Bài tổng quan
Chính tinh đồng cung làm giàu, Lộc Tồn, Hóa Lộc và Thiên Mã
Cự Môn gặp Thiên Cơ ở Mão thì tính toán sắc sảo, Vũ Khúc gặp Tham Lang thì chỉ nghĩ đến cái lợi tối đa. Còn Lộc Tồn, có người hưởng đủ tám phần mười, có người chỉ hưởng bốn. Vì sao cùng một sao tài mà mỗi người nhận một mức khác nhau…
Tử Vi, Cự Cơ, Cơ Lương và những cặp chính tinh làm giàu
Tử Vi
Tử Vi là đế tinh, có ý nghĩa tốt toàn diện, cả về mặt tài sản. Nhưng, Tử Vi không phải là sao tài đúng nghĩa. Đóng ở cung Tài, Điền vẫn lợi lộc, nhất là ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tại 4 vị trí này, Tử Vi hội với Thiên Phủ là tài tinh, nhất là ở hai cung Dần và Thân. Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung cho nên hiệu lực về tài chánh càng nhiều thêm.
Nếu Tử Vi ở Ngọ thì rất rực rỡ, tài lực càng sung mãn.
Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung
Hai vị trí đồng cung của Cự, Cơ là Mão và Dậu, song ở Mão đẹp hơn ở Dậu. Hai sao này kết hợp thì tạo được tài lộc dồi dào, nhờ tài năng cạnh tranh, óc tính toán, đa mưu, biết người biết việc, biết phương pháp, mánh khóe, chiến lược kinh doanh, biết tường tận môi trường tài chánh, rất thích hợp cho các nghề nghiên cứu về kinh tài. Cự, Cơ là sao của các nhà đại kinh doanh, có tư bản lớn, làm ăn trên các mối lớn, các gút của nền kinh tế hoặc của các chiến lược gia kinh tế. Đi chung với tài tinh khác như Hóa Lộc, Song Hoa, ý nghĩa trên càng chắc chắn.
Riêng Cự Môn đơn thủ ở Hợi, Tý, Ngọ cũng giàu có, tự lập từ tay trắng rồi bộc phát lạ làng, nhất là trong lúc náo loạn, cạnh tranh.
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung
Thế đồng cung của hai sao này chỉ có ở hai cung Thìn và Tuất. Tại đây Cơ, Lương chỉ sự giàu có dễ dàng. Thiên Cơ chỉ mưu trí, xảo thuật kiếm tiền, Thiên Lương chỉ cơ hội tốt đẹp và may mắn, đồng thời cũng chỉ thiện tính của nhà buôn bán, kinh doanh.
Nếu Lương đơn thủ ở Tý, Ngọ thì cũng giàu có. Đồng cung với Thái Dương ở Mão, với Thiên Đồng ở Dần Thân thì cũng đắc phú như vậy.
Cách giàu của các sao đi chung với Thiên Lương đều lương thiện, có tinh thần xã hội, cứu độ, tạo công ăn việc làm cho kẻ khác.
Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung
Hai sao này kết hợp điển hình cho ngành kinh doanh thương mại. Tham Lang chỉ sự hám lợi, mưu tìm cái lợi tối đa. Vũ Khúc chỉ tiền bạc. Cả hai kết hợp là người tham tiền, ham lợi, đặc điểm của doanh thương. Vì có sự hiện diện của Tham Lang, nên sự buôn bán này không lương thiện, thành thật bằng Cơ, Lương.
Ngoài ra, vì cùng là bắc đẩu tinh hết cho nên Vũ Tham đắc tài lúc hậu vận.
Riêng Tham Lang đơn thủ ở Thìn, Tuất cũng rất giàu, nhất là về già. Cách giàu này rất nhanh, có tính cách hoạnh phát. Hình thái khả hữu là sự kinh doanh táo bạo, tốc chiến tốc thắng, phù hợp với đặc tính của Tham Lang. Suy Tham Lang là sao tham lam, trục lợi, cho nên các doanh thác này không mấy chính đáng. Hình thái đầu cơ, tích trữ, cầm giá, kim giá, thao túng thị trường, độc quyền mại bản có thể rất thông dụng.
Thiên Đồng miếu địa
Sao này không phải phú tinh mà là phúc tinh. Vì phúc bao hàm cả lãnh vực tiền bạc cho nên Thiên Đồng đắc địa cũng đắc phú: đó là trường hợp Thiên Đồng ở Mão, chỉ người tay trắng dựng nên sự nghiệp, chắc chắn là nhờ may mắn, phúc đức. Duy cách giàu của Thiên Đồng phải nhọc sức, đi đây đi đó buôn bán mới có của, kiểu như các nhà môi giới, các đại diện thương mại, các người rao hàng, trình dược viên, quảng cáo lưu động, tùy viên thương mại ở nước ngoài hoặc ở xa trụ sở kinh doanh.
Đồng đi chung với Thiên Lương ở Dần Thân cũng rất thịnh vượng và lương thiện, thông thường kinh doanh trên các nghề nghiệp hợp pháp và có khuynh hướng bố thí, hào sảng, có của, làm ra của đồng thời cũng làm cho người khác có của theo.
Thiên Tướng
Tướng không phải là tài tinh, nhưng, nếu ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Liêm Trinh ở Tý, Ngọ với Tử Vi ở Thìn, Tuất thì cũng làm giàu dễ dàng mà lại lâu bền, chắc chắn và chính trực.
Phá Quân miếu địa
Cũng không phải là sao tài, nhưng nếu miếu địa ở Tý, Ngọ thì cũng phong phú. Tuy nhiên, cách giàu của Phá Quân, dù có nhanh chóng dễ dàng nhờ ở mạo hiểm, liều lĩnh, bạo dạn, nhưng đồng thời cũng có nhiều bất trắc vì tính mạo hiểm này. Dù sao, Phá Quân vẫn giữ bản chất hao tán, cho nên cái giàu rất mong manh. Cũng vì đó cho nên Phá Quân dù kết hợp với chính tinh nào cũng không chắc duy trì lâu dài sự giàu có.
Thất Sát miếu địa
Cũng không phải là tài tinh, nên chỉ có của khi nào miếu địa ở Dần Thân và Tý Ngọ. Duy cái giàu của Thất Sát rất bình thường, thường là chậm, chỉ phát sau giai đoạn lập thân, chỉ phát lúc bất ngờ, cho nên có tìm cách hoạch tài.
Đi chung với Tử Vi thì kiếm tiền dễ, nhanh hơn vì Thất Sát hỗ trợ cho Tử Vi, trong khi Phá Quân làm suy bại Tử Vi.
Nói tóm lại, cách giàu phải có tài tinh chính cống và miếu địa. Những phúc tinh quyền tính, võ tinh chỉ có ý nghĩa giàu khi nào miếu địa. Những sao giàu kể trên đây có thêm trung tinh trợ lực mới mạnh thêm. Lẽ dĩ nhiên, các sao trên phải tránh các sao phá tán của cách nghèo.
Lộc Tồn, Hóa Lộc và Thiên Mã: những trung tinh mang của
Chính tinh đã đứng vững trên cung, lúc này mới đến những trung tinh chuyên về tiền — loại sao tài, loại sao may mắn, loại sao giữ của.
Đối với trung tinh, cũng có loại sao tài, cũng có loại sao may mắn, loại sao giữ của.
Lộc Tồn
Là một tài tinh quan trọng, báo hiệu sự dư ăn dư để, khả dĩ gọi là giàu có. Tồn có hai loại ý nghĩa, tiêu cực và tích cực.
Về mặt tiêu cực, Tồn chỉ “lộc ăn” nghĩa là có nhiều cơ hội được tiền bạc, điền sản, lợi lộc nói chung. Sự lợi lộc này thường do hai nguyên nhân:
- Do di sản của tổ phụ, cha mẹ: người có Tồn ở Phúc, Mệnh thường được hưởng ít nhiều của cải của thân tộc.
- Do người đời biếu xén, tặng dữ, giúp đỡ.
Với khía cạnh này, Tồn đắc lợi từ kẻ khác. Tuy nhiên, đây chỉ là khía cạnh tiêu cực.
Về mặt tích cực, sao này chỉ người tháo vát, có tài tổ chức, có tính toán và quyền biến theo hoàn cảnh, những đức tính cần thiết cho việc tạo của, cho người biết làm cho của cải sinh lợi. Nói khác đi, đó là năng khiếu buôn bán, tính chất của nhà buôn, đó là khả năng của các ủy viên tổ chức, của giám đốc thương mại, của trưởng cơ quan tài chánh, kinh tế. Trong lãnh vực tư, Tồn rất thích hợp với thương gia, nhất là nhà kinh doanh lớn, hiểu biết và lợi dụng được thị trường. Nếu không hành nghề buôn bán, thì ý nghĩa tiêu cực sẽ nổi bật hơn.
Mức hưởng Lộc Tồn theo lời cụ Thiên Lương
Mức độ hưởng thụ Lộc Tồn nhiều ít tùy theo tuổi. Theo cụ Thiên Lương, một nhà lý số đương thời, nguyên tắc chính để hưởng hiện lộc của sao này là cung Mệnh phải tọa thủ hay tam chiếu với cung có Lộc Tồn trấn đóng. Đây là một lý đương nhiên. Duy, cụ Thiên Lương đã có công chi tiết hóa và lượng giá mức độ, hoàn cảnh hưởng thụ. Theo cụ, thì:
- Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ hay tam chiếu thì hưởng lộc.
- Nếu tọa thủ thì hưởng nhiều, tam chiếu thì hưởng ít hơn thế tọa thủ.
- Nếu chỉ nhị hợp thì ít hơn nữa.
Hành của Lộc Tồn là Thổ. Nếu sao này phù sinh cho hành của Bản Mệnh (Kim) thì mức hưởng lộc có thể lên đến 8/10. Nếu Bản Mệnh và Lộc Tồn đồng hành thì tỷ lệ hưởng là 6/10, còn nếu Lộc Tồn khắc hành Bản Mệnh thì chỉ có hưởng 4/10. Cụ Thiên Lương cho rằng các tỷ lệ trên vẫn có, dù cung Mệnh gặp phải trường hợp âm dương nghịch lý, bấy giờ chỉ hưởng bất thường mà thôi.
Theo qui tắc tọa thủ, tam chiếu và nhị hợp của Lộc Tồn đối với cung Mệnh, cụ Thiên Lương còn tế phân ra 3 trường hợp đắc lộc: thứ nhất là trường hợp 12 loại tuổi liệt kê dưới đây, thứ hai là cung an Mệnh ở thế đồng cung hay tam chiếu với Lộc Tồn, thứ ba là cung an Thân ở thế nhị hợp với Lộc Tồn. Trường hợp đầu thì tốt đẹp nhất. Trường hợp thứ hai sẽ được hưởng thiên lộc nhưng không bền hoặc gặp nghịch cảnh, hoặc bất chính. Trường hợp thứ ba thì chỉ được hưởng chút ít.
Theo cụ Thiên Lương, 8 vị trí của Lộc Tồn (Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) chỉ giúp cho 12 loại tuổi thuộc 4 can Giáp, Ất, Canh, Tân dưới đây được hưởng thiên lộc mà thôi. Đó là Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất; Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi; Canh Thân, Canh Tý, Canh Thìn; Tân Tỵ, Tân Dậu, Tân Sửu. Đây là những tuổi đồng can, đồng chi với cung của Lộc Tồn, hoặc là những tuổi mà chi tam hợp chiếu với cung Lộc Tồn tọa thủ.
Đồ biểu hóa các qui tắc trên, ta có bảng liệt kê dưới đây:
| Can của tuổi và vị trí sao Lộc Tồn | Đắc lợi cho riêng 12 loại tuổi | Đắc lợi trong nghịch cảnh, cho cung Mệnh tọa thủ và tam chiếu | Đắc lợi chút ít, cho cung Mệnh nhị hợp |
|---|---|---|---|
| Giáp — Tồn ở Dần | Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất | Dần (tọa thủ); Ngọ, Tuất (tam chiếu) | Hợi |
| Ất — Tồn ở Mão | Ất Mão, Ất Hợi, Ất Mùi | Mão (tọa thủ); Hợi, Mùi (tam chiếu) | Tuất |
| Bính — Tồn ở Tỵ | Không có tuổi đắc lợi * | Tỵ (tọa thủ); Dậu, Sửu (tam chiếu) | Thân |
| Đinh — Tồn ở Ngọ | Ngọ (tọa thủ); Dần, Tuất (tam chiếu) | Mùi | |
| Mậu — Tồn ở Tỵ | Tỵ (tọa thủ); Dậu, Sửu (tam chiếu) | Thân | |
| Kỷ — Tồn ở Ngọ | Ngọ (tọa thủ); Dần, Tuất (tam chiếu) | Mùi | |
| Canh — Tồn ở Thân | Canh Thân, Canh Tý, Canh Thìn | Thân (tọa thủ); Tý, Thìn (tam chiếu) | Tỵ |
| Tân — Tồn ở Dậu | Tân Tỵ, Tân Dậu, Tân Sửu | Dậu (tọa thủ); Tỵ, Sửu (tam chiếu) | Thìn |
| Nhâm — Tồn ở Hợi | Không có tuổi đắc lợi * | Hợi (tọa thủ); Mão, Mùi (tam chiếu) | Dần |
| Quý — Tồn ở Tý | Tý (tọa thủ); Thân, Thìn (tam chiếu) | Sửu |
* Lý do là không bao giờ có tuổi Bính Tỵ, Đinh Ngọ, Mậu Tỵ, Kỷ Ngọ, Nhâm Hợi và Quý Tý.
Điều đáng lưu ý là theo cụ Thiên Lương, Lộc Tồn ở thế xung chiếu Mệnh lại không được kể: chỉ có ba trường hợp tọa thủ, tam chiếu vào cung Mệnh và nhị hợp với Mệnh là có hưởng lộc. Đây quả thật là một điều lạ vì thế xung chiếu kể ra còn mạnh hơn thế tam chiếu hay nhị hợp.
Dù có sự kỳ quặc đó, bảng liệt kê này cũng vẫn có ích để đánh giá mức độ giàu nghèo, mức độ hưởng thụ. Theo thiển nghĩ, ở thế xung chiếu, Lộc Tồn tối thiểu cũng có ý nghĩa tiêu cực như trên chớ không phải hoàn toàn vô bổ.
Hóa Lộc
Nói chung, sao này đồng nghĩa với Lộc Tồn. Tuy nhiên, Hóa Lộc ngay thẳng, thành thật, không mưu cơ như Lộc Tồn. Hóa Lộc làm giàu một cách chính đáng, cạnh tranh ngay thẳng hơn, óc con buôn tương đối vừa phải, không mấy hám tài, tham lợi như Lộc Tồn.
Dường như cái giàu của Hóa Lộc dễ dàng hơn, không đua chen, lẫn lộn nhiều với sinh kế, phần ý nghĩa tiêu cực của Lộc Tồn ứng dụng nhiều cho Hóa Lộc. Trong khi Lộc Tồn thiết tha giữ của thì Hóa Lộc tuyệt đối hào sảng, biết hưởng thụ chứ không phải chỉ biết lo chắt mót: đây là người có tiền, chịu ăn chơi và chịu chi tiêu. Tâm lý của Hóa Lộc không chặt chẽ và xài kỹ như Lộc Tồn, có thể là một Mạnh Thường Quân dám bố thí, hiến của, trong khi Lộc Tồn hãy còn tính toán hơn thiệt, nếu không nói là ích kỷ. Vì vậy, Hóa Lộc cầm của kém hơn Lộc Tồn, dù cả hai đều dư ăn dư để.
Ở vị thế hội chiếu, hai sao này bảo đảm giàu có. Tuy nhiên, nếu đồng cung lại kém hay vì Tồn thuộc Thổ, Lộc thuộc Mộc, hai hành xung khắc, có thể bị lụy vì tiền, có lẽ vì quá tham kiếm tiền.
Hóa Lộc hay Lộc Tồn kết hợp với Thiên Mã càng thêm giàu có.
Thiên Mã
Đắc địa ở Dần, Tỵ và phần nào ở Thân, Thiên Mã cũng có ý nghĩa tài lộc, phần lớn tháo vát, lanh lợi, khôn ngoan, xoay trở khéo, quán xuyến, chịu khó, chí thú làm ăn, tương ứng với các đức tính của ngựa hay, chạy nhanh và bền. Duy cái giàu của Thiên Mã do tự lực, tay làm hàm nhai, cho nên cực. Mặt khác, đó cũng là cái giàu ở tha phương, càng làm ăn xa càng có lợi.
Mã chỉ dễ làm giàu khi nào hội tụ nhiều cách tốt như Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt sáng, Mã Lộc Tồn, Mã Hóa Lộc, Mã Tràng Sinh, Mã Khốc Khách, Mã và Lưu Mã. Các cách này chỉ sự may mắn, đắc thời, hợp cảnh. Ngoài ra, hành của Mã còn phải phù hợp với hành của Bản Mệnh thì mới phát tài dễ dàng. Ví dụ Mã ở Dần với người mạng Mộc, ở Tỵ với mạng Hỏa, ở Thân với mạng Kim, ở Hợi với mạng Thủy. Nếu Mã gặp Hình, hay Tuyệt, hay Tuần, Triệt hoặc là Mã ở Hợi (trừ phi với mạng Thủy) thì bất lợi, hung hiểm hoặc chật vật.
Mã đắc địa ở cung Điền có nghĩa là có nhà cửa, ruộng đất, xí nghiệp ở nơi xa. Nếu có thêm Tả Hữu thì có nghĩa là song mã, tam mã, ngụ ý có thêm điền lộc: có thể có hai nhà, hoặc một nhà và một miếng đất hay một xí nghiệp, trong đó có một nhà ở xa.
Về phương diện nghề nghiệp, nghề của Thiên Mã hợp với ngành vận tải hàng hóa hay hành khách, hoặc môi giới, giao dịch với bên ngoài, ký kết hợp đồng ở xa, với người ngoại quốc hoặc lập văn phòng đại diện thương mại ở xứ người. Nếu là nghề công thì ở đây có thể là tùy viên sứ quán về kinh tế, thương mại.
Đại Hao, Tiểu Hao ở Mão và Dậu
Hai sao này là hai hao tinh, có nghĩa là làm hao tán tài sản. Nhưng, chỉ riêng ở Mão và Dậu, Đại và Tiểu Hao lại giàu có. Thuộc hành hỏa (có người cho là hành Thủy), nhị Hao ở Mão đắc lợi là vì cung Mão thuộc Mộc phù sinh cho sao hỏa. Do đó, nếu Đại Hao ở Mão, Tiểu Hao ở Dậu thì tốt hơn là Đại ở Dậu, Tiểu ở Mão.
Tại hai cung này, nhị Hao rất thịnh về tiền bạc: đó là người thông minh, lanh lợi, biết xoay trở làm ăn, có chí làm giàu lớn, dám bỏ tiền ra kinh doanh đại sự, dám gánh bất trắc của thời cuộc để mưu lợi tối đa. Óc mạo hiểm của nhị Hao ở Mão Dậu rất lớn, được thời thì trở thành đại phú, gặp vận xui thì có thể sạt nghiệp. Đại, Tiểu Hao không chắt mót giữ tiền mà luân chuyển vốn liếng làm ăn rất linh động, tiêu pha lớn trong việc kinh doanh cũng như trong việc ăn chơi. Tính tình nhị Hao còn hào phóng hơn Hóa Lộc rất nhiều.
Mặt khác, do đặc tính linh động, nhị Hao ám chỉ người có nhiều ngành buôn bán, kinh doanh một lần trên nhiều cơ sở thương mại, đầu tư vào nhiều lãnh vực khác nhau, dễ chuyển ngành thương mại từ địa hạt này sang địa hạt khác. Do đó, nhị Hao tượng trưng cho những nhà đại tư bản có cả dây chuyền xí nghiệp hoạt động bổ túc và liên hoàn. Xí nghiệp có nhiều và ở nhiều chỗ, phải lưu động đi kiểm soát, đôn đốc, xuất ngoại rất thường để tìm thị trường thương mại. Nền kinh tế nhà nước có phồn thịnh hay không hẳn là do những nhà kinh doanh loại này. Nếu tài sản của Lộc Tồn tương đối bất động, thì tài sản của nhị Hao lại luân lưu. Nếu dùng ví dụ để mô tả, thì Lộc Tồn đọng vốn trong việc kinh doanh bất động sản (như cho vay bạc lấy lời, cất nhà cửa cho thuê, tạo điền sản cho mướn lấy địa tô…) còn nhị Hao thì biến chế sản phẩm, phân phối hàng hóa, vận tải hành khách hay hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy (nếu có Lưu Hà) hay hàng không (nếu có Phi Liêm).
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
