Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vì sao đoán số dễ sai và ba tiêu chuẩn phải đạt

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn28/09/202614 phút đọc3 lượt đọc
Vì sao đoán số dễ sai và ba tiêu chuẩn phải đạt

Học thuộc ý nghĩa từng sao, từng cung là chuyện của trí nhớ; nhưng đặt bút đoán cho một người thật lại là chuyện khác hẳn. Khoa Lý số học đòi một lời giải đoán vừa đầy đủ, vừa cụ thể, vừa chính xác — ba tiêu chuẩn tưởng đơn giản nhưng hiếm ai đạt trọn cả ba. Trước khi bàn đến hai nền tảng Âm Dương Ngũ Hành và ý nghĩa các sao, có một câu hỏi cần trả lời trước đã...


Kẻ mới nhập môn, trong tay có tấm bảng an đủ sao đủ cung, hay ngỡ rằng đoán số chỉ là công việc lật sách tra bảng: vì sao nào lành, vì sao nào dữ, hai sao gặp nhau thì bù trừ ra sao. Thế nhưng những ai đã theo khoa Lý số học nhiều năm lại nói ngược lại: đi càng sâu thì càng thấy đoán đúng là điều gian nan, và càng dễ lầm. Nỗi khó không đến từ việc thiếu phép tắc; trái lại, phép tắc nhiều đến mức có điều chỉ hợp với vài trường hợp hẹp, có điều lại đụng độ với điều khác. Nằm lòng các nguyên tắc là một việc; nhìn ra lúc nào phải dùng nguyên tắc nào lại là một việc khác hẳn, và chính khoảng cách giữa hai việc ấy phân biệt người tra sách với người thật sự biết đoán.

Đoán số là nghệ thuật ứng biến, không phải phép tính đúc khuôn

Ý nghĩa của từng sao, từng cung, từng cách cục, người học đều có thể thuộc trọn; ấy là phần của trí nhớ và sự cần mẫn. Song muốn đoán giỏi còn phải có một năng lực mà sách không truyền được: đem những điều đã học mà ứng dụng mềm dẻo vào đúng một lá số, của đúng một con người. Học và đoán vận hành bằng hai lối tư duy không giống nhau. Người học nghiêng về lý thuyết, sách viết sao thì ghi nhớ đúng vậy. Người đoán nghiêng về thực hành: biết co, biết giãn, biết cân đo, biết lúc nào một quy tắc chung phải uốn lại cho vừa với cảnh ngộ riêng. Chính vì thế, đoán hay cần đến kinh nghiệm, và kinh nghiệm là thứ mà riêng việc đọc sách chẳng bao giờ cấp cho đủ.

Những trang này không mang hoài vọng biến người đọc thành tay đoán số lỗi lạc chỉ sau vài lượt đọc. Mục đích khiêm tốn hơn: thu góp lại điều các bậc đi trước đã tích lũy về cách chẩn đoán, về những phép cân nhắc yếu tố sao cho dễ nhớ, và về các hố sai lầm hay gặp. May thay, đường lối giải đoán của khoa Lý số học không đổi thay nhiều theo thời gian hay theo môn phái, nên vẫn có thể chắt ra vài nguyên tắc chung dùng được cho mọi lá số.

Lời đoán phải qua ba thước đo

Xét đến cùng, lời đoán hay hay dở được phân định bằng ba thước: đủ hay chưa, cụ thể hay chưa, chính xác hay chưa. Ba thước này đứng riêng rẽ. Có lời đoán rất dồi dào, chạm mọi mặt của một đời người, mà lại mơ hồ, không một nét nào đủ rõ để nhận ra riêng người ấy. Cũng có lời đoán cụ thể, chỉ trúng vào một đặc điểm sắc cạnh, nhưng hóa ra sai xa so với thực tế.

Đầy đủ — không để sót góc nào của lá số

Để đầy đủ, người xem phải lần lượt luận qua mọi cung, mọi sao, mọi cách cục có mặt trên lá số; luận cả những tương quan Âm Dương Ngũ Hành giữa chúng, những biến cố gắn với từng chặng đời, cùng cá tính của đương số và của những người gắn bó mật thiết với họ. Nói gọn, đoán cho đủ nghĩa là không được bỏ qua cung nào, sao nào, cách nào, yếu tố nào, thời hạn nào, biến cố nào, người liên hệ nào. Việc ấy tốn nhiều công sức và thời gian, không thể lướt vài phút cho xong. Đầy đủ còn mang thêm nghĩa phong phú: đã đoán khắp các điểm nêu trên thì mỗi điểm cần được nói cô đọng, và khi có thể thì đào sâu vào chi tiết.

Cụ thể — chỉ ra được nét riêng của mỗi người

Xem Lý số mà chỉ nói chung chung thì còn thiếu. Sự cụ thể gồm hai vế. Vế thứ nhất, phải bắt ra được nét đặc thù của con người, của đời người, của những người có liên quan trong lá số, thay vì buông lời sáo rỗng mà áp cho ai cũng trúng. Vế thứ hai, phải nói rõ biến cố sẽ diễn ra như thế nào, không được lửng lơ nước đôi. Người đoán cụ thể phải cân cả phẩm lẫn lượng của từng việc, từng người, chứ không dùng một công thức chung cho thiên hạ. Ví dụ, khi bảo một người sẽ giàu thì phải xác định được mức giàu là bao nhiêu, đi bằng con đường nào, và rơi vào quãng nào trong đời; nói trống không "số này giàu" thì chưa phải lời đoán. Rốt cuộc, tiêu chuẩn cụ thể phải giúp người nghe phân biệt được đương số này với người khác: kết luận ở điểm nào cũng cần sắc đủ để dễ nhận ra, dễ tách họ khỏi đám đông.

Chính xác — thước đo khó đạt nhất

Trong ba thước đo, thước này gian nan nhất. Kết luận chính xác là kết luận khớp với sự thật, tìm ra những việc thực sự đã xảy ra và được chính đương số nhận là đúng. Chẳng hạn, kể hết các nét tính cách của một người thì mới là đủ; song chỉ khi những nét kể ra đúng là nét nổi bật, rõ rệt nhất nơi họ thì lời đoán mới chính xác thật sự. Dĩ nhiên, sự chính xác chỉ kiểm chứng được với việc đã hoặc đang diễn ra, còn chuyện mai sau thì chưa thể khẳng định; nhưng đoán trúng quá khứ và hiện tại cũng đã là thành tựu không nhỏ. Thực tế cho thấy khoa Lý số học ít khi đạt độ chính xác tuyệt đối, trừ vài sự việc có đặc điểm đơn giản, hiển nhiên. Được tám phần mười đã kể là kết quả tốt.

Đầy đủ, cụ thể và chính xác không phụ thuộc lẫn nhau: có thể đoán rất dồi dào mà thiếu nét rõ rệt, có thể đoán rất cụ thể mà lệch khỏi sự thật. Người đoán giỏi phải gắng đạt được cả ba một lượt, dù đó là việc chẳng dễ, và cũng chính vì khó nên ba thước đo này mới đáng dùng để tự soi lại mỗi lần đưa ra một lời luận giải.

Có một điều nên nhớ khi đọc lá số: nó chỉ phác ra phần thiên định của vận mệnh, còn phần con người tự dựng thêm, thứ mà người xưa gọi là phúc đức thực tại, thì nằm ngoài tầm chữ nghĩa trên giấy. Bên cạnh cung Phúc đã được an sẵn trên lá số, mỗi người còn tự bồi cho mình một phần phúc đức riêng bằng cách sống của mình, và phần ấy âm thầm sửa đổi ít nhiều điều thiên định đã vẽ, khiến lời đoán dù đúng theo lá số vẫn có thể chênh so với đời thực vốn linh hoạt hơn nhiều.

Hai nền tảng không thể bỏ bên nào: Âm Dương Ngũ Hành và ý nghĩa các sao

Ngoài ba thước đo, người đoán còn phải biết trên lá số cần cân nhắc những yếu tố nào. Trong giới đoán số, lâu nay có thói quen chia thành hai khuynh hướng khá rõ. Khuynh hướng thứ nhất lấy Âm Dương Ngũ Hành làm gốc rễ, từ đó suy ra mọi ý nghĩa trọng yếu cho con người và cuộc đời; ý nghĩa riêng của từng sao bị coi là phụ, kém xa cái gốc Âm Dương Ngũ Hành. Khuynh hướng thứ hai đi ngược lại: ít để tâm đến Âm Dương Ngũ Hành mà dồn sức vào sự phối hợp ý nghĩa giữa các sao; tính chất Âm Dương Ngũ Hành của mỗi sao bị xem nhẹ, thậm chí bỏ đi mà kết luận cũng chẳng lệch bao nhiêu.

Nghĩ cho kỹ, đó chỉ là hai thói quen của người đoán, chứ không phải chính lộ của khoa Lý số học. Thực chất, khoa này vừa gán cho mỗi sao nhiều tầng ý nghĩa, vừa dựng nên cả một hệ quy luật sinh khắc Ngũ Hành. Giá trị đích thực của Lý số học nằm ở chỗ kết hợp cả hai: giá trị riêng của từng vì sao và giá trị Ngũ Hành của mỗi sao cùng hiện diện một lúc. Thiếu một bên, khoa Lý số học coi như mất nửa nền móng. Vậy nên người đoán thận trọng phải xét cả hai mặt, không bỏ, không coi nhẹ bên nào; thu được càng nhiều dữ kiện từ cả hai phía thì việc luận đoán càng có cơ đạt tới sự cân nhắc chính xác, đầy đủ và cụ thể như đã bàn ở trên.

Từ đó, những yếu tố cần vận dụng khi đọc một lá số có thể gom thành năm nhóm lớn, khớp với năm phương diện vốn có của lá số: yếu tố thuộc Âm Dương Ngũ Hành, yếu tố thuộc cách và cục, yếu tố thuộc cung, yếu tố thuộc sao, và cuối cùng là yếu tố thời gian, tức các hạn. Nhóm đầu, cũng là nhóm căn bản nhất, sẽ được nói ngay dưới đây.

Yếu tố Âm Dương Ngũ Hành — nền tảng cần xét đầu tiên

Nhóm này gồm hai loại: loại thuộc Âm Dương và loại thuộc Ngũ Hành.

Âm Dương của tuổi so với Âm Dương của cung an Mệnh

Chỉ có hai thế tốt và hai thế xấu. Thế tốt là khi tuổi Dương, dù Dương Nam hay Dương Nữ, mà Mệnh an tại một trong sáu cung Dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất); hoặc khi tuổi Âm, dù Âm Nam hay Âm Nữ, mà Mệnh an tại một trong sáu cung Âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi). Đảo lại là xấu: tuổi Dương mà Mệnh rơi vào cung Âm, hay tuổi Âm mà Mệnh rơi vào cung Dương. Hai thế tốt gọi là Âm Dương thuận lý, tức hòa hợp; hai thế xấu gọi là nghịch lý, tức xung khắc.

Điều đáng chú ý là sự thuận lý ấy không dừng ở riêng cung Mệnh mà kéo theo cả một chuỗi hệ quả. Cung Thân luôn cùng tính âm hay dương với cung Mệnh, cho nên Mệnh thuận lý thì Thân thuận lý theo. Chưa hết, năm cung cường quan trọng khác của lá số là Phúc, Quan, Di, Tài, Phu Thê cũng lần lượt thuận lý theo vị trí cung Mệnh. Nói cách khác, hòa hợp Âm Dương thì cùng lúc lợi cho cả ba mối quan hệ lớn của một đời người; còn xung khắc thì cả ba mối cùng chống đối. Đó là lý do một yếu tố tưởng đơn sơ như vậy lại được xếp vào hàng cần cân nhắc trước hết.

Tính Âm Dương của sao so với tính Âm Dương của cung

Nguyên tắc khá gọn: sao tính Dương đóng cung Dương, hay sao tính Âm đóng cung Âm, là tốt; còn sao Dương lạc sang cung Âm, hay sao Âm lạc sang cung Dương, là xấu. Quy tắc tuy ngắn nhưng phải soi cho từng sao một trên lá số, vì mỗi sao đều có sẵn tính Âm hoặc Dương riêng, không sao nào giống hệt sao nào.

Sinh khắc Ngũ Hành giữa Bản Mệnh và Cục

Trong toàn bộ khoa Lý số học, ít có phép cân nhắc nào hệ trọng hơn phép này, vì Cục chính là chiếc khung Ngũ Hành phủ lên cách an sao của cả một con người. Khi so hành của Cục với hành của Bản Mệnh sẽ gặp năm khả năng, sắp từ hay nhất tới dở nhất. Cục sinh Bản Mệnh đứng đầu. Bản Mệnh sinh Cục đứng hạng nhì. Cục cùng Bản Mệnh tị hòa, tức chung một hành, nằm ở khoảng giữa. Bản Mệnh khắc Cục thuộc loại xấu vừa. Cục khắc Bản Mệnh là thế xấu nhất trong cả năm.

Nói cho dễ nhớ thì sinh là tốt, khắc là xấu, tị hòa là vừa vừa. Nhưng danh sách năm thế trên còn chỉ ra cả thang bậc bên trong từng nhóm, nghĩa là các thế sinh không tốt ngang nhau và các thế khắc cũng không xấu ngang nhau. Về quy luật sinh khắc Ngũ Hành nói chung: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc là chiều sinh; Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc là chiều khắc.

Sinh khắc Ngũ Hành qua hai hệ cấp: cung Mệnh, Chính Tinh và Bản Mệnh

Ngoài mối quan hệ Bản Mệnh với Cục, còn một tầng sinh khắc Ngũ Hành nữa, liên quan tới ba yếu tố và diễn ra qua hai hệ cấp nối tiếp. Hệ cấp một so hành của cung Mệnh với hành của Chính Tinh thủ Mệnh; hệ cấp hai so hành của Chính Tinh ấy với hành của Bản Mệnh. Vì cung Mệnh lúc không có Chính Tinh, lúc có một, lúc có hai Chính Tinh đồng cung, nên mỗi trường hợp phải được bàn riêng.

Cung Mệnh không có Chính Tinh, tức Vô Chính Diệu, thì chỉ còn lại một hệ cấp: cung Mệnh có hành phù sinh Bản Mệnh là điềm tốt, có hành khắc Bản Mệnh là điềm xấu.

Nếu cung Mệnh có đúng một Chính Tinh, sự sinh khắc trải qua hai hệ cấp liên tiếp, cung Mệnh với Chính Tinh rồi Chính Tinh với Bản Mệnh, sinh ra chín thế phối trí khác nhau, xếp hạng từ tốt nhất đến xấu nhất trong bảng sau.

Cung Mệnh — Chính TinhChính Tinh — Bản MệnhĐánh giá
SinhSinhTốt nhất
Tị hòaSinhTốt nhì
SinhTị hòaTốt ba
Tị hòaTị hòaTốt bốn
KhắcSinhVừa
KhắcTị hòaXấu bốn
SinhKhắcXấu ba
Tị hòaKhắcXấu nhì
KhắcKhắcXấu nhất

Gặp hai Chính Tinh đồng cung thì việc phức tạp hơn hẳn; dựng bảng chi li theo lối trên chỉ làm thêm rối mà lợi chẳng đáng kể. Điều cần thuộc chỉ là quy tắc chung. Ở hệ cấp hai, Bản Mệnh được cả hai sao cùng sinh thì đẹp nhất, bị cả hai sao cùng khắc thì tệ nhất. Sao nào sinh cho Bản Mệnh thì Bản Mệnh vượng lên theo nghĩa của sao ấy; sao nào khắc thì Bản Mệnh yếu đi theo nghĩa của sao ấy. Trường hợp này nên lấy hệ cấp hai, giữa hai Chính Tinh và Bản Mệnh, làm trọng; còn hệ cấp một, giữa cung Mệnh và hai Chính Tinh, dẫu có đôi chỗ đối chọi cũng không đáng lo, khỏi phải phân xử kỹ như lúc chỉ có một Chính Tinh.

Còn một yếu tố Ngũ Hành sau chót cần chú ý, đó là lợi địa của cung an Mệnh đối với hành của Bản Mệnh: cung Mệnh có đặt vào địa bàn sinh địa, vượng địa, bại địa hay tuyệt địa của chính hành mà Bản Mệnh mang hay không. Sinh địa là tốt bậc nhất, vượng địa kế sau; tuyệt địa là xấu bậc nhất, bại địa kế sau. Cung Mệnh không thuộc bốn địa bàn này thì xem như bình thường, chẳng còn gì để bàn.

Sinh khắc Ngũ Hành giữa Chính Tinh và các phụ tinh đồng cung

Đại lược, sao chính cùng sao phụ đồng cung mà tương sinh là tốt, tương khắc là xấu. Song khi đi vào chi tiết thì cảnh huống rắc rối hơn nhiều. Một Chính Tinh hãm địa, tức mang nghĩa bất lợi, nếu gặp phụ tinh đồng cung có hành chế được hành của Chính Tinh ấy, thì mối bất lợi đó nhẹ đi đôi phần. Ví như Liêm Trinh ở Tỵ hay Hợi vốn hãm địa, mang ý nghĩa dễ vướng hình ngục, kiện tụng; nhưng có Hóa Kỵ đồng cung thì họa ấy có thể nhẹ bớt: khi được tha bổng, khi chỉ bị điều tra sơ sài, khi hưởng án treo, thậm chí có khi chẳng việc gì. Sở dĩ vậy là vì Liêm Trinh thuộc hành Hỏa, Hóa Kỵ thuộc hành Thủy, mà Thủy khắc được Hỏa, nên tai họa hình tụng nhờ đó giảm nhẹ hoặc tiêu tan, với điều kiện các cung Phúc, Mệnh, Thân, Hạn còn lại đều tốt.

Theo cùng ý ấy, đảo lại: một Chính Tinh đắc địa, mang ý nghĩa tốt, mà bị một Hung Sát Tinh cũng đắc địa nhưng có hành khắc hành của Chính Tinh đồng cung, thì cái tốt của Chính Tinh ấy cũng không còn trọn vẹn như lẽ ra phải có.

Ngay ở điểm này, việc giải đoán Lý số học tách thành hai hướng đi: một hướng dùng Ngũ Hành để gia giảm ý nghĩa của sao, hướng kia chỉ căn cứ vào sự phối hợp ý nghĩa giữa các sao để kết luận mà không đoái tới Ngũ Hành. Thực ra, người đoán chín chắn phải dung hòa cả hai hướng mới hợp với tinh thần tổng hợp của khoa Lý số học, không nên nghiêng hẳn về phía nào.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn