Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương và Nhật Nguyệt trong khoa Tử Vi

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/20268 phút đọc4 lượt đọc
Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương và Nhật Nguyệt trong khoa Tử Vi

Nếu Tử Phủ là cách của người làm lớn thì Cơ Nguyệt Đồng Lương lại là cách của kẻ giữ phận công chức mực thước. Còn Nhật Nguyệt, sao ngày và sao đêm tranh nhau chiếu sáng, lại đưa người ta vào con đường văn chương chính sự...


Trong bốn cách lớn còn hai cách: Cơ Nguyệt Đồng Lương thiên về đường quan chức mực thước, và Nhật Nguyệt thiên về văn chương chính sự, cùng một đoạn so sánh cả bốn cách với nhau.

Cơ Nguyệt Đồng Lương cách

Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách tác lại nhân, thường là những người nói chung không mạo hiểm, cương cường như Sát Phá Tham, nhưng ôn lương trung hậu, giữ nhân thủ thường, lo bổn phận, đời sống mực thước, ví như các công chức chuyên nghiệp. Tuy nhiên cũng phải tùy theo vị trí các sao miếu hãm hợp với bản mệnh để luận xét mức độ xấu tốt được.

Thiên Cơ, Thái Âm thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Người mạng Mộc, Thiên Cơ thuộc Mộc cư Dần cũng chỉ được y lộc phong túc, trung bình cách. Cũng như người mạng Thủy, Thái Âm cư Dần cung cũng trung bình cách. Vì trong mười bốn chính tinh có hai sao Liêm Trinh và Tham Lang tại Tỵ Hợi là xấu, cũng như hai sao Thiên Cơ và Thái Âm tại Dần Thân, nhưng tại Dần ít bị khắc chế hơn tại Thân cung; nếu tại Dần mạng Mộc hay mạng Thủy, gặp được Khoa Quyền Lộc là cách phản vi kỳ.

Song nếu không gặp Khoa Quyền Lộc, mạng không đồng hành Mộc hoặc Thủy, thì hai sao Cơ, Âm chính là giây oan nghiệt bị vướng mắc không thể gỡ được, bất kể cung số nào cũng đều xấu cả. Huynh đệ thì ly tán, Phúc đức thì họ hàng ly tán, cũng như Liêm Tham không có Tuần Triệt thì nam đãng nữ dâm, hình ngục nan đào. Người mạng Mộc hợp Thiên Lương cư Ngọ hơn người Thiên Lương cư Tý cung.

Cơ Nguyệt Đồng Lương tại Ngọ Tuất và Tý Thìn

Người mạng Kim, Thủy, cung Ngọ có Thiên Đồng Thái Âm tốt hơn người mạng Kim, Thủy có hai sao Đồng Âm tại Tý, vì sự âm hợp tính đẩu. Vì Kình Dương tại Ngọ được Hỏa khắc thành Thủy như nguồn gốc cho Đồng Âm chảy mãi bất tuyệt, nên Ngọ hợp hơn Tý. Thái Âm tại Ngọ hãm địa, nên phạm Kình ít khắc chế hơn ở Tý, miếu địa.

Người mạng Mộc hợp Cơ Lương tại Thìn hơn người mạng Mộc Cơ Lương cư Tuất. Khi hai sao chính tinh cư cùng một cung, thời sự ám hợp hay khắc chế là do độ số tinh đẩu và cung có sao cư thuộc hành nào, để luận đoán sự kết hợp khắc của bản hành. Thí dụ: người mạng Thổ tại cung Tuất có Cơ Lương tốt hơn người mạng Thổ có Cơ Lương cư Thìn. Người mạng Thủy ở cung Thìn có Cơ Lương tốt hơn người mạng Thủy có Cơ Lương tại Tuất, vì cung Thìn thuộc hành Thủy.

Nhật Nguyệt cách

Hai sao Thái Dương và Thái Âm hợp lại thành cách Nhật Nguyệt. Cách Nhật Nguyệt cũng phải tùy theo vị trí miếu hãm của hai sao và ngũ hành của bản mạng hợp lại mà luận xét xấu tốt, không nên yêu kẻ sinh ngày, ghét kẻ sinh đêm mà luận cách Nhật Nguyệt, chỉ nên so sánh khi nào Thái Dương ở các cung hãm địa, thời cung dương hợp hơn cung âm. Thí dụ Thái Dương ở Thân tốt hơn ở Dậu, vì lý nhất dương sinh. Thái Âm ở Thìn hay Mão, thời Mão hợp hơn, vì lý nhất âm trưởng.

Người có cách Nhật Nguyệt mà mạng Hỏa, ưa tranh đấu vì hợp với Thái Dương hỏa. Người mạng Thủy trầm tĩnh hơn, vì hợp với Thái Âm thủy. Nói chung cách Nhật Nguyệt ưa tranh đấu, nhất là chính trị, nhưng thành bại là tùy vị trí miếu hãm, và các bộ sao phù trì.

Nhật Nguyệt cư Tý Ngọ

Người Hỏa mạng, Nhật cư Ngọ thuộc Hỏa là đệ nhất cách của Nhật Nguyệt, vì ở đây là cách Nhật lệ trung thiên, mặt trời ở giữa trời, tỏ rạng được hết cái sáng của mình. Người Thủy mạng, Nguyệt thuộc Thủy cư Tý là đệ nhất cách của Nhật Nguyệt, vì Nguyệt cư Tý là bạn của đêm, giờ Tý mặt trăng chiếu sáng trên bể cả mênh mông, mặt nước đại hải sẽ trở thành một vũ trụ màu bạc.

Nhật Nguyệt cư Hợi Mão

Nhật cư Mão là cách Nhật xuất lôi môn, lôi môn là cửa nhà trời, là nơi nhập xuất của các đẳng thần hành sự. Mão là thời gian khí hậu còn ôn hòa, nên người Hỏa mạng có cách Nhật này là hợp, nhưng không hiển hách bằng Nhật lệ trung thiên. Nguyệt cư Hợi là cách Nguyệt lãng thiên môn, cửa ngõ của Thái cực, nên thường gọi Hợi là Kiều Tốn thiên môn thiên tử bái, vì lý Tốn là hướng của văn phong tinh, Hợi là nơi cực thịnh của âm khí, nên người Thủy có Nguyệt này là hợp nhưng không bằng Nguyệt cư Tý.

Nhật Mão Nguyệt Hợi mà Mệnh lập tại Mùi cung, tất nhiên cung Mùi vô chính diệu, phải căn cứ vào hành của mệnh để phân luận, mệnh Hỏa hợp với Thái Dương, mệnh Thủy hợp với Thái Âm, nên khi hai sao chính tinh cùng cư một cung hay hợp chiếu về cung vô chính diệu, nếu không căn cứ ở ngũ hành để phân định thì tại sao biết được, thí dụ một người mặt dài, một người mặt tròn, Nhật Nguyệt tịnh minh, danh tá cửu trùng ư kim điện, thường là những danh tài phò tá các bậc nguyên thủ quốc gia.

Đối với cách Nhật Nguyệt, tại chính cung không tốt bằng ở tam hợp cục chiếu, hay là ở cung xung chiếu. Nhật Mão, Nguyệt Hợi, mệnh lập Mùi có sao Thiên Hư tại Mùi là cách Nhật Nguyệt chiếu hư không chỉ địa, ngụ ý là cung Mùi vô chính diệu là khoảng không, được thêm sao Thiên Hư, thời thật là khoảng không hư thăm thẳm, không có một đám mây hay vật gì cản trở, nên thông minh tuyệt đỉnh, học một mà biết mười.

Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu, Mùi

Không nên luận cách này sinh ngày hay sinh đêm vì nếu nói sinh ngày không hợp với Nguyệt, sinh đêm không hợp với Nhật, như thế là bị khắc chế, độ số tốt bị chiết giảm, hay cha mẹ bị hình khắc chết trước, thời khoa Tử Vi đẩu số, khác một giờ sinh hay bất cứ khác ngày tháng năm, thì sao Tử Vi và tất cả các sao đã chuyển cung rồi, hơn nữa gồm cả Niên Nguyệt Nhật thời sinh, hợp lại mới thành được một đáp số Tử Vi cư ở cung nào. Nên phải luận ngũ hành của bản mệnh hợp với sao nào, Nhật hay Nguyệt mới có thể hiểu biết tường tận được.

Nhật Nguyệt tại Sửu Mùi cung là cách Nhật Nguyệt tranh huy, thời gian thuộc giờ Sửu, thì Nhật hãm nhưng cũng sắp tới lúc mà Nhật được sáng trở lại, cũng như giờ Mùi thời Nguyệt còn hãm, nhưng sắp sửa thời gian của Nguyệt được sáng ra, Nhật tại Mùi, tuy còn sáng, nhưng sắp tới lúc Nhật bị tối trở lại, nên mới gọi tranh huy, là dành nhau chiếu sáng. Quy luật của Nhật Nguyệt là chính bất như chiếu, nên Mệnh lập cùng với Nhật Nguyệt vô cát diệu là hung, không thể quý hiển được, nên ở phú có câu: "Những người bất hiển công danh, chỉ vì Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi."

Cách chiếu của Nhật Nguyệt

Trái lại nếu Mệnh lập Mùi mà Nhật Nguyệt cư Sửu chiếu là cách Nhật Nguyệt chiếu bích (bích là bức tường, mà Sửu Mùi thuộc chất Thổ thực), nhưng cần có sao Hóa Kỵ cư Mùi chứ không phải đồng cung, cùng với Nhật Nguyệt là cách tường vân ánh Nhật Nguyệt. Cách chiếu này rất cần gặp được sao Không, nhất là Tuần Không thời hợp cách nhất, vì Tuần Không sẽ bao vây ánh sáng kia lại, để Hóa Kỵ gặp được ánh sáng Nhật Nguyệt tỏa hào quang, mới được toàn mỹ, như vậy thì Nhật Nguyệt Sửu Mùi này chính là cách quan cư hầu bá, chung thân quý hiển.

Luận chung bốn cách

Tuy nhiên Tử Phủ là cách dễ quý hiển và tôn quý nhất. Sát Phá Tham thì uy dũng thường thiên về võ nghiệp. Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách tác lại nhân mà trọng hậu. Nhật Nguyệt thì văn chương lại thường phò tá các bậc quân vương.

Sự kết hợp thành cách, để biểu lý tính chất, và thường hay hiển đạt thế nào cho có căn bản mà thôi, còn bất kể cách nào cũng có thể làm nên công nghiệp phi thường danh lưu muôn thuở, là tùy theo cát tinh phù trì, hung tinh trấn ngự, ở các nơi miếu vượng mà luận xét.

Nếu miếu vượng ngộ Triệt Tuần lại không còn uy lực nữa, nếu lạc hãm gặp được Triệt Tuần lại phản vi kỳ, nhưng nên nhớ các chính tinh lạc hãm gặp được Triệt Tuần, tuy nhiên có tốt thực, song cuộc đời vẫn phải lao tâm khổ tứ mới thành sự nghiệp được, không như người được chư cát miếu, là số tọa hưởng kỳ thành nhất sinh nhung lụa, cuộc đời không gặp bước thăng trầm.

Vậy ngay các sao lớn như Tử Vi, bé nhỏ như Hóa Kỵ, Thanh Long, phải theo quy luật tinh đẩu, nên căn cứ vào vị trí đắc thất, và sự kết hợp có đồng vị đồng tính mới cư đồng gia được, thí dụ ở bàn cờ tướng, con tốt là nhỏ nhất, nhưng nếu nhập được cung rồi, thời đương nhiên thành xe bọc sắt để nghiền nát chủ tướng của đối phương vậy.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn