Bài tổng quan
Cách giải họa qua chính tinh, Ân Quang, Tả Phù, Hữu Bật
Trong bốn sao Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội lại một chỗ, sát tinh và hung tinh đều phải chịu thua, vì mỗi sao chuyên khắc một loại hung. Nhưng có sao chỉ ban phúc mà không giải họa, có sao chỉ giải được khi đứng đúng vị trí…
Cách giải họa qua các sao
Cần lưu ý rằng những sao giải họa không nhất thiết lúc nào cũng phải là sao tốt. Có nhiều loại họa cần đến hao tinh, ví dụ như bệnh hoạn cần có Đại, Tiểu hao mới dứt được.
Mặt khác, khi thấy sát, chớ nên vội cho rằng có họa bởi vì nết sát hung tinh đi liền với cách Sát Phá Liêm Tham thì thích hợp, không hẳn phải gây họa.
Cũng có những cát tinh mà vẫn gieo họa vào một giai đoạn nào đó. Ví dụ như Đào hoa, Thiên Không nói chung không có họa, nhưng nếu lúc già mà gặp phải thì có thể chết. Những sao Bệnh, Tuyệt, Tử, lúc nhỏ không mấy ảnh hưởng, nhưng sẽ có thêm hiệu lực lúc con người đã luống tuổi.
Dù sao, đó là những trường hợp biệt lệ và hãn hữu. Theo lý thông thường thì có những sao giải họa sau :
Chính tinh giải họa
Có thể nói tất cả chính tinh đều đắc địa trở lên đều có ý nghĩa phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc địa, hiệu lực càng mạnh.
Ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt. Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi liền nhau, hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa.
Trong số chính tinh miếu, vượng và đắc địa, có vài sao có hiệu lực giải họa mạnh. Đó là : Vũ Khúc, Thiên tướng, Tử-Vi, Thiên phủ, Thiên lương, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên cơ.
Vũ Khúc
Đây là sao giải họa mạnh nhất. Thái Thứ Lang cho rằng Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì không đáng lo ngại. Quan điểm này có phần hơi lạc quan vì nếu cả 6 sao hội họp, hẳn Vũ khúc dù miếu địa, cũng phải khốn đốn không ít. Nhưng trên thực tế, ít khi có trường hợp xui xẻo như thế, nhiều lắm là gặp 4 trong 6 sát tinh, có lẽ còn nằm trong khả năng cứu giải của Vũ khúc. Sánh với Tử-Vi, Vũ khúc cứu giải mạnh hơn vì tử vi chỉ chế được Hỏa, Linh mà thôi.
Đặc biệt là khi Vũ khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.
Thiên Tướng
Tướng đắc địa trở lên chế khắc được sát tinh. Sao này được xem như chủ tể của các âm binh, cho nên kìm chế được tác họa của chúng. Sở dĩ như thế có lẽ vì Thiên Tướng là võ tinh, hợp cách với những võ tinh khác.
Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Đây có thể là trường hợp quân nhân cầm binh, có nhiều thuộc hạ dưới trướng, đắc dụng trong thời loạn.
Được Vũ khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường : đây là phối cách có lợi nhất, tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể.
Thiên Tướng chỉ ngại Kình Dương, Thiên Hình và 2 sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Còn với Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu, tật, họa nặng nề hơn nữa.
Tử Vi
Tử Vi tuy là đế tinh, đứng đầu các vì sao, nhưng chỉ hay khi nào đắc địa trở lên và được cát tinh khác đi kèm. Tử Vi có hiệu lực cứu giải khá mạnh vì sao này vừa là phúc tinh, vừa là phú tinh, vừa là quý tinh.
Là phúc tinh, Tử Vi che chở con người chống lại bệnh, tật và họa. Sao này tượng trưng cho cái phúc trời cho, cái phúc Thiên phú. Nhờ đó, bản mệnh cá nhân được vững vàng. Nhưng, dường như Tử Vi chỉ ban phúc chớ không giải họa mạnh như Vũ khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Hai sao này gọi là “đoản thọ tinh” làm non yếu. Nhưng có Tử Vi, bản mệnh sẽ được thọ, con người ít bệnh, tật. Gặp sát tinh khác như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo : tuy không chết, nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật. Vì vậy, nhiều tác giả đều đồng nhất cho rằng Tử Vi phải xa lánh sát tinh thì mới có uy lực. Điều này nói lên quan niệm thuần cách của khoa Tử Vi có nghĩa là cát tinh phải đi chung với nhau, đừng pha trộn với sát tinh thì mới tốt.
Là phú tinh, Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo đói đồng thời giúp con người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc.
Là quý tinh, Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội. Người có Tử Vi ở mệnh không thể cùng đinh của nhân loại, khỏi phải gánh bất trắc như một thường dân bị áp chế bởi một thế lực. Tử Vi bảo đảm một địa vị ít nhất cũng trung lưu, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp. Càng đắc địa, càng được các tinh hỗ trợ, giai cấp xã hội của Tử Vi càng cao.
Phúc đức, tiền bạc và địa vị mà Tử Vi mang đến sẽ giúp cho con người có điều kiện giảm thiểu bệnh, tật và họa. Điều này không hẳn có nghĩa là tránh được ba tai cách này, nhưng nếu có xảy ra, thì hậu quả không đáng lo ngại lắm cho bản mệnh, chỉ gây lao đao cho cuộc sống mà thôi. Ban cho con người điều kiện để giải họa, nhưng Tử Vi vẫn không phải là sao trực tiếp giải họa. Có thể nói đây là cách giải họa gián tiếp mà thôi.
Thiên Phủ
Phủ cũng có đặc tính như Tử Vi, nghĩa là Phúc tinh, tài tinh và quyền tinh, nhưng hiệu lực kém hơn. Duy Thiên Phủ có khả năng mạnh hơn Tử Vi trong việc đối chọi với sát tinh. Trong khi Tử Vi chỉ khắc phục được Hỏa Linh thì Thiên Phủ có tác dụng khắc phục được cả Kình, Đà. Nhưng rất tiếc là hiệu lực này chỉ có đối với từng sao riêng rẽ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Nếu chẳng may Phủ gặp cả bốn (tứ hung) thì mất nhiều uy lực.
Lẽ dĩ nhiên Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp. Thái Thứ Lang còn cho rằng Phủ còn chịu thua sao Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải. Cho nên, các tác giả cho rằng cách Phủ gặp sao Không (gọi là Phủ phùng Không trong đó có Thiên Không, Địa Không, Tuần và Triệt Không) thì Phủ chẳng những vô dụng mà còn chiến bại.
Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung
Nhờ sự kết hợp đó, bộ sao này cứu giải mạnh hơn, chế hóa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp (tứ hung). Nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn trong cuộc đời. Bản mệnh chỉ vững trãi nếu được đắc cách Mệnh cục, tương sinh. Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng.
Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp. Cuộc đấu tranh như thế có chiều hướng tương đương và chắc chắn là rất chật vật. Đắc cách Tử Phủ Vũ Tướng toàn bộ, hy vọng cứu giải sẽ nhiều hơn.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách
Với đặc tính cứu giải của cả bốn sao hội hợp, hẳn là sát tinh, hung tinh phải chịu thua vì mỗi sao chuyên môn chế khắc một loại hung hay sát tinh. Có lẽ đây là cách giải họa thập toàn nhất, nhưng với điều kiện là cả bốn sao phải đắc địa trở lên. Cách Tử Phủ Vũ Tướng được khoa Tử Vi xem như hay nhất trong các cách.
Thiên Lương
Sao này là Phúc tinh, thiện tinh, chỉ sự đôn hậu, hiền hòa, làm việc lành, tránh việc ác, thường có xu hướng bác ái. Thiên Lương là người có phẩm hạnh, có đức lớn, được sự mến chuộng của người đời, không có thù chỉ có bạn, vì vậy ít gặp hung sự.
Hiệu lực cứu giải của Lương bắt nguồn từ phẩm hạnh của mình và sự che chở của người đời. Nếu Lương đóng ở Phúc thì đức của ông bà duy truyền được cho mình. Nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng có lẽ Thiên Lương chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.
Thiên Đồng
Ý nghĩa tương tự như Thiên Lương , nhưng hiệu lực cứu giải có lẽ kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực.
Đối với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa. Vì có nghĩa bệnh, Thiên Đồng giải bệnh tương đối kém.
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa
Hai sao này tượng trưng cho hai nguyên khí căn bản của trời đất. Ứng dụng vào con người, Nhật Nguyệt sáng sủa chỉ sự phò trợ của linh thiêng, của cha mẹ (Nhật là cha, Nguyệt là mẹ) hay dòng họ bên nội, ngoại. Như vậy, Nhật Nguyệt hàm chứa một nội dung phúc đức rất phong phú, nên có thể liệt vào hàng phúc tinh đắc lực, có khả năng cứu giải rộng rãi.
Khả năng giải họa của Nhật, Nguyệt còn bắt nguồn ở sự thức thời của Nhật, Nguyệt.
Hai sao này chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ trời, tình người. Từ đó, Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tóm lại, cách giải họa của Nhật Nguyệt do sự chi cơ và sự thích ứng.
Tuy nhiên, đối với bệnh, Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực. Nếu sáng sủa, hai sao này báo hiệu sự căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí. Vì chỉ bệnh nên hai sao này khó giải bệnh, nhất là bệnh đó lại là bệnh tinh thần, chỉ được cứu giải bằng tâm linh của chính đương số.
Đối với tật, Nhật Nguyệt thường báo hiệu những tật như viễn thị, cận thị, nhất là khi gặp phải Ám tinh như Hóa Ky. Sao này ví như đám mây che bớt sức sáng của Nhật Nguyệt, từ đó có nghĩa làm giảm độ sáng của đôi mắt. Có quan điểm cho rằng Nhật Nguyệt sáng gặp Hóa Ky thì tốt thêm, nhưng đây chỉ tốt đối với trí tuệ mà thôi. Độ sáng quá mức bao giờ cũng hại cho thần kinh và tật của cặp mắt. Trường hợp này cho thấy sự bù trừ của luật tạo hóa, luật tương đối của Nhân Sinh.
Theo thiển nghĩ, Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh, nhưng phải bị sát tinh Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu, Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Ky càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.
Thiên Cơ
Sao này là thiện tinh, nhưng đồng thời cũng chỉ sự thông tuệ, mưu cơ, Thiên Cơ là người vừa hiền vừa khôn (tương tự như Nhật, Nguyệt).
Có lẽ hiệu lực cứu giải bắt nguồn từ đó.
Nhưng về mặt bệnh lý, Thiên Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.
Cần lưu ý chung là hiệu lực cứu giải của những chính tinh kể trên chỉ có nếu những sao này ở vị trí Miếu Vượng hay đắc Địa và không bị Tuần Triệt án ngữ.
Nếu hãm địa, khả năng cứu giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không được phục hồi như ở vị trí Miếu, Vượng địa mà chỉ có thể chỉ tương đương với sao đắc địa. Thành thử, Tuần Triệt là hai sao rất quan trọng làm thay đổi hiệu lực sao giải.
Phụ tinh giải họa
Sau các chính tinh vững vàng, đến những vì sao nhỏ hơn, những vì sao mà nhiều khi chỉ một tiếng vang lên cũng đủ đổi hướng cả một cơn hạn.
Trong các giải tinh thuộc hàng sao phụ, tuỳ theo đặc tính, ý nghĩa có thể xếp thành bốn nguồn cứu giải : từ linh thiêng, từ con người, từ chính mình và từ các nguyên nhân khác.
Những giải tinh bắt nguồn từ linh thiêng
- Ân Quang, Thiên Quý
- Thiên giải, Địa giải, Giải thần
- Thiên Quan, Thiên Phúc
Bảy sao này ám chỉ sự bảo trợ vô hình của linh thiêng cho con người. Những sao này có lẽ thể hiện cái phúc thiên phú mà con người hưởng thụ ngoài Cung Phúc. Trong trường hợp đóng ở những Cung Phúc, Mệnh Thân, thì phúc đức đó được xác nhận cụ thể, những giải tinh này bao giờ cũng bổ túc cho cái tốt của những tinh khác, không khi nào đi ngược.
Sự bảo trợ của linh thiêng được cụ thể hóa qua :
- Những may hên đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai hoạ.
- Những may hên đó, vốn không phát xuất từ sự giúp đỡ của người đời hoặc những lợi điểm của chính mình, có lẽ bắt nguồn từ những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi đặc biệt cho riêng mình. Vì không tuỳ thuộc cá nhân, nên những may hên đó rất khó cắt nghĩa, có thể nói là không cắt nghĩa được.
Trong số bảy sao kể trên, mạnh nhất là Ân Quang, Thiên Quý và Thiên Giải. Được những sao này phủ mệnh, Thân, con người hầu như được thần linh che trở, bất khả xâm phạm trước những họa lớn, bản mệnh được vững vàng trước những biến cố từng khiến khốn đốn những kẻ thiếu may. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tính cách vô tai họa đó có thể là kết quả của một thái độ tu hành, không gây sự , không tạo nghiệp khó, có thể là một thái độ bất động cố ý, một thái độ cầu an, hoặc là một thái độ quá tinh khôn biết tiên liệu hậu quả bất lợi. Nhưng dù là do thái độ nào đi nữa cái may mắn vẫn là cái may.
Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp đỡ của người đời
Tả phù, Hữu bật
Hai sao này chỉ cứu giải khi nào đắc địa ở Thìn Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Nếu đi với Sát, hung tinh thì Tả Hữu làm cho mối họa nhiều hơn và mạnh hơn.
Trong ý nghĩa cứu giải, Tả Hữu tượng trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp. Nhưng điều cần lưu ý là hai sao này chỉ cứu họa chớ không giải bệnh.
Trong trường hợp bị Tuần, Triệt, hiệu lực sẽ giảm đi nhiều có nghĩa như có sự giúp đỡ mà không đạt được ý nguyện, công việc không thành.
Tả Hữu cũng còn có ý nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở mệnh, đương số dễ dàng thành đạt. Thiếu nó, con người tương đối đơn độc khi hành động. Thành thử, tả hữu cần đi chung với chính tinh đắc địa, làm cho chính tinh này mạnh thêm. Đó là hai yếu tố thành công nhờ vây cánh, bè cánh.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
