Bài tổng quan
Vương Mãn cướp ngôi và lá số mẫu Thiên Phủ lận đận
Một người có đủ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm mà vẫn mang tiếng phản nghịch; một người trẻ tự xưng Thiên Phủ mà đời cứ phải rẽ lối khác mãi…
Vương Mãn: lá số của người cướp ngôi nhà Tây Hán
Chuyện xưa kể rằng Hán Cao Tổ Lưu Bang, người khai sáng triều Hán, đóng đô ở phía Tây là Tràng An nên gọi là Tây Hán. Đến đời vua Bình Đế thì bị Vương Mãn cướp ngôi; sau đó Lưu Tú giết được Vương Mãn, khôi phục cơ đồ nhưng dời đô về Lạc Dương ở phía Đông, từ Quang Vũ về sau gọi là Đông Hán.
Tác giả từng đùa là tuyển chọn ngôi sao Tử Vi làm vua; lá số mẫu của Vương Mãn đạt chuẩn cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm đủ năm sao, cộng Tả Phù Hữu Bật. Chỉ thiếu Tả, tức thiếu văn thần tích cực bày mưu hiến kế và ban ra những điều an ủi hỗ trợ khi cần thiết, nên nặng tính võ biền. Nhưng Vương Mãn lại có những đại hạn quan trọng đi ngang các sao còn thiếu: hai mươi ba đến ba mươi hai tuổi qua Tả Phù, ba mươi ba đến bốn mươi hai giáp Tả Hữu, bốn mươi ba đến năm mươi hai hạn Hữu Bật. Những gì ông thiếu được bổ vào đầy đủ. Ông đắc Quan Phù chủ có lập trường, quan điểm, nhưng thiếu con Phượng Các để ngợi ca; có Thanh Long nhưng thiếu Khôi Việt nên khó thành quý nhân, bù lại có Hoa Cái là tay kiệt xuất. Lại có Xương Khúc, chứng tỏ học hành văn chương chữ nghĩa nhất định là giỏi. Chỉ riêng cách Nhị Khúc đã hay không chịu nổi: xuất tướng nhập tướng, văn kiêm vũ bị, đa tài đa năng.
Xuất tướng nhập tướng là ra trận làm tướng võ, về nhà làm tướng văn. Võ tướng thiếu cách này chỉ giỏi hò hét ngoài mặt trận, về nhà xem bản đồ không hiểu, văn kiện đọc mù tịt, đưa ra lệnh lạc sai lầm, chết người dễ như chơi. Văn kiêm vũ bị là văn võ song toàn, đa tài đa năng như cầm kỳ thi họa, vừa đánh giặc vừa làm thơ. Tài năng của Vương Mãn có thừa.
Ba vị vua trong một lá số và cơ hội làm phản
Thành đạt cứ đếm sao ăn tiền. Lá số mẫu này có đủ ba sao Tam Kỳ, tức ba điều kỳ lạ, xét đủ tiêu chuẩn thì không thể chối cãi đây là số của người làm vương làm đế. Ông lại có Linh Tinh chủ linh lạc, lệnh mật, càng thêm đẹp. Những lý do thúc giục Vương Mãn bạo động bắt nguồn từ chỗ: vua thứ nhất là Tử Vi ở trong, vua thứ hai là Phá Quân ngoài đường, tức cung Thiên Di, lại được Cự Môn, vua thứ ba, lục hội vào Mệnh. Ông có ba vua tại Thân Mệnh cùng tài năng sẵn có, nhất là khi bước vào đại hạn tại Điền, giáp Tả Hữu có Không Kiếp đắc lực hỗ trợ, với cách Cự Cơ. Cơ hội lớn đây rồi, nhưng cũng là “cơ hội làm phản”, vì Cự chủ phản. Ông làm chuyện bạo thiên nghịch địa vào lúc đó, mà có bộ Kỵ Hình, tức vi phạm pháp luật, thì chạy đâu cho thoát. Tác giả nhắc người học đừng ham đoán khi chưa học xong: còn nhiều bộ như bộ Cự Cơ mà ta chưa nghiên cứu, chưa học xong đã đoán thì chỉ có đoán mò.
Điều tác giả muốn nói hơn là: những người có Mệnh tại La Võng như Vương Mãn, bình quân cứ sáu người có một, dễ bị hàm oan, tùy mức nặng nhẹ mà “la trời” (Thiên La) và “oán đất” (Địa Võng), từ đó bị nghi oan. Khi bị nghi oan, có lúc người ta làm tới luôn: ta có làm gì đâu mà bị nghi, muốn vậy thì cho vậy luôn. Cách Tử Tướng vốn là cách bị oan ức, nhất là gặp thêm Tang Khốc, Đường Phù, buộc phải gánh một trách nhiệm không phải của mình; không gánh thì mắc oan, gánh lấy cũng mang tiếng. Đặc biệt với Vương Mãn, hai sao Liêm Trinh và Phi Liêm đồng cung, thấy ngay cảnh hai chữ “liêm chính” bị xúc phạm: Phi Liêm nói với Liêm Trinh rằng mi không phải đạo đức đâu, mi không trong sáng đâu. Hai sao đều là biểu tượng binh khí: Phi Liêm là vũ khí bay qua thì Liêm Trinh phóng giáo gươm đánh lại; thiên về nội bộ chém giết lẫn nhau. Vương Mãn còn mang những uần khúc, do cách Nhị Khúc, nhất là cách Linh Xương La Vũ dễ nghe lời xúi giục, cổ vũ của kẻ khác rồi tiếc nuối không kịp.
Từ Vương Mãn về sau còn có Hoàng Sào, một lá số na ná như cách này, tiếc là thất lạc đâu đó không tìm ra. Từ đó người ta thấy lá số có cách Tử Phá ở mộ cung thì mặc cảm, thậm chí không cho thi cử. Các nhà viết Tử Vi ngày xưa, đa phần là quan lại có trình độ văn chương, không ngại phê phán để được lòng vua. Họ gọi đây là cách “phá vua” (Phá Quân chủ phá, Tử Vi chủ đế), nhưng thực chất là cách gắn bó vì sự nghiệp: gắn bó là Phá Quân, sự nghiệp là Tử Vi, và rất dễ hưởng di sản, kế thừa địa vị cha ông để lại. Tác giả mượn lá số Vương Mãn để giải thích một lá số khác như một bằng chứng; muốn đọc kỹ gốc gác cách Tử Vi người học có thể xem phần tổng luận Tử Vi, và đọc thêm về vai trò Tả Phù, Hữu Bật khi chính tinh cần người phụ tá.
Một bên là người muốn ngôi báu và có ba vua trong lá số; bên kia là một người tự gọi mình là Thiên Phủ, cái nhà lớn che chở cho cả gia đình, nhưng đời lại cứ phải đi mãi.
Màu sắc, hành và chuyện Tham Lang thuộc Mộc
Lá số mẫu thứ hai là lá số của một người trẻ, tự xưng Thiên Phủ. Tác giả trước hết phê bình hình thức: lá số do một tài năng trẻ làm bằng phần mềm; công đóng góp của những phần mềm giúp an nhanh lá số là đáng khen, nhưng lộ ra một số khuyết điểm về màu sắc. Màu vàng hành Thổ đem tô ở cung Kim màu trắng; hai màu này cần hoán đổi. Hai cung Hợi Tý màu đen, thôi thì xanh biển cũng được. Tham Lang thuộc hành Mộc chứ không phải Thủy. Một số sách Tử Vi mạnh ai nấy viết, nên nếu sách nào viết hành Mộc thì cái lý nằm ở đây.
Sát Phá Tham là ba anh em, như Nhạc, Huệ, Lữ, hay như ba chị em nhà họ Tống. Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Vậy Phá Quân thủy, Thất Sát kim, Tham Lang phải là Mộc; chiều đi là Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thuận lý, từ đó bộ sao này mới hay. Để nhớ không thể quên, hãy hình dung: Thất Sát nhìn thấy cái gì đó, báo lên vua thứ hai là Phá Quân; ngài bảo Tham Lang, tên thám báo, đến đó xem thực hư ra sao. Lỗi hành Thủy của Tham Lang là do người viết sách: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Thiên Phủ kín đáo gặp Triệt, rồi những đại hạn lận đận
Chủ nhân lá số còn trẻ nhưng tự xưng Thiên Phủ, nên tác giả đành nép mình cung kính gọi bằng “cụ”, vòng tay cúi đầu như người theo Nho giáo. Thiên Phủ là người già như đã biết, “ngon” hơn cả người cao tuổi Thái Tuế. Thiên Phủ là ngôi sao kín đáo, kín cổng cao tường, nhưng ngộ Triệt, mà Triệt được quyền trừ, nên sự kín đáo bị phơi bày, lộ ra hết, dám mặc quần lửng dạo phố. Số phận dễ đẩy về miền Trung gió Lào khô nóng hay nơi nào đó, nhất là khi đại hạn từ bốn mươi ba tuổi trở lên có Mã Phượng Khách và Tham Lang, nghĩa là được quyền tham gia, tham dự, tham quan. Năm chuyển động mạnh là các năm Dậu. Nhưng đây là người có ngôi sao “nhà to”, nên lười đi lại, nhát đi; nếu đi thì có kẻ bế người bồng. Song phú nói:
Lộc Mã giao trì, phát tài viễn quận.
Công việc buộc phải như thế mới có tiền, nhất là giàu sang ở đại hạn bốn mươi ba đến năm mươi hai. Trông cụ rất oai vệ, thu nhận nhiều đệ tử.
Việc làm hợp nhất: Thiên Tướng là ngôi sao xem xét, Thiên Phủ là nhà to, hai cái cộng lại là ngó nhà cho họ, cảnh trông nhà; buồn nhưng đúng, y như làm vệ sĩ mà không dám làm vệ sĩ. May thay có Xương Khúc tại đó, có Quang Quý, có An Nhàn Thai Tọa tại Thân, và có câu phú:
Thiên Mã thiên trình ngộ Trường Sinh ư hưởng phúc.
Tại Quan, nên cụ thiên về quản lý, quản gia, quản trị; không liên quan đến cai trị, vốn của Liêm Trinh như quản đốc, giám đốc, đốc công. Nếu có thì liên quan đến tư doanh mà thôi. Số phận liên quan đến chữ quản, đôi khi lẫn lộn với chữ quản thúc.
Đại hạn hai mươi ba đến ba mươi hai có Vũ Phá tại Thê. Thời điểm xây dựng gia đình đa phần xảy ra tại đại hạn Phu Thê hoặc Phúc Đức: trước hai cung này là sớm, sau là muộn. Người có bộ Phủ Tướng ưa được vỗ về, an ủi, chiều chuộng, nên được tác giả “dâng hiến” (Phượng Các) một cô gái Huế bồng bế cụ, coi như đã có “vợ ảo” (Thiên Hư). Nhưng Vũ Phá là bộ sao “cắt và bỏ”, chỉ sự cắt ngắn, ngắn ngủi và bỏ, nên nhiều cuộc tình qua nhanh không bền, chưa kịp trao kỷ vật hẹn hò đã biến mất. Tâm tư cụ ưa chung thủy nhờ cách Tuần Tướng trọng nghĩa khí, chung tình. Muốn yêu ai dài lâu thì phải yêu cho phù hợp số phận, khi phù hợp rồi Phá Quân mới mang ý “gắn bó”: ngôi sao này mang cùng lúc hai yếu tố trái ngược, bỏ hay nắm lấy. Cung Mệnh có Hư là tiếng thở dài, đến đây gặp Thiên Khốc là tiếng khóc, thành bộ Hư Khốc: đại hạn khóc, tiểu hạn lại thở dài; yêu đương chơi vui thì được, đừng hy vọng chi. Đại hạn cũng dễ gặp hận tình, vì cách Khốc Tướng là tiếng khóc tình yêu. Chí lớn nam nhi mà ngồi khóc chuyện yêu đương thì chướng; cũng không nên coi trọng tình yêu đến thế.
Hạn Vũ Phá cũng ảnh hưởng đến công việc, vì đại hạn đóng tại đây, tức cung Mệnh thứ hai: như dọn nhà đến ở, đi theo mang cả “tiếng thở dài” kết duyên với “tiếng khóc”. Đây là “khúc rẽ đời cụ”: rẽ vào đâu cũng có người chọc phá, rẽ lối khác có kẻ ép buộc, rẽ lối nọ có người bắt bẻ, nên cụ chán nản, ưa bỏ cuộc, nhất là năm có lưu Đại Hao. Quan sát mười năm thấy công việc bất ổn: có nơi chán vì sự bắt bẻ của Thiên Hình, có nơi ép buộc phá phách của Phá Quân. Những cách như Tử Phá, Tử Tham, Tử Sát, Liêm Tham, Liêm Phá, Liêm Sát, Vũ Phá đều vậy: Tử Vi ưa ổn định, đụng đầu Sát Phá Tham là thấy bất ổn. Đại hạn này cần chú ý cách Linh Sát Phá nhất là có Hình:
Linh phùng Sát Phá hạn hành, Văn Vương xưa cũng giam mình ngục trung.
Đây là cách thất vọng, thất kinh: Linh là rụng rời chân tay, Thất Sát chủ thất kinh, Thiên Hình chủ hình phạt. Nên tránh xung đột va chạm không cần thiết.
Đại hạn ba mươi ba đến bốn mươi hai bắt đầu có uy tín. Cơ Nguyệt Đồng Lương vốn là hạn êm đềm hưởng phúc, nhưng ở đây nhiều sóng gió, tranh luận. Mấy chữ “êm đềm” cụ cho là láo khoét, nên có thể lạnh lùng viết rằng “hạnh phúc là điều không có thật” (Thiên Đồng cộng Thiên Không). Viết cũng ra tiền (Hóa Lộc là hóa thành tài lộc); cây bút Kình Dương càng sắc bén nhờ Khôi Việt. Con cái vợ chồng hóa ra cực thân; đây là đại hạn nhiều sóng gió thị phi nhất, lao tâm khổ trí, đêm không yên, thân thể cũng dễ tổn thương.
Đại hạn bốn mươi ba đến năm mươi hai là thành đạt nhất, nên mua chiếc xe tốt mà đi. Có một chi tiết buồn cười: phú nói “Trường Sinh tại Hợi, tuyệt xứ phùng sinh nhi phùng Thiên Mã, loạn thế xuất đầu”, nghĩa là cụ sinh nhầm thế kỷ, đáng lẽ sinh thời loạn để loạn thế xuất đầu; nhưng phước cho cụ, đừng tiếc. Thiên Phủ ngộ Triệt dễ dính đạn, vì mới che một nửa, dấu đầu hở đuôi; cái cây biết chạy thì hỏa lực tập trung vào đấy.
Đại hạn năm mươi ba đến sáu mươi hai là đại hạn cuối. Vì Thiên Phủ kỵ Tam Không; từ Tật Ách nhìn lên thấy đủ ba Không là Triệt Không, Tuần Không và Thiên Không Không Vong. Ba chữ Không này không cho đi nữa; Thân cư Thất Sát là yểu cách. Phú nói:
Thất Sát lâm Thân Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương.
Nghĩa là hạn đến năm có Bạch Hổ phải đề phòng, tức năm Mão. Ngoài ra các năm Hợi có lưu Bạch Hổ tại cung Thân dễ bị hổ liếm; Bạch Hổ lưu động này chỉ liếm những người có Thất Sát tại Thân Mệnh. Thất Sát là giết, là đè, là ép, bị chèn, nên không nên đi lại dưới những vật có nguy cơ sập xuống, đổ xuống. Làm ăn nên hợp với những người có Tử Vi tại Mệnh, Tả Hữu tại Mệnh; kỵ gặp những người có Triệt, Thiên Không, nhóm Sát Phá Tham dễ rách việc.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
