Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Thiện căn và chán đời, hai động lực đưa người vào đạo

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/202617 phút đọc2 lượt đọc
Thiện căn và chán đời, hai động lực đưa người vào đạo

Khoa Tử Vi tự nhận là chỉ dành cho người sống giữa đời, vậy mà vẫn có những lời bàn riêng về chuyện đi tu. Không phải để xét số phận người tu sĩ, mà để hiểu vì sao có người quay lưng với cả gia đình, tiền bạc, công danh. Có người bị đời đẩy đi, có người vốn mang sẵn hạt giống trong lòng, và lá số cho thấy được cả hai…


Quan niệm tu hành trong khoa Tử Vi

Khi nói về đối tượng của khoa Tử Vi, ta có dịp đề cập nhiều đến các đặc điểm căn bản của nhãn quan Tử Vi. Chúng ta nói rằng khoa Tử Vi, từ cách mệnh danh các cung, ý nghĩa các vì sao, tên gọi các cục, cách, cho đến quan niệm hạnh phúc, quan niệm gia đạo, phụ mẫu, anh em, bệnh họa, nhất nhất đều ứng dụng cho người đời và chỉ cho người sống theo đời mà thôi. Khoa này phân biệt rất rõ rệt 2 phạm vi đời và đạo, và tự giới hạn đối tượng nghiên cứu trong lãnh vực đời. Con người mà Tử Vi quan niệm là con người có thể xác lẫn tinh thần, có gia đình vợ con, là con người sống chung với xã hội và sống theo tập quán của xã hội, theo đuổi hạnh phúc vật chất, không từ bỏ sinh lý, tiền bạc, công danh, lấy trần tục làm lẽ sống.

Khoa Tử Vi không nghiên cứu người đạo, tức người thoát ly khỏi cuộc sống trần tục, chối bỏ vật chất, coi thường phú quý, vinh hoa, lấy niết bàn trên cảnh làm cứu cánh hạnh phúc, xem nhân thế là tạm bợ, chấp nhận ý thức hệ thoát tục để làm phương châm mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và đôi khi cho xã hội. Cái gì của đạo, của người đều không được khoa Tử Vi luận xét. Đạo và tu sĩ là ngoại lệ của Tử Vi học, có thể nói đó là phi Tử Vi, là nghịch lý của khoa Tử Vi.

Đã thế, tại sao lại còn đề cập đến cách tu hành trong khoa Tử Vi để làm gì? Và mục đích của chương này ra sao?

Phải nói ngay rằng khi đề cập đến cách tu hành trong khoa Tử Vi, chúng ta không khảo sát lối tu, cách tu, hạnh phúc hay vận mệnh của người đi tu. Lá số Tử Vi không dùng được cho tu sĩ, mặc dù họ cũng có lá số. Nói một cách khác, chúng ta không tìm trong lá số tu sĩ, những biến cố xảy ra cho kiếp tu của họ. Khi khảo sát cách tu hành ở đây, chúng ta chỉ tìm hiểu triển vọng đi tu của người đời mà thôi. Vì người đời và người đạo là 2 hiện tượng tương phản, nên lá số người đạo cũng tương phản với lá số người đời. Do đó, khảo sát lá số người đạo sẽ giúp độc giả biết được triển vọng đi tu của người đời và đối chiếu được hai quan niệm đạo và đời trong lá số hai người, từ đó có thêm ý niệm về cái gì thuộc đạo và cái gì thuộc đời, hình dung rõ rệt hơn kiếp sống của người đời từ lá số của người đạo.

Trước khi đi sâu vào cách tu hành chính danh, tưởng cần minh định danh từ tu hành để tránh mọi ngộ nhận. Ta cần phải hiểu đi tu là không sống theo đời, thoát đời một cách hoàn toàn và vĩnh viễn.

Thoát đời hoàn toàn là không còn liên hệ gì với những ràng buộc cố hữu của người đời, tức không có vợ chồng, con cái hoặc là đã có mà không còn bị vướng bận thê noa, không màng đến phú quý vinh hoa, công danh tiền bạc, không thiết đến hạnh phúc thế tục, vật chất và thể xác.

Thoát đời vĩnh viễn là một khi đã đi tu thì không trở lại trần hoàn nữa. Có thể tu sĩ vẫn còn tại thế, sống chung với người đời để giáo hóa xã hội, nhưng họ không nhập thế như đại chúng mà là xuất thế.

Như vậy, đặc điểm quan trọng của tu sĩ là không sống theo như người đời mà theo một quan niệm riêng, một tín ngưỡng nhiệt thành, một lối hành tục khác hẳn.

Theo lối hiểu đó, ai tu Phật, tu tiên hay như một linh mục khổ hạnh là tu sĩ. Trái lại có lối tu theo đạo Tin lành, tu mà vẫn có vợ con, vẫn sống bình thường như người đời không kể là tu sĩ theo lối hiểu này. Đây là hạng giáo sĩ, tức là người đời đi truyền giáo, không phải người đạo thuần túy.

Ngoài cách tu, một đặc điểm khác để nhận dạng người có khiếu tu là tinh thần vọng đạo và thiện tâm của họ. Hầu hết các vị tu hành có tinh thần bác ái ưa giúp đỡ người, vị tha, bao dung, tâm địa hiền lương, có tín ngưỡng mạnh mẽ nơi linh thiêng. Tâm lý đặc biệt này khiến họ dễ hòa mình với tôn chỉ nhân ái của đạo pháp. Trái lại, có kẻ sẵn có nếp dữ, tính ác, thích sát phạt, lấy cái khổ của người làm ý thích, vị kỷ quá đáng, chỉ biết quyền lợi riêng, tham lam, dục động… là những người thiếu căn tu từ trong cá tính. Nếu vì một hoàn cảnh nào đó mà họ hồi tâm, cải tà quy chính, chịu tự chế, khép mình vào kỷ cương của đạo thì họ trở nên một chân tu đúng nghĩa. Dù sao, trường hợp này phải xem như một biệt lệ.

Mặt khác, đa số động lực thúc đẩy con người đi tu là sự thất bại ở đời. Những ai gặp nhiều bất hạnh quan trọng trong cuộc sống thế tục đều có xu hướng tìm một lối thoát cho nỗi khổ cá nhân, hoặc bằng cách chấm dứt cuộc đời hoặc bằng cách theo đạo. Kẻ tự tử là người liều lĩnh và tuyệt vọng. Kẻ đi tu trái lại thúc thủ, nhưng còn hy vọng nơi một phương cách giải thoát cho linh hồn.

Tóm lại, có 2 tiêu chuẩn khả dĩ có cho người đi tu là thiện căn và những thất bại ở đời. Việc cứu xét tu hành phải dựa vào 2 tiêu chuẩn này làm căn bản. Những cung nào, những sao nào nói lên hai đặc tính quan trọng đó đều khả dụng cho việc giải đoán.

Các cung chỉ chứa đựng những yếu tố liên quan đến sự thất bại ở đời. Còn yếu tố thiện căn được phản ánh qua các sao.

Xu hướng tu hành qua các cung

Người ta không tự nhiên bỏ đời. Phải có một điều gì đó đẩy đi, và lá số cho thấy điều ấy nằm ở những cung nào.

Nói đến xu hướng là nói đến động lực thúc đẩy, nói đến triển vọng. Thành thử, qua các cung, chúng ta thử tìm những nguyên động lực xô đẩy con người vào đường đạo.

Nói chung, ngoài lý tưởng vọng đạo động lực mạnh nhất khiến con người hướng về cõi đạo là sự chán đời. Sự chán đời này đủ mạnh và phải dồn dập, liên quan đến nhiều lãnh vực sống mà cá nhân đó tha thiết, hoặc có thể chỉ liên quan đến một lãnh vực nào mà họ thiết tha nhất, xem đó như lẽ sống cố hữu của họ. Thật vậy, có những người đi tu chỉ vì thất tình mà thôi. Có những người phải gian nan cả về tiền bạc công danh, gia đạo… mới chịu bỏ đời.

Ở mục này, ta đề cập đến trường hợp thứ hai, có tính cách điển hình hơn, tức là kẻ chán đời về đủ mọi thứ. Các cung của họ phải có những đặc điểm sau đây.

Cung Phúc Đức

Cần minh xác ngay rằng phúc nói trong cung này là phúc đức thế tục chứ không phải phúc đức duy linh. Khi nói đến phúc đức thế tục tức là phải nói rằng phúc đức đó bao hàm nhiều khía cạnh quan yếu của cuộc sống thế tục, chi phối một cách căn bản hạnh phúc con người. Nói khác đi, phúc đức thế tục ở đây được hiểu theo một phạm vi rộng rãi, bao gồm 4 loại hạnh phúc: đó là hạnh phúc tiền bạc vật chất (của cung Tài), hạnh phúc gia đạo (của cung Phu Thê), hạnh phúc xã hội (của cung Di) và hạnh phúc từ dòng họ, từ âm đức tổ phụ để lại (của cung Phúc chính danh). Vì phạm vi ảnh hưởng của cung Phúc rộng rãi như thế, cho nên ai bị bạc phúc phải cam chịu nhiều bất hạnh căn bản trong kiếp sống dưới nhiều hình thái, bị quẫn trí, chán đời trên nhiều địa hạt. Kẻ nào bị đời bạc đãi vừa bất hạnh về gia đạo vừa gặp nghịch cảnh trong xã hội vừa khốn quẫn về kinh tế, vừa lãnh nghiệp chướng về tổ phụ ông bà, là những kẻ chán chường toàn diện, dễ bị thúc đẩy vào cõi đạo nhiều hơn. Trái lại, những ai tốt phúc, xung túc về vật chất, hên may trong xã hội, hanh thông trong gia đạo, hưởng thụ âm đức của ông bà không bao giờ có nhu cầu thoát ly cuộc sống. Cái lý thông thường của nhân loại phàm trần là như thế. Ngoại lệ chỉ thấy nơi trường hợp của đức Phật mà thôi.

Mặt khác, cung Phúc xấu còn có nghĩa là kẻ đó dễ yểu, đoản mạng. Danh từ yểu ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo nghĩa đen, yểu là chết sớm. Theo nghĩa bóng, yểu là kiếp sống ở đời ngắn ngủi, nhưng nếu chuyển qua kiếp sống ở đạo, vì theo quan niệm Tử Vi, đạo và đời tương phản nhau. Một sự chuyển kiếp từ đời sang đạo có thể tạo một hạnh phúc khác loại, giúp giải thoát bất hạnh của đời.

Tóm lại, cung Phúc là cung cương của lá số người đời và cả lá số của người đạo. Đánh giá đúng mức được cung Phúc, ta có thể giải đoán khá chính xác triển vọng tu hành của người đời.

Cung Mệnh, cung Thân

Đứng về mặt thời gian mà xét, cung Phúc là tiền kiếp, là hậu quả của kiếp sống ông bà cha mẹ trọn kiếp sống của mình. Cung Mệnh cung Thân là hiện kiếp, phủ trùm toàn thể cuộc đời của con người sinh thời.

Xét về mặt phạm vi, hai cung này có liên hệ đến phương kế và hoàn cảnh, con người bị chi phối mãnh liệt bởi ba mối lo âu triền miên: mối lo nghề nghiệp (của cung Quan), mối lo về tiền bạc (của cung Tài) và mối lo về thời vận (của cung Di). Nếu Quan, Tài, Di của Mệnh, Thân đều xấu, đời người gặp bạc hạnh lớn lao và căn bản, hầu như đẩy họ vào bước đường cùng. Đó là nguyên nhân tất yếu của xu hướng yếm thế, bi quan và trở thành động lực của việc tu hành.

Kể ra ba cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu thì cũng đủ nói lên xu hướng tu hành của cá nhân rồi. Nhưng có tác giả kỹ lưỡng hơn, dò hỏi tìm chỉ dấu gián tiếp khác ở những cung Phụ mẫu, Phu Thê và Tử tức.

Cung Phụ mẫu

Cung Phụ mẫu xấu gieo ảnh hưởng tương tự như cung Phúc xấu. Đó là con người chẳng những không nhờ vả được cha mẹ mà có khi còn gánh nợ cho cha mẹ, có khi mồ côi sớm hoặc vì cha mẹ ly tán nên đương số không hưởng được sự giáo dục không đầy đủ để bước vào đời. Nếu gặp thêm bất hạnh ở hai cung Mệnh, Thân nữa thì người đó không thành công được.

Cung Phu Thê

Đây là một hợp phần của phúc đức hiểu theo nghĩa rộng. Trừ khi những người đi tu vì lý tưởng, hầu hết tu sĩ còn lại đều đau khổ vì gia đạo. Có người không có gia đình, có người có gia đình mà gặp đau khổ, phiền lụy triền miên. Trong cả 2 trường hợp, cung Phu Thê đều rất xấu, thường nói lên tình trạng không gia đình, vợ chồng ly tán, vợ chồng từ biệt, vợ chồng phản bội.

Cung Tử tức

Người đi tu bao giờ cũng dứt khoát với con cái, không nhất thiết là họ bất hạnh vì con cái. Nếu cung Tử xấu, điều đó nghĩa là họ bị bất hạnh vì con cái (hoặc không con hoặc có con mà không nhờ vả được, lại còn bị con phá tổ nghiệp, phản bội…). Dù sao đối với người đi tu trước đó đã có vợ chồng con cái, cung Tử tức là một chỉ dấu tương đối mong manh cho việc xét đoán xu hướng vọng đạo.

Tóm lại, kẻ đi tu là người mất hết nương tựa vào gia đình, vào xã hội, vào nghề nghiệp, vào tiền bạc, bị thất thế và thất chí nặng nề ở ngoài đời. Cái lệ chung thông thường là như vậy. Khi nói là lệ chung, ta ngụ ý có trường hợp ngoại lệ, tức là có người nghèo khó, thất bại nặng nề ở đời mà vẫn không đi tu. Đó là những kẻ an phận, không chịu tìm lối thoát, nhẫn nhục cam thân. Những ngoại lệ này khiến cho lệ chung mất đi một phần giá trị. Mặt khác, cũng lưu ý rằng không bắt buộc con người gặp bất hạnh về gia đạo hoặc về tử tức hoặc về tài chánh. Một yếu tố quá xấu cũng có thể là động lực đầy đủ cho việc đi tu. Đặc biệt là đối với phụ nữ, gia đạo đóng vai trò then chốt của đời, cho dù trên các địa hạt tài chánh, phụ mẫu họ không thiếu thốn.

Vì lý do đó, việc xét cách tu hành qua các cung phải linh động, không thể cứng rắn được. Động lực đi tu mỗi người một khác, khó có thể tổng quát hóa cho toàn thể lá số. Dù sao, các cung kể trên mà xấu thì được xem như có điều kiện nội tại và ngoại tại để đi tu.

Xu hướng tu hành qua các sao

Cung nói người ta bị đời đẩy đi đến đâu, còn sao mới nói trong lòng họ có sẵn hạt giống nào để nảy mầm.

Như đã trình bày, 2 động lực thúc đẩy việc tu hành là thiện căn nội tâm và những thất bại ở đời. Những ai có đủ hai khía cạnh này, hoặc có một trong hai khía cạnh có thể là người có trí hướng đi tu.

Trước hết cần đề cập đến các sao nói lên thiện căn nội tâm.

Các sao thiện căn

Thông thường, 1 sao thiện không đủ để quyết đoán nội tâm của người thiện. Cần phải có sự hội tụ càng nhiều càng chắc, dù sao, cũng còn phải có những sao liệt kê dưới đây:

Thiên lương. Ở vị trí miếu và đắc địa, sao này là Phúc tinh, thiện tinh. Nghĩa là chính là lòng từ thiện, bác ái, sự nhân hậu, hiền lành, không hại người mà lại giúp đỡ, cứu vớt người. Người có Thiên lương lấy nhân ái làm đạo xử thế. Càng đắc địa, nhân đức càng lớn, từ bi càng rộng, bác ái càng cao. Ở Phúc, Mệnh hay Thân đều tốt. Riêng ở Phúc rất hợp, vì là phúc tinh dư Phúc, ngụ ý dòng họ hiền lương, nhân hậu, và nếu là tu hành thì thường là tu dòng, con nối nghiệp cha, mẹ trong kiếp tu.

Lẽ dĩ nhiên, người có Thiên lương ắt phải có niềm tin mãnh liệt, có tín ngưỡng nhiệt thành, có tinh thần vọng đạo và tin đạo, khép mình vào quy luật của đạo. Có thể quan điểm này khả chấp, nhất là khi Lương lại đóng ở Dần, thuộc Mộc.

Tóm lại, Thiên lương có nghĩa là lương tâm và thiện tâm, theo quan niệm của nho giáo, vốn cố hữu và bẩm sinh từ tâm. Đây là đức thiện hồn nhiên, thiên phú từ căn bản mà có chớ không phải cái thiện vì e ngại pháp luật hay quả báo. Có lẽ đó là động lực thâm sâu và mãnh liệt nhất của người có căn tu.

Thiên đồng. Sao này cũng phải miếu vượng và đắc địa mới có ý nghĩa tốt như Thiên lương. Đây cũng là sao đức hạnh và phúc thiện, ban phúc, giảm họa. Thiện tính của Thiên đồng cũng là thiện tính bẩm sinh.

Thiên đồng càng thiện khi hội tụ với Thiên lương ở 2 cung Dần, Thân xu hướng bác ái đó nhờ đó càng thêm mạnh.

Thiên quan, Thiên phúc. Nếu gọi toàn danh hiệu thì phải gọi là Thiên quan quý nhân, Thiên phúc quý nhân. Vốn là 2 Phúc tinh đồng nghĩa. Thiên quan và Thiên phúc chủ làm việc thiện, tư tưởng thiện, tinh thần cứu nhân độ thế, niềm tin nơi thiêng liêng, năng khiếu tu hành, triển vọng đắc đạo. Ý thức xã hội trong hai sao này rất mạnh. Phần lớn những ai có 2 sao này đều có hoài bão cứu độ chúng sinh, bằng những hành động phúc thiện, hảo tâm, tạo công quả, cải hóa tập thể, giúp đỡ cộng đồng về nhiều phương diện kinh tế xã hội, giáo dục văn hóa, khoa học, tinh thần.

Nếu cả 2 sao này cùng hội chiếu vào Phúc, Mệnh hay Thân thì hiệu lực càng mạnh thêm.

Ân quang, Thiên quý. Hai sao này mang rất nhiều ý nghĩa phúc đức và trường thọ. Về mặt tính tình, người có Quang Quý là kẻ nhân hậu từ thiện, thành tín với bạn bè, hiếu đễ với cha mẹ, chung thủy với vợ chồng, sùng đạo với thiêng liêng. Về mặt giải họa, Quang, Quý biểu tượng cho sự phù hộ của thần linh, sự trợ lực của người đời trong nhiều phương diện. Về mặt siêu hình, Quang Quý hỗ trợ cho sự cảm thông với linh thiêng, tinh thần vọng đạo hết sức mạnh mẽ. Từ đó, năng khiếu đi tu có triển vọng thành đạt hơn người khác: đó là những người sớm giác ngộ, thủ đắc một cách mẫn tiệp 8 phương châm của Bát chánh đạo Thích Ca, hoặc được minh vọng từ thần linh, Thượng đế, được hưởng ân sủng. Thiên phúc rất xung mãn.

Tứ đức. Tứ đức gồm 4 sao Thiên đức, Nguyệt đức, Phúc đức và Long đức, cả 4 đều chủ cái hạnh tốt đẹp của người thiện tâm, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm kim chỉ nam xử thế. Đứng riêng rẽ, mỗi sao đức không được mạnh, cần được hội tụ càng nhiều càng hay để có nết hạnh toàn diện và mạnh mẽ hơn.

Hóa khoa. Cát hạnh của Hóa khoa cũng tương tự như cái hạnh của Tứ đức. Sự khác biệt khả dĩ đó là hạnh của Tứ đức xuất phát từ tâm, trong khi cái hạnh của Hóa khoa bắt nguồn từ văn hóa, học vấn mà có. Về mặt trí tuệ, người có Khoa rất dễ tiếp nhận giáo lý, rất mau huệ giác, có lẽ nhờ sự thông tuệ và khả năng học vấn. Người đi tu mà có Khoa này thường là pháp sĩ, phụ trách thuyết giáo, giảng đạo, dùng đạo ký để hóa tạo người đời. Có thể Khoa giúp họ trở thành thuyết gia.

Tuy nhiên, vì hạnh của sao này không bắt nguồn từ con tâm mà bắt nguồn từ khối óc, cho nên đạo học của Khoa thiên về công trình hơn bác ái: đó là nhân đạo, có thể chỉ theo phương châm “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” của Khổng giáo mà thôi. Còn khi đã nhập đạo, Khoa là người theo Phật học, nhiều hơn là khất sĩ cầu thực để tạo phúc cho chúng sinh.

Những sao thiện căn khiến người đời đi tu vì lý tưởng, vì ý thức công bình bác ái, vì hoài bão giáo dục xã hội. Những sao trên ban cho cá nhân những năng khiếu tu hành tại nội tại. Còn những động lực bên ngoài thường do các sao sát, hao bại tinh quản diễn.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn