bình Dương (ruộng bằng) hình như tấm kính, người là dương hồn (mộ đàn ông).
Liêm Trinh là gò cao nổi lên (như xương sống) hình như người ốm, ngồi một mình.
Thiên Phủ là tổ sơn, Thổ tinh đại địa, linh khí ở hữu đến.
Thái Âm là gò cao chót vót, người là Âm hồn (mộ đàn bà) hình như bán nguyệt.
Tham Lang là bắc thổ chi địa (đất màu bùn đen) vật là thảo mộc um tùm, hình như con chó ngồi.
Vũ Khúc là Cô Sơn.
Hỏa Linh như cái cần giài.
Thiên Lương là đất bụi, hình như cái suối giài (cái suối trong khung cửi).
Cự Môn là cuốc đất vuông, ở dưới thì đất vàng, hình như cái chiếu giải.
Thiên Tướng là đất vuông vắn dày dặn hình như cái ấn vuông.
Thất Sát là đất khô đỏ, hình như cây cỏ giài thẳng và nhọn là Cô Sơn.
Phá Quân là cuộc đất tan lở, hình như tên quân thường cổi giáp.
Văn Xương như một cục sắc tròn.
Văn Khúc như giải nước khúc khuỷa.
Phụ Bật là đất no đầy, hình như cái cạp chiếu nổi đầy đều lên.
Thiên Khôi như cái cột tươi sáng dựng lên.
Thiên Việt như hình cái kiếm lớn.
Thiên Mã là hình con ngựa.
Lộc Tồn là đất hình vuông, hình cái thương, là cô sơn.
Dương Nhận là như cái nanh, hay con dao nhọn của lính.
Hóa Lộc là đất bao lần kim khí, hình như cái thương.
Hóa Quyền là đất như cụm cây vuông, hình như cái yên ngựa.
Hóa Khoa là cuộc đất hình cái khuôn cây như cái Bảng.
Hóa Kỵ là đất có nược ngưng tụ, bùn lầy, đất đen.
Không Kiếp là đất hung.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
