Bài tổng quan
Vì sao Tử Vi Việt Nam giữ lại đúng 111 ngôi sao
Cùng một khoa Tử-Vi khởi từ Trần Đoàn, sách Trung Hoa chỗ thì kể 82 sao, chỗ thì kể 110, có bản lại lên đến 123. Còn Tử-Vi Việt Nam thì dừng gọn ở con số 111, không thêm không bớt. Giữa những con số chênh lệch ấy, đâu mới là danh sách nguyên thủy...
Cùng một khoa Tử-Vi khởi từ Trần Đoàn, sách Trung Hoa chỗ thì kể 82 sao, chỗ thì kể 110, có bản lại lên đến 123. Còn Tử-Vi Việt Nam thì dừng gọn ở con số 111, không thêm không bớt. Giữa những con số chênh lệch ấy, đâu mới là danh sách nguyên thủy, và vì sao người Việt lại chọn dừng ở 111 ngôi sao...
Nhận định về số lượng các sao
Khoa Tử-Vi xuất hiện cách đây hơn 10 thế kỷ. Vì sự chứng nghiệm của bộ môn này trên nhiều lãnh vực sinh hoạt con người cho nên có rất nhiều kẻ hiếu kỳ học, tìm xem, tìm khảo cứu. Tác giả về Tử-Vi học kể ra rất đông, lớp tác giả Trung Hoa, lớp tác giả Việt Nam. Khi khoa Tử-Vi được du nhập vào Việt Nam, học giả lại sao chép và bình chú thêm, nhưng lại không theo nguyên tắc sư phạm, lẫn lộn nguyên tắc với bình chú, chưa kể họ chế biến lại khá nhiều.
Vì những lý do đó, đối với các sao, sự tranh chấp giữa các tác giả không thể tránh được, nhất là về số lượng các sao sử dụng trong lá số.
Về số lượng, tựu trung có hai quan niệm: một của Việt Nam và một của Trung Hoa nói chung.
Quan niệm Việt Nam
Người Việt Nam học Tử-Vi của Trung Hoa, nhưng lại không nệ cổ, đã tìm cách ứng biến, thích nghi theo nhu cầu của dân tộc tính. Cho nên, Việt Nam đã loại bỏ một số sao và còn cho thêm một số sao khác, không có trong nguyên tác của Trần Đoàn.
Tổng số sao mà Tử-Vi Việt Nam sử dụng là 111, gồm 14 chính tinh, 97 phụ tinh. Các tác giả Việt Nam hầu như đồng nhất về số lượng này. Tên gọi các ngôi sao này đã được dẫn giải đầy đủ trong quyển Tử-Vi Hàm Số.
Tuy nhiên, vì Việt Nam vừa cóp nhặt, vừa chế biến cho nên không chắc phản ảnh đúng quan niệm chính tông và nguyên thủy của Trung Hoa về số lượng và tên gọi các sao. Sách Tử-Vi Việt Nam không hề liệt kê sao nào nguyên gốc Trung Hoa, sao nào Việt Nam bổ túc. Việc khía cạnh Tử-Vi ở Việt Nam, vì không được tổ chức nên chỉ có tính cách cá nhân, không theo phương pháp sư phạm, chưa kể nạn thiếu sách, thiếu Hán học, thiếu dịch thuật.
Những quan niệm Trung Hoa
Chính người Trung Hoa cũng bất nhất về số lượng các sao. Tác giả Trung Hoa nào cũng tự nhận là đã tham chiếu Trần Đoàn, nhưng lại liệt kê số sao và tên sao không đồng nhất.
a) Xuất xứ thứ nhất mà tôi sưu tập được là quyển Tư-Vi Đẩu Số Toàn Thư do hai tác giả Phan Hy Doãn và Dương Nhất Vũ bổ túc và nhuận sắc sách của Trần Đoàn được nhà Hương Cảng-Côn Luân xuất bản vào đầu 1972 tại Hồng-Kông. Sách này chỉ kể có 82 sao, nói là của Trần Đoàn đặt ra, gồm:
- 19 chính tinh (Lộc Tồn, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật được coi là 5 chính tinh).
- 63 phụ tinh, trong đó đáng kể là có 2 sao Phi Liêm viết khác nhau.
b) Xuất xứ thứ hai là quyển Phi Tinh Tử-Vi Đẩu Số do một nhóm biên tập Văn Nguyên Thư Cục Đài Loan ấn hành lần thứ ba, 1972. Theo nhóm này có tất cả 110 sao bao gồm:
- 19 chính tinh (giống như trong xuất xứ thứ nhất).
- 91 phụ tinh, trong đó có 16 sao hoàn toàn lạ. Điều đáng lưu ý là trong bảng liệt kê các sao, nhóm biên tập không hề chú giải nguồn gốc, tác giả nào được tham chiếu, nên gây hoài nghi, không biết 16 sao này có phải xuất xứ từ Trần Đoàn mà ra hay không.
c) Xuất xứ thứ ba là một lá số do chính soạn giả có dịp xem, trong đó thấy hiện diện 13 sao lạ nữa. Vì không rõ được tác giả dựa vào sách nào mà an 13 sao đó nên không truy đoán được nguồn gốc. Rất có thể 13 sao này có trong sách của Trần Đoàn. Cũng có thể là không có.
| 1. Thiên tặc | 5. Tử biệt | 9. Tử thần | 13. Thánh tâm |
| 2. Thiên xá | 6. Sinh khí | 10. Câu thần | |
| 3. Ân xá | 7. Gian thần | 11. Liêm báo | |
| 4. Hồng diễn | 8. Giảo hoạn | 12. Lục hại |
Vì không rõ nguồn gốc cho nên soạn giả không biết các sao này được an như thế nào và có ý nghĩa ra sao. Nếu cộng với 110 sao của xuất xứ thứ hai thì tổng số là 123.
Thái độ lựa chọn
Quả thật sự lựa chọn bao gồm nhiều khó khăn, vì thiếu yếu tố xác thực, vì lạc mất nguyên tác, vì nạn ngụy thư và vì thiếu phương tiện sưu tầm đến nơi đến chốn.
Quan niệm Trung Hoa với 123 vì sao thì quá bi quan bởi lẽ có quá nhiều sao xấu (16 sao mới trong xuất xứ thứ hai, 13 sao lạ trong xuất xứ thứ ba). Nếu lấy số theo 123 vì sao này thì trên đời không còn ai là bạn tốt: hầu hết là kẻ lưu manh, ít, nhiều. Với 123 sao đó, họa bệnh, xui xẻo của con người quá nhiều khả dĩ có thể đè bẹp nhân loại, cuộc sống trong xã hội dẫy đầy cạnh tranh, gian xảo, lường gạt, bất trung, bất hiếu, bất tín, bất nghĩa, bệnh họa không kể xiết, nó tương ứng với cá tính con người trong hoàn cảnh chiến tranh, tranh giành miếng cơm, manh áo, phú quý vinh hoa một cách gay gắt. Phải chăng 123 sao đó phản ảnh trung thực hình ảnh của xã hội Trung Hoa nhiễu loạn và nhân mãn? Nếu lý luận này đúng thì số lượng 123 khả chấp cho trường hợp Trung Hoa, nhưng chưa chắc thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam.
Từ luận cứ đó, thái độ của chúng ta là chấp nhận quan niệm Việt Nam, dùng 111 vì sao với tên gọi đích danh của nó, đã được các sách Tử-Vi Việt Nam liệt kê đồng nhất, và một lần nữa đã được kể trong quyển Tử-Vi Hàm Số. Như vậy, chúng ta loại bỏ 29 sao gồm:
- 16 sao mới của Trung Hoa của xuất xứ thứ hai, đã được đề cập trong quyển Phi Tinh Tư-Vi Đẩu Số. Ngay quyển này cũng không cho 16 sao đó là quan trọng và không có kết hợp phong phú: quyển này tập trung việc giải thích kỹ càng những sao cổ điển thông dụng mà thôi.
- 13 sao lạ xuất xứ thứ ba mà nguồn gốc không rõ ràng, không thấy sách nào liệt kê hay giảng nghĩa.
Duy có điều phải nhận xét là Việt Nam ta trong khi loại bỏ 29 sao của Trung Hoa, lại thêm vào 14 sao: Địa không, Tuế phá, Tử phú, Trực phù, Lưu hà, Đào hoa, Phúc đức, Thiên giải, Địa giải, Thiên trù, Thiếu âm, thiếu dương, Thiên y, Quan phù. Sách vở Tử-Vi Việt Nam không nói rõ tác giả nào đã thêm bớt, cũng không nói rõ thời gian hoặc lý do thêm bớt. Duy có điều hầu hết 29 sao bị gạt bỏ đều có ý nghĩa bi đát, xui, xấu mà các cụ Việt Nam ngày xưa có lẽ đã xét rằng không mấy thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Phải chăng các cụ ta cho rằng nước Việt Nam không phải là quốc gia nhiễu loạn triền miên như Trung Hoa, cũng không bị áp lực nhân mãn kiểu Trung Hoa, cho nên tâm lý dân tộc không quá về ác tính. Do đó, không cần phải du nhập 29 sao xấu vào Tử-Vi tinh hệ? Dù sao, Tử-Vi Việt Nam cũng là Tử-Vi Trung Hoa cải biến, tuy không còn giữ gốc, song đã được thích nghi lại theo đặc điểm của dân tộc tính. Chúng ta không cóp nhặt mù quáng một bộ môn nhân văn mà ta cũng thừa biết phải thay đổi theo địa lý nhân văn. Sáng kiến của người Việt Nam bắt nguồn từ đó. Kỹ năng và óc thích ứng của ta cũng thể hiện ở đó. Hấp thụ văn hóa Trung Hoa, dân tộc Việt Nam vẫn cố duy trì bản sắc đặc thù, không chịu đồng hòa, không ưng lệ thuộc mà muốn sáng tạo cái gì riêng hợp với mình.
Vấn đề đặt ra ở mục này không phải là đề cao công trình Việt Nam hóa mà phải cứu xét xem với kết quả Việt Nam hóa đó, liệu khoa Tử-Vi có chính xác hơn, phong phú hơn, cụ thể hơn cho việc tiên đoán vận mệnh dân ta hay không? Trả lời câu hỏi này quả thật không dễ, kinh nghiệm và kiến thức của soạn giả nhất định không đủ để xác định và nhất là để tổng quát hóa. Phải cần thêm quan điểm của nhiều học giả khác suy tư về nghi vấn này. Dù sao, nếu cứ lạm bàn, theo thiển nghĩ, 111 vì sao (trong đó có 14 sao cải tiến) tương đối vừa đủ để đoán con người và cuộc đời con người một cách khá súc tích và chính xác. Soạn giả cũng ý thức rất mạnh cái lý tương đối của phương trình nhân sự và những giới hạn cố hữu của các bộ môn nhân văn, cho nên không dám đòi hỏi Tử-Vi học phải tuyệt đối hoàn hảo và chính xác, khoa Tử-Vi nhiều lắm là chỉ khám phá ít nhiều nhân cơ, chưa dám nói là khám phá thiên cơ. Chỉ riêng trong địa hạt nhân cơ mà thôi cũng còn có nhiều huyền diệu mà bộ óc con người, dù có siêu quần đến đâu, cũng không chắc lý hội hết nổi. Âu là cứ cố gắng cải tiến, đào sâu kho tàng hiện có để tiến trên cái đã có, theo một nỗ lực liên tục của lịch sử. Thiết tưởng thái độ này không đến nỗi hoàn toàn bảo thủ. Khoa Tử-Vi có điểm mạnh, điểm nhược. Người khảo cứu Tử-Vi không khai triển điểm mạnh và luôn luôn tìm cách bổ khuyết điểm nhược. Vì vậy, người học Tử-Vi không thể chỉ dựa vào kiến thức từ chương của khoa mà còn phải sáng tạo, ứng biến vận dụng linh hoạt các yếu tố để bù đắp khiếm khuyết của khoa này. Phần sáng tạo, ứng biến và vận dụng linh hoạt này thuộc địa hạt nghệ thuật. Đó là lý do mà soạn giả chia quyển Tử-Vi tổng hợp thành hai phần Khoa Tử-Vi và Thuật Tử-Vi. Khoa là phần kiến thức lý thuyết căn bản. Thuật là phần vận dụng sáng tạo lý thuyết đó để giải đoán các trường hợp thực tế.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
