Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc trong Hà Lạc phái

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn21/09/202619 phút đọc6 lượt đọc
Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc trong Hà Lạc phái

Thái Dương Hóa Lộc ở cung tật ách là chỗ duy nhất không có mạng làm ông chủ, nên đi làm hưởng lương thì hơn. Đế tinh Tử Vi ngồi trên ngai cũng cần có người phò tá, bằng không chỉ là sao cô độc. Còn Vũ Khúc Hóa Kị ở cung quan lộc thì cưới được vợ đã khó, giữ được càng khó…


Tử Vi trong Hà Lạc phái

Tử Vi thuộc kỉ thổ, thuộc âm, là sao đế vương của Bắc Đẩu, hóa khí làm sao "tôn quý", cai quản tước lộc; có sức chế hóa, giải nguy, kéo dài tuổi thọ. Tuy không sợ sát tinh quấy rối, nhưng bị sát tinh kìm giữ thì cũng giống như hoàng đế ngồi trên cao thích nghe người ta nịnh bợ, xàm tấu. Tâm địa thiện lương, việc gì cũng suy nghĩ vì người khác, có tấm lòng của bậc ân nhân, không cầu báo đáp; cho nên dễ có tư tưởng chán đời bi quan, tâm hồn thường thấy trống trải.

Tử Vi là chủ tể của các sao trong Đẩu Số, là sao đầu tiên được an dựa vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để bày ra mệnh bàn; các sao còn lại đều theo nó mà phân bố vào các cung, lấy "thủy tượng" để biểu thị cát hung. Vì vậy mới gọi nó là sao đế vương, sao tôn quý trong các sao.

Đế tinh cần có người phò tá

Tử Vi là sao đế vương cực kì tôn quý, nên ưa được "lục cát tinh" tới giúp; nếu không thì bị luận là "cô tinh" (sao cô độc), khó phát huy sự uy nghiêm của mình. Sao đế vương phải có Tả Phụ, Hữu Bật phò tá; Thiên Tướng, Văn Xương, Văn Khúc phụ trợ; Thiên Khôi, Thiên Việt truyền lệnh; được Nhật, Nguyệt làm "phân ti", hoặc được Thiên Phủ là sao kho tàng tương trợ — đều được xem là cát lợi. Nếu có sát tinh đồng cung hoặc hội chiếu thì gọi là "Quân tử tại dã, tiểu nhân tại vị", chủ về người này không theo chính đạo, bình sinh làm nhiều chuyện ác. Đồng cung với Liêm Trinh mà không có Tả Phụ, Hữu Bật phò tá thì ắt là người đi làm thuê.

Tử Vi vào tuyến "phụ tật" hay tuyến "huynh nô" thì cuộc đời vất vả, làm nhiều mà thành tựu ít; dù được cát tinh phò tá cũng chẳng thấy tốt được bao nhiêu. Nhưng loại người này có chỗ đáng ca tụng, đó chính là "tạo phước cho xã hội"; nếu đánh giá họ từ góc độ giá trị tồn tại thì cũng có chỗ vĩ đại.

Tử Vi ở các cung

Tử Vi gặp Văn Xương, Văn Khúc mà đại vận đẹp thì sẽ làm công tác giáo vụ. Có Thất Sát đồng cung, lại được cát tinh phò trợ, thì nắm giữ đại quyền, là nhân vật lãnh đạo của công ti.

Sao đế vương vào cung tài bạch, cung điền trạch, được Tả Phụ, Hữu Bật phò trợ, lại gặp các "tài tinh" như Vũ Khúc, Thái Âm, thì làm công việc liên quan tới tiền tệ, kế toán, thống kê; nhưng phải có điều kiện là không bị sát tinh quấy rối.

Đế tinh vào cung tử nữ mà kèm các điều kiện có lợi vừa nói thì ý tượng là con cái tốt đẹp; vào cung phu thê cũng chủ về con cái ưu tú, vợ chồng sống với nhau tới bạc đầu. Nếu kèm điều kiện bất lợi thì ngược lại.

Đế tinh vào cung phúc đức thì nữ mệnh cát lợi, nam mệnh chưa luận là cát; cần xem tình hình cát tinh, sát tinh hội hợp mới luận được chính xác.

Sao đế vương Tử Vi ở mười hai cung đều có chức năng chế ngự nguy nan mà giải hóa: nếu kìm chế Hỏa Tinh, Linh Tinh thì làm thành "thiện"; giáng Thất Sát thành "quyền lực". Được Thiên Phủ, Thiên Tướng, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì không quý hiển cũng giàu có; dù có tứ sát tinh xung phá cũng thuộc tầng lớp trung lưu. Tử Vi có Phá Quân đồng cung ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tôi thần bất trung, là con bất hiếu; nữ mệnh gặp thì luận là quý phụ; có thêm sát tinh xung phá thì cũng không luận là bình thường, mà là thấp hèn.

Tử Vi vào cung quan lộc là chủ quan lộc; gặp "lục cát tinh" thì chủ về "quan quý", lấy bổng lộc làm trung tâm.

Tử Vi vào cung tài bạch là chủ phúc lộc; gặp Vũ Khúc, Thiên Tướng thì chủ về lộc quý, lấy lộc ăn làm trung tâm.

Tử Vi không gặp "lục cát tinh" mà gặp sát tinh thì ý tượng là bất lợi, chủ về vất vả, không quý hiển.

Tử Vi vào cung huynh đệ, cung tử nữ, cung phụ mẫu, cung nô bộc thì luận là bất lợi, ý tượng là cô đơn, tinh thần dễ thấy trống trải. Ở cung phụ mẫu là người quá coi trọng địa vị xã hội và sự giàu có, hoặc coi thường những người địa vị xã hội thấp kém, trọng người học giỏi sang trọng, người thấy mình có sở thích, hiểu biết… hơn người khác, hơn mình, giỏi vươn lên; không nhờ cậy lục thân, duyên mỏng, thuộc cách cục tự lập. Ở cung nô bộc thì được người ta tôn trọng, nghênh đón, nhưng cũng bị cảnh bề ngoài thì tôn trọng mà bên trong thì ngược lại, và chủ về bôn ba vất vả.

Tử Vi là quý tinh; nam mệnh không nên để Tử Vi vào cung phúc đức, vì chủ về ít có chí hướng, ít có nguyện vọng, không có hùng tâm, chỉ muốn hưởng thụ; nữ mệnh thì nên vào cung phúc đức, vì chủ về phúc hậu, mà phúc đức là nền tảng để nữ mệnh được hạnh phúc.

Đại vận hay lưu niên gặp Tử Vi, lại gặp thêm Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, là trong cái được có cái mất, phải phòng tai họa do tiểu nhân, hoặc có hiện tượng không yên ổn trong việc thăng tiến quan chức, là dấu hiệu có biến động đổi thay.

Tử Vi gặp tứ hóa

Can cung phi hóa khiến Tử Vi Hóa Lộc ở cung mệnh hay cung thiên di thì có công năng giải nguy và tai họa bất ngờ; ý tượng là ra ngoài gặp nạn có quý nhân giúp, gặp hung hóa cát, biến hung hiểm thành bình yên.

Can cung phi hóa khiến Tử Vi Hóa Lộc ở cung phúc đức, cung điền trạch hay cung tật ách thì có công dụng giải cứu thân thể khi đau bệnh; gặp lúc mắc bệnh thì mau khỏi, lúc bình thường thì cơ thể khỏe mạnh, tinh lực dồi dào.

Tử Vi Hóa Quyền vào cung mệnh, cung quan lộc hay cung tài bạch là cát, nhất là vào cung mệnh, cung quan lộc thì càng tốt; ý tượng là có quý nhân nâng đỡ, thăng tiến nhanh.

Tử Vi Hóa Quyền vào cung tật ách thì ý tượng là cơ thể không khỏe, đường ruột (hệ tiêu hóa) nhiều bệnh. Tử Vi là chủ quan lộc, vào cung tật ách thì ý tượng là sự nghiệp gặp nhiều trở ngại, gây dựng sự nghiệp khó khăn, bất lực.

Tử Vi Hóa Khoa ở cung nô bộc là người quá văn nhược, bạn bè giao du phần nhiều cũng là loại "thư sinh".

Tử Vi Hóa Khoa vào cung phu thê thì ý tượng là hôn nhân không hòa hợp hạnh phúc, dễ có tình nhân ở bên ngoài.

Tử Vi Hóa Khoa vào cung phúc đức là người tu dưỡng tốt, có lòng nhân.

Loại tượng của Tử Vi

Tượng ở người: hoàng đế, đàn ông, người có thế, người cao, tráng kiện, thủ lĩnh.

Tượng ở sự việc: sự nghiệp có quy mô lớn, sự nghiệp thuộc loại tinh tế.

Tượng ở vật: đồ cao cấp, phẩm vật tinh xảo, đồng hồ, máy vi tính, đồ cổ, trân châu, vật phẩm dùng để thưởng thức.

Tượng ở đất: núi cao, nhà cao tầng, đất gò, cơ cấu chính phủ.

Tượng ở bệnh tật: não bộ, tì vị, hệ tiêu hóa.

Màu sắc: màu tím.

Thiên Cơ trong Hà Lạc phái

Đế tinh ngồi yên trên ngai; kẻ làm cho cả bàn cờ chuyển động lại là sao đứng ngay sau lưng.

Thiên Cơ là ất mộc, thuộc âm, là sao tăng tuổi thọ của hệ Nam Đẩu, hóa khí làm "thiện" (khéo léo); là chủ anh em, còn chủ về tứ chi, người ngang vai, người thân cận. Đây là người thông minh, trí tuệ, phản ứng nhanh, tính nóng vội, tâm tư tinh tế, cơ mưu quyền biến, có trí lực cao, nhiều ảo tưởng, dễ đắm đuối vào những việc không giải quyết được; thuộc mẫu người thần kinh chất.

Thiên Cơ cũng là sao kéo dài tuổi thọ, cũng chủ về sao tôn giáo, có khuynh hướng tôn giáo tín ngưỡng hoặc liên quan tới mệnh lí huyền học; cũng là sao học thuật, như triết gia, nhà văn.

Thiên Cơ cũng là một sao dịch mã, giống như bánh xe xoay chuyển không ngừng, còn chủ về hoàn cảnh biến thiên, hoặc là lang bạt tha hương, bôn ba vất vả; lại là sao động thái, gặp các sao dịch mã như Thiên Mã hay Đà La thì càng mạnh.

Thiên Cơ cũng là sao tử vong; gặp lúc Hóa Kị thì chủ về phái nam, không chủ về phái nữ, vì Thiên Cơ nhất định ở cung phúc đức của Thái Dương.

Thiên Cơ được bày ngay sau Tử Vi, cho nên Thiên Cơ là một sao tượng trưng cho động thái biến hóa; không có nó dẫn động thì các sao khác không thể đi theo quỹ đạo, vạn vật trong trời đất cũng không thoát khỏi quy luật này. Vì vậy Thiên Cơ là then chốt của sự vận chuyển trời đất.

Thiên Cơ ở vật là cái gương, ở giao thông là xe máy, ở kiến trúc là cầu thang, giàn giáo.

Thiên Cơ gặp tứ hóa

Thiên Cơ Hóa Lộc chủ về trí tuệ, tôn giáo, triết học, tinh mệnh học…

Thiên Cơ Hóa Lộc vào cung điền trạch thì chủ về nhà ở gần chùa miếu, nhà thờ.

Thiên Cơ Hóa Lộc vào cung phúc đức thì chủ về có tư duy triết học khá đặc biệt, nhân sinh quan đặc biệt.

Thiên Cơ Hóa Quyền vào cung mệnh thì chủ về có tinh thần sự nghiệp, có tinh thần gia đình, năng lực mạnh, có ý thức tôn giáo.

Thiên Cơ Hóa Quyền vào cung tật ách thì chủ về suy nhược thần kinh; thêm Địa Không, Địa Kiếp thì có khuynh hướng trúng phong.

Thiên Cơ Hóa Khoa là người thông minh nhưng không thích động não suy nghĩ.

Thiên Cơ Hóa Kị thì ý tượng là mất mát lục thân, nhất là bất lợi cho phái nam; vào cung huynh đệ thì chủ về mất mát anh em.

Thiên Cơ Hóa Kị vào cung mệnh thì ưa đắm đuối vào những chuyện không giải quyết được, tính không cởi mở, không cố công học hành.

Thiên Cơ Hóa Kị vào cung điền trạch thì ý tượng là biến động, nhưng không chủ về hung tai, mà thường hay dời nhà. Nếu tự Hóa Kị thì ý tượng là việc nhà rất bề bộn, người trong nhà sống chung không hòa hợp.

Thiên Cơ Hóa Kị vào cung tử nữ thì con cái khó dạy dỗ, nên nhận cha mẹ nuôi. Cung tử nữ tự Hóa Kị cũng khó dạy dỗ.

Thiên Cơ Hóa Kị vào cung tài bạch thì ý tượng là có tổn hao, nhưng có thể dựa vào trí tuệ mà bù đắp.

Sách cổ nói:

Thiên Cơ Hóa Kị làm thiện.

Tức là hóa khí của nó tới đại vận hay lưu niên có Thiên Cơ tọa cung mới phát sinh tác dụng hóa khí.

Loại tượng của Thiên Cơ

Tượng ở người: anh em, người ngang vai, người thân cận, phái nam thế hệ của cha, nhà thiết kế, bậc thầy.

Tượng ở sự việc: dịch mã, tư tưởng, tôn giáo, triết học, thuật số, học thuật.

Tượng ở vật: trục răng cưa, cây cối, trụ điện, cửa sổ phòng trên lầu, giàn cây, đống đồ linh tinh, cơ khí, máy tiện.

Tượng ở đất: cây nhỏ ở ven rừng, hàng hóa bằng pha lê, hàng mắt kính, hai bên đường sắt, hàng xe máy, bãi cơ giới.

Tượng ở bệnh: tứ chi, gân cốt, hay nằm mơ, gan, mật, thần kinh suy nhược.

Màu sắc: lam, lục.

Thái Dương trong Hà Lạc phái

Bánh xe quay được là nhờ có nguồn lửa; nguồn lửa ấy treo trên đỉnh trời.

Ngũ hành của Thái Dương là bính hỏa, thuộc dương, là sao của Trung Thiên Đẩu, hóa khí làm quyền quý, chủ quan lộc, còn là cha, chồng, con trai. Là người chính trực, cương cường, quang minh, bác ái, không tính toán thị phi đúng sai, không câu nệ tiểu tiết, lòng tự tôn rất mạnh, thích được người khác tôn trọng; thiếu tiết chế trong việc tiêu xài tiền bạc, thường hay tiêu pha phung phí, hưởng thụ phù hoa, hơi chuộng hư vinh. Thái Dương không nên thủ mệnh nữ, là tượng đoạt quyền chồng, phải lao lực nhiều, có chí khí nam nhi; ở cung tam hợp nếu gặp Thái Âm thì dễ bị phiền phức về tình cảm. Bản thân Thái Dương đã có hàm ý "quan lộc"; nếu gặp lục phụ tinh thì có thể quý hiển, nếu không thì nhiều vất vả.

"Nhật Nguyệt phản bối" tuy không phải cách cục xấu, nhưng sợ nhất là người sinh vào ban đêm, ý tượng là cuộc đời phát triển không thuận lợi, phần lớn đều bôn ba vất vả, vận lúc trẻ không tốt, làm việc thường có tâm lí lúc đầu siêng năng về sau lười biếng, có tập quán làm việc vào ban đêm, lao tâm nhiều, khá trọng tình cảm, tình cảm thường thắng lí trí, không nhờ cậy được lục thân, phần nhiều tự lực cánh sinh.

Thái Dương có thiên hướng ở mặt chính trị hay công ích, phát triển sự nghiệp văn giáo; là một sao động thái, cũng là sao dịch mã.

Thái Dương gặp tứ hóa

Thái Dương Hóa Lộc vào cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc đều chủ về có thực quyền, là mệnh cách làm ông chủ.

Thái Dương Hóa Lộc vào cung huynh đệ, cung nô bộc, cung tử nữ hay cung điền trạch cũng có thể làm ông chủ, nhưng không có thực quyền, phần nhiều là hợp tác làm cổ đông.

Thái Dương Hóa Lộc vào cung phụ mẫu là làm ăn về mặt văn thư, nhưng chủ quyền không phải của bản thân; tức là làm giám đốc nhưng không phải là người phụ trách thật sự.

Thái Dương Hóa Lộc vào cung tật ách là cung duy nhất không có mạng làm ông chủ, nên làm việc hưởng lương.

Nếu làm thuê, lúc Thái Dương Hóa Lộc vào cung mệnh, cung thiên di, cung quan lộc hay cung tài bạch thì có mạng làm chủ quản nắm giữ thực quyền.

Thái Dương Hóa Quyền ở nam mệnh thì chủ về gây dựng cơ nghiệp; ở cung quan lộc thì ắt làm chủ quản. Vào cung tử nữ, cung điền trạch thì ý tượng là gây dựng cơ nghiệp.

Thái Dương Hóa Quyền, nam mệnh không được vào cung phu thê, nữ mệnh không nên vào cung mệnh; ý tượng là phụ nữ quá giỏi giang, thích tranh quyền, nhiều vất vả, hôn nhân không mĩ mãn.

Thái Dương Hóa Quyền không nên vào cung phụ mẫu của nam mệnh, không nên vào cung điền trạch của nữ mệnh; cũng chủ về phụ nữ giỏi giang, ưa tranh quyền.

Thái Dương Hóa Kị là điểm xấu, không ưa vào cung quan lộc; ý tượng là sự nghiệp không hưng thịnh, một việc cũng không thành.

Thái Dương Hóa Kị vào cung lục thân thì ý tượng là bất lợi cho phái nam trong lục thân, phần nhiều có thương tổn.

Thái Dương Hóa Kị vào cung tật ách thì ý tượng là có bệnh tật ở mắt.

Thái Dương ở thời thơ ấu thì chủ về cha, ở thời trung niên thì chủ về bản thân nếu là phái nam; phái nữ thì chủ về chồng, ở thời vãn niên thì chủ về con trai.

Thái Dương Hóa Lộc vào cung quan lộc mà Hóa Kị cũng đồng thời vào cung quan lộc thì ý tượng là tuy có mạng làm ông chủ, nhưng sự nghiệp gặp nhiều sóng gió không thuận lợi; hơn nữa cũng không muốn làm thuê lâu dài cho người khác, rốt cuộc một việc cũng không thành.

Loại tượng của Thái Dương

Tượng ở người: cha, chồng, con trai, nhân vật chính trị, nhân viên phục vụ, người có tập quán sinh hoạt ban đêm.

Tượng ở sự việc: chính trị, công ích, sự nghiệp văn giáo, dịch mã, xung lực.

Tượng ở vật: mắt, nguồn năng lượng, mô tơ, đèn điện, ga.

Tượng ở đất: công xưởng, trường học, cơ quan nhà nước, cây xăng (trạm xăng dầu).

Tượng ở bệnh: lốm đốm, mụn, tim, mạch máu, đầu lưỡi, não, chân trái.

Màu sắc: đỏ, vàng chanh.

Vũ Khúc trong Hà Lạc phái

Mặt trời lo chuyện danh; chuyện tiền bạc thì phải giao cho một vị tướng tay cầm két sắt.

Vũ Khúc là tân kim, thuộc âm, là sao chính tài của Bắc Đẩu; ý tượng là tài bạch, cũng là tướng tinh, còn là sao quả tú. Là người có tính cương, ngay thẳng, khí độ rộng rãi, không suy nghĩ sâu xa, quả đoán, làm việc muốn nhanh chóng. Vì là tướng tinh nên không bao giờ chịu thua, thích nắm quyền; còn là tài tinh nên cả đời không thoát khỏi quan hệ với tiền bạc; tài tinh vào cung tài bạch thì có năng lực quản lí tiền bạc.

Phàm tài tinh vào cung mệnh thì chủ về khó tránh cô khắc. Vũ Khúc cũng là tướng tinh, phái nữ không nên có nó thủ cung mệnh; vào cung lục thân cũng không tốt, dễ bị cô độc, trong sinh kế thì túi bị trống rỗng. Nhưng phải có Dương Nhận (tức Kình Dương) hoặc Đà La đồng cung thì mới chủ về cô độc; nếu không thì sẽ chủ về tính cương.

Vũ Khúc ở cung mệnh, Phá Quân ở cung thân, hoặc Vũ Khúc ở cung mệnh thân đồng cung, phần lớn đều rời xa quê hương, là người lập thân bằng tay nghề giỏi, suốt đời nhiều thành bại, nhiều vất vả, khó được đắc ý.

Vũ Khúc luận về tiền bạc thì thích hội hợp Tham Lang, nhất là ở can Kỉ, vận Kỉ, Lộc Quyền cùng vào bản cung, là chủ về "thiên tài" (tức tiền thu nhập không thường xuyên), hoạnh phát; gặp Lộc Tồn, Thiên Mã cũng tốt, nhưng phải kiếm tiền ở phương xa.

Vũ Khúc là một sao kiêm cả động lẫn tĩnh: khi có tâm tình tốt thì nó có thể bất động, còn lúc tâm tình không được tốt thì cô độc không vui; vì thế mới gọi nó là "sao quả tú".

Vũ Khúc gặp tứ hóa

Vũ Khúc Hóa Lộc vào cung mệnh, cung tài bạch hay cung điền trạch thì ý tượng là rất biết kiếm tiền, cả đời không bao giờ phải lo vì không có tiền xài.

Vũ Khúc Hóa Lộc vào cung tài bạch thì nhất định kiếm được tiền, nhưng phải xem tính tình của sao, ý tượng của sao hóa để đoán dựa vào cái gì mà thu được lợi ích.

Vũ Khúc Hóa Quyền vào cung mệnh là người có tính cương cường. Hóa Quyền là tướng tinh, nam mệnh không được để nó vào cung phu thê (chủ về tính cương cường). Nếu vào cung lục thân thì ý tượng là vị lục thân ấy nắm quyền; nữ mệnh không được để nó vào cung mệnh.

Vũ Khúc Hóa Quyền không được vào cung tật ách, vì chủ về bị nhiều tai ách trên cơ thể, nhất là nữ mệnh phần nhiều dễ bị hư thai. (Tướng tinh không được vào cung tật ách, nếu không sẽ là tai ách.)

Vũ Khúc Hóa Khoa chủ về tiền tài, là sao chính tài (tiền thu nhập bình thường), nhưng hơi vô lực.

Vũ Khúc Hóa Kị, bất luận nam nữ, không được vào cung quan lộc mà xung cung phu thê; ý tượng là muốn kết hôn khá khó khăn, hoặc sau khi kết hôn lại li hôn, vì Hóa Kị là sao quả tú, ý tượng là cô quả.

Vũ Khúc tọa cung, can cung phi Hóa Kị vào cung điền trạch, thì ý tượng là rất khó thành gia thất (không phải vì vô duyên, mà nhiều lúc còn có rất nhiều bạn khác giới, hiện tượng đào hoa rất vượng, nhưng cơ hội kết hợp lại khá ít).

Vũ Khúc Hóa Kị đồng cung với Thiên Cơ ở cung mệnh thì phần nhiều là con dòng thứ hoặc con nuôi. Vũ Khúc Hóa Kị ở cung thiên di xung cung mệnh cũng có cùng ý nghĩa.

Nếu Vũ Khúc tọa cung Tuất, Tham Lang Hóa Lộc ở cung tài bạch, vì Tham Lang là sao đào hoa, còn là tài tinh, nên có thể phải dựa vào nghề ẩm thực, phục vụ để kiếm tiền.

Loại tượng của Vũ Khúc

Tượng ở người: người làm ăn, nhân vật chính trị, nhân viên trong ngành tiền tệ, quân nhân, cảnh sát.

Tượng ở sự việc: việc có liên quan tới tiền bạc, tôn giáo, ăn chay.

Tượng ở vật: đồ trang sức bằng vàng, hộp thiếc, hộp sắt, kim loại, két sắt.

Tượng ở đất: cơ cấu kinh doanh tiền tệ, miếu thổ địa, đồn công an, doanh trại quân đội, tiệm đồ ăn chay, đồi đá lởm chởm, gò núi nhỏ, chùa tháp.

Tượng ở bệnh: hệ hô hấp.

Màu sắc: trắng.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn