Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Hồng Loan, Thiên Diêu, Đà La, Dương Nhẫn, Hỏa Linh

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn01/10/20268 phút đọc4 lượt đọc
Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Hồng Loan, Thiên Diêu, Đà La, Dương Nhẫn, Hỏa Linh

Sao chủ chữ nghĩa mà đứng gần Phá Quân thì lại báo chuyện nước, còn Hồng Loan đem đến người bạn đời tuấn mỹ nhưng gặp Dương Nhẫn thì hỏng vì sắc. Mỗi sao phụ có một lời cảnh báo rất riêng, và có sao lại là lưỡi dao cắt đứt duyên lục thân…


Văn Xương: sao văn chương và những điều phải e dè

Sao chủ chữ nghĩa lại hay đi cùng những cảnh báo bất ngờ, như chuyện bơi lội, đi biển hay chuyện vào hàng ăn cơm công. Người có Văn Xương thủ Mệnh thì văn chương hay; nhưng lời đoán còn đổi theo từng sao đồng cung.

Văn Xương cùng Tham Lang đồng cung thì ăn cơm nhà nước; trong đại tiểu hạn gặp thì vì phạm lỗi hành chính mà bị xử phân. Văn Xương cùng Tham Lang còn là kiểu người việc gì cũng không so đo nhiều, chuyện qua rồi không nhớ thù, nhưng ngoài đẹp trong rỗng. Văn Xương cùng Phá Quân thì có tai nạn nước; đại tiểu hạn gặp thì không được đi bơi, người đi thuyền không được ra biển. Văn Xương cùng Liêm Trinh, Thất Sát, Dương Nhẫn, Đà La thì hư ngụy. Văn Xương cùng Cự Môn thì thiếu chí khí, nên học triết lý nhân sinh, mừng đồng cung Lộc Tồn. Văn Xương cùng Văn Khúc, Thiên Khôi (hoặc Thiên Việt) hội về thì dù không đọc thi thư vẫn là người văn nhã.

Văn Xương giữ Mệnh theo từng cung: ở Tỵ, văn chương hay; gặp Tham Lang, tứ sát, Hóa Kỵ thì chết non; Văn Xương ở đây, Văn Khúc ở Dậu thì có thể học đến thạc sĩ, tiến sĩ. Ở Ngọ, nên theo đuổi nghệ thuật. Ở Mùi, Văn Xương cùng Văn Khúc, không gặp sát tinh thì có giàu sang, thêm Thiên Khôi hoặc Thiên Việt thì văn chương hay, nho nhã. Ở Dậu, văn chương hay. Ở Tuất, tay nghề cao, có bản lĩnh. Ở Dần, là người thanh liêm. Ở Sửu và Tý, văn chương hay.

Văn Khúc: nhà phát minh, người nghiên cứu và nỗi lo thi cử

Văn Khúc đi lối nghiên cứu hơn là lối phô trương, nên nó hợp với cái bàn học hơn là chốn quan trường.

Văn Khúc giữ Mệnh thì nên chuyên tâm nghiên cứu, có thể thành nhà phát minh. Văn Khúc cùng Cự Môn đồng cung thì hợp nghiên cứu triết lý nhân sinh. Văn Khúc cùng Liêm Trinh đồng cung thì hợp làm công chức. Văn Khúc cùng Tham Lang thì làm việc không so đo nhiều; nếu làm công chức, đại tiểu hạn gặp thì vì lỗi hành chính mà bị xử phân. Văn Khúc mừng đồng cung Lộc Tồn. Văn Khúc ở các cung thuộc thổ (Sửu, Mùi, Thìn, Tuất), tiểu hạn gặp thì bất lợi cho thi cử; nếu đang ăn cơm công thì dễ mất việc, bị xử phân.

Ở bốn cung thổ Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, Văn Khúc ngồi Mệnh đều bất lợi cho thi cử, quan trường mất thế. Ở Tý và Ngọ, Văn Khúc cùng Phá Quân đồng cung thì ngoài đẹp trong rỗng. Ở Dậu, nếu Văn Xương ở Tỵ thì có thể học đến thạc sĩ, tiến sĩ.

Lộc Tồn: giữ của, giữ nô và những cái giá của kho tiền

Cái kho tiền có người canh thì được giữ, nhưng người canh kho cũng có thể trở thành người bị bắt nạt.

Lộc Tồn ngồi thủ, Văn Xương, Văn Khúc củng xung thì có giàu sang. Lộc Tồn ngồi cung Quan Lộc thì dễ bị người ta đẩy ra, bài xích. Lộc Tồn gặp lục sát đồng cung thì nên học một nghề tay chân. Lộc Tồn thủ Thân cung, Mệnh cung, Tài Bạch, Điền Trạch thì có giàu. Lộc Tồn và Hóa Lộc kẹp Thân cung hoặc Mệnh cung thì có giàu sang. Lộc Tồn độc thủ Mệnh cung, giữ tiền nô, thì cả đời bị người ức hiếp. Lộc Tồn mừng đồng cung Cự Môn, vì giải được cái cuồng của sao này. Lộc Tồn ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Dần, Thân, Tỵ, Hợi là vào miếu, không có đất hãm. Lộc Tồn mừng nhất đồng cung Thiên Mã. Lộc Tồn lạc vào Không Vong thì tiền của không tụ.

Lộc Tồn thủ Mệnh hoặc Thân cung hoặc Thiên Di thì hợp nghề quân nhân, công chức, giáo dục.

Hồng Loan: ôn lương, tú lệ và ba cái hợp của tình duyên

Ngôi sao của tình duyên nói đến người bạn đời trước nhất, rồi mới nói tới tiền bạc và nhà cửa.

Hồng Loan giữ Thân hoặc Mệnh thì bản tính ôn lương, thông minh tú lệ; nam cưới được vợ đẹp, nữ gả được chồng quý. Hồng Loan nhập miếu thì cát, rơi vào hãm thì hung; Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tuất, Hợi là những cung nhập miếu.

Hồng Loan ở Huynh Đệ thì tình anh em sâu nặng. Ở Phu Thê thì bạn đời tuấn mỹ. Ở Thiên Di thì có của ngoài. Ở Sự Nghiệp thì tuổi trẻ đắc chí. Ở Điền Trạch thì bất động sản nhiều. Ở Tử Nữ thì con cái tuấn mỹ. Ở Phúc Đức thì cả đời cơm áo đủ đầy. Hồng Loan cùng Thiên Diêu đồng cung thì nhu cầu tình dục nhiều. Hồng Loan cùng Dương Nhẫn đồng cung thì vì sắc mà bại.

Thiên Diêu: phong lưu, quả dục và mối tình đầu gặp là mê

Cùng một ngôi sao mà ở cung này thì đẩy người ta vào rượu và sắc, ở cung kia lại cho một đời thanh tâm quả dục.

Thiên Diêu cùng Hồng Loan đồng cung thì nhu cầu tình dục nhiều. Thiên Diêu cùng Dương Nhẫn đồng cung thì thọ nguyên không bền. Thiên Diêu ở Mệnh, Thân, Phúc Đức, gặp người khác giới thì vừa gặp đã đem lòng. Thiên Diêu ở Phúc Đức thì thân bận tâm loạn.

Thiên Diêu ở Thìn hoặc Sửu mà ngồi Thân, Mệnh hoặc Phúc Đức thì thanh tâm quả dục, nhờ công phu khắc kỷ. Ở Mão và Dậu, ngồi Mệnh thì cả đời phong lưu, nhiều diễm phúc, học thức phong phú, thuộc hạ nhiều, có phúc khí, nhưng dễ chìm đắm rượu và sắc. Ở Hợi, ngồi Mệnh thì học thức phong phú, thuộc hạ nhiều, có phúc khí, chìm đắm rượu sắc.

Đà La và Dương Nhẫn: hai lưỡi dao của lục thân

Hai sao ấy đứng ở cung nào thì cung ấy mỏng duyên, và đứng ở Mệnh thì người mang chúng thường phải tự đi con đường riêng.

Đà La độc thủ Thân hoặc Mệnh thì cô đơn, rời bỏ tổ nghiệp, hợp ở rể hoặc làm con nuôi, nên học một nghề tay chân. Nữ mệnh kỵ nhất sao này: ngoài dữ trong rỗng, lấn chồng khắc con, lục thân bất hòa. Đà La cùng Tham Lang đồng cung thì rượu và sắc quá độ, hoặc mắc bệnh lao, hoặc vì sắc mà vướng hình phạt. Đà La thêm Hỏa Tinh thì có tật nguyền. Đà La thêm Phá Quân thì đi xin. Đà La và Dương Nhẫn chia nhau ngồi Thân, Mệnh thì hình khắc nặng hơn, bệnh mắt khó tránh. Đà La ở Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Nữ đều chủ duyên mỏng; ở Phu Thê thì nên kết hôn muộn.

Đà La ngồi Mệnh ở Tỵ thì nên sớm rời quê, đi ra ngoài lại được cát, có giàu sang. Đà La cùng Tham Lang ở Dần thì vì chuyện phong lưu mà chuốc họa.

Dương Nhẫn cùng Linh Tinh đồng cung thì lục thân mỏng duyên, nên sớm làm con nuôi người khác. Dương Nhẫn, Đà La, Hỏa Tinh giữ Thân hoặc Mệnh thì lưng gù. Thân, Mệnh có Dương Nhẫn, Đà La, lại thêm Cự Môn, Liêm Trinh, Phá Quân hay Thất Sát mà không có sao cát, thì người ấy không ngóc đầu lên được; dù có giàu sang thì cũng là kẻ ức hiếp người hiền, sợ kẻ ác, xu nịnh, thực dụng. Dương Nhẫn vào Mệnh hoặc xung chiếu, hạn gặp thì mưu việc không thành. Dương Nhẫn thêm Lực Sĩ thì nhọc mà không công. Dương Nhẫn thêm Cự Môn thì bệnh ngầm quấn thân. Dương Nhẫn ở Phu Thê thì chắc có chuyện đau lòng, nước mắt chẳng ráo.

Dương Nhẫn ở Sửu cùng Hỏa Tinh, gặp được cái chính thì lại thành cát, nắm quyền, ngóc đầu lên được; thêm Tham Lang hoặc Vũ Khúc thì hợp nghề võ, uy trấn biên cương. Ở Dậu, ngồi Mệnh thì chủ chết dữ, chết non. Ở Tuất thì giống như Sửu nhưng kém hơn một bậc.

Hỏa Tinh và Linh Tinh: đường phát tài ngoài và dấu vết trên thân thể

Hai ngôi sao nóng nảy ấy làm khó người ta nhiều hơn là giúp, nhưng có một đường rẽ duy nhất đưa chúng thành cái lợi.

Hỏa Tinh hợp đồng cung với Tham Lang. Mỗi khi gặp năm Mậu, Tham Lang hóa Lộc, thì có cơ hội phát tài từ nước ngoài. Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh vào Mệnh thì ắt phá tướng, lục thân ít qua lại. Hỏa Tinh vào Mệnh thì phá tướng, chân tay dễ gặp tai nạn bất ngờ. Linh Tinh ngồi Mệnh thì phải làm con nuôi, đổi họ. Linh Tinh ngồi Mệnh ở Mùi thì dũng mãnh hơn người, có thể làm nên việc lớn.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn