Bài tổng quan
Thất Sát, Phá Quân và các phụ tinh trong Hà Lạc phái
Thất Sát Hóa Lộc vào cung điền trạch hay cung mệnh thì ắt bạo phát thành phú ông. Phá Quân ở cung tài bạch lại như thần tài đi ngang qua đường, tiền đến rồi đi, tốt nhất đừng giữ nhiều tiền mặt. Còn cặp Khôi Việt ở cung phu thê thì tình cảm thiên về ngưỡng mộ như học trò nhìn thầy…
Thất Sát trong Hà Lạc phái
Thất Sát là canh kim, thuộc dương; đây là sao thuộc tinh hệ Nam Đẩu, là "tướng thần", chủ về "cô khắc" (cô độc và hình khắc), hóa khí làm "sát" (giết), cai quản việc sống chết; cũng là tướng tinh, tượng trưng cho sự khủng bố, đen tối, thần bí. Ưa gặp Tử Vi, vì có thể hóa "sát" thành "quyền lực", kiểm soát nó. Là người thông minh, giỏi giang, tài hoa, cá tính nóng vội, hỉ nộ đều dễ lộ ra ngoài mặt, hiếu thắng, không ưa nói nhiều, có tinh thần chính nghĩa, do đó hợp làm quân nhân, cảnh sát.
Thất Sát vào cung mệnh thì tuổi trẻ đường đời gập ghềnh, không thuận lợi, nhiều vất vả, bôn ba bất định, bản tính chịu đựng được gian khổ.
Thất Sát vào cung mệnh thì kết hôn muộn tốt hơn, kết hôn sớm không cát lợi; do là sao chủ về tài cán giỏi giang, kết hôn sớm thì phải vì người kia mà trả giá rất nhiều, khiến bản thân càng vất vả và bôn ba.
Thất Sát là sao chủ về "huyết quang"; ở cung tật ách là bất lợi, gặp Dương Nhận hoặc Đà La thì dễ bị tàn tật.
Thất Sát có Thiên Diêu đồng cung thì nên chú ý nhiều tới vấn đề tranh chấp đào hoa; vào cung mệnh, cung phu thê hoặc cung phúc đức thì ý tượng là vì đào hoa mà chuốc họa, nhất là nữ mệnh, có điểm hôn nhân không mĩ mãn, hoặc luân lạc chốn phong trần.
Thất Sát vào cung mệnh thì bề ngoài cương cường nhưng nội tâm yếu đuối; là một sao vừa động vừa tĩnh, cũng là sao dịch mã.
Thất Sát thủ cung mệnh ở Dần, Thân, Tị hoặc Hợi thì trong cuộc đời sẽ có động thái dịch mã rất mạnh, hoặc rời khỏi quê hương, ra nước ngoài mưu sinh.
Thất Sát gặp tứ hóa
Thất Sát gặp Hóa Lộc thì ý tượng là hoạnh phát. Thất Sát Hóa Lộc vào cung điền trạch hoặc cung mệnh ắt sẽ bạo phát thành phú ông.
Thất Sát gặp Hóa Quyền thì ý tượng là tăng thêm uy quyền, chủ về gây dựng cơ nghiệp; vào cung mệnh, cung thiên di, cung quan lộc hoặc cung tài bạch thì ý tượng là có tinh thần làm việc, có thành tựu.
Thất Sát Hóa Quyền vào cung phúc đức, cung tật ách thì ý tượng là không có đất dụng võ, nhiều tai nhiều nạn.
Thất Sát Hóa Quyền vào cung phụ mẫu xung cung tật ách là cung nhàn, ý tượng là không có nghề nghiệp chính đáng, du thủ du thực, thích ở không.
Thất Sát Hóa Quyền vào cung điền trạch thì ý tượng là phách lối, thích ra oai, chiếm quyền trong nhà; cũng chủ về không có "kho tiền" (tài khố).
Thất Sát Hóa Quyền còn chủ về dịch mã, cuộc đời nhiều biến động.
Thất Sát gặp Hóa Khoa vào cung tài bạch, cung quan lộc thì nên theo sự nghiệp văn hóa.
Thất Sát gặp Hóa Kị vào cung phụ mẫu xung cung tật ách thì ý tượng là không có nghề nghiệp chính đáng, ưa ở không và hưởng thụ.
Thất Sát Hóa Kị vào cung phúc đức, cung tật ách thì ý tượng là cơ thể dễ bị thương.
Thất Sát Hóa Kị vào cung lục thân thì ý tượng là bất lợi cho lục thân. Vào cung phụ mẫu còn chủ về cha mẹ không có phương pháp giáo dục mệnh tạo.
Loại tượng của Thất Sát
Tượng ở người: quân nhân, cảnh sát.
Tượng ở sự việc: đánh nhau, ngoại thương, "huyết quang".
Tượng ở đất: công xưởng công nghiệp nặng.
Tượng ở bệnh: phổi (tạng phế).
Màu sắc: vàng trắng.
Phá Quân trong Hà Lạc phái
Vị tướng cầm quân đã ra trận; theo sau là kẻ phá vỡ mọi thứ để làm lại từ đầu.
Phá Quân là quý thủy, thuộc âm; đây là sao thuộc Bắc Đẩu, cai quản chồng, con trai, nô bộc; ở số là sát khí, còn gọi là "hao tinh", cũng là một sao "cô khắc" (cô độc và hình khắc). Tính nóng vội, nhiều tư dục, cá tính mạnh, không chịu thua, có tâm lí ưa đáp trả, không thích nhàn rỗi, lời nói dễ mích lòng người khác, làm việc rất thiết thực, không làm thì thôi, đã làm thì làm tới cùng.
Phá Quân vào cung mệnh thì trước gặp khó khăn sau mới dễ dàng, có điểm đại thành hoặc đại bại. Phá Quân vào cung mệnh ưa ở cung Tí hoặc Ngọ, ý tượng là quyền quý, phát đạt, thành tựu, nhưng vận lúc trẻ không tốt; ở các cung khác thì bôn ba nhiều, lao tâm.
Phá Quân ở các cung Tí, Ngọ, Mão hoặc Dậu thì duyên với người khá tốt, nhiều thủ đoạn; nhưng nữ mệnh rất sợ Phá Quân thủ cung mệnh, có thêm Địa Kiếp đồng cung thì hôn nhân không tốt đẹp, cần phải tu tâm dưỡng tính nhiều, nếu không sẽ dễ bước vào chốn phong trần.
Phá Quân vào cung phụ mẫu thì bất lợi về cha mẹ, nên nhận cha mẹ nuôi thì tốt hơn. Phá Quân cũng là sao "huyết quang"; đối với bản thân mà nói, phần nhiều chủ về ngoại thương.
Phá Quân ở cung tài bạch thì như thần tài đi qua đường, tiền đến rồi tiền đi, không giỏi quản lí tiền bạc, không đủ sức kiểm soát tiền bạc; tốt nhất nên gửi tiền vào ngân hàng, không nên giữ tiền mặt quá nhiều, để tránh bị ảnh hưởng của Phá Quân là "hao tinh" làm tổn tài, hao tài.
Phá Quân ở cung phu thê, cung tử nữ thì dễ bị mất một bên, tức có ý vị giữ không được, hiện tượng hao tổn.
Phá Quân ở cung nô bộc thì muốn tìm tri âm rất khó, cách cục về bạn bè không cao, không được trợ giúp.
Phá Quân ở cung quan lộc thì sự nghiệp gặp nhiều biến động, trồi sụt rất lớn.
Phá Quân ở cung phúc đức thì lao tâm nhiều, thanh tĩnh ít.
Phá Quân gặp tứ hóa
Phá Quân Hóa Lộc vào cung quan lộc và chiếu cung phu thê, vào cung điền trạch và chiếu cung tử nữ, vào cung huynh đệ và chiếu cung nô bộc, thì ý tượng là vợ chồng đối xử với nhau ý hợp tâm đầu, tình ý hợp nhau; con cái dễ thân cận, bạn bè trợ lực nhiều.
Phá Quân Hóa Lộc vào cung mệnh thì hợp buôn bán kinh doanh.
Phá Quân Hóa Lộc vào cung quan lộc, cung tài bạch thì ý tượng là phải lao lực mới kiếm được tiền.
Phá Quân Hóa Quyền thì có tượng dịch mã; vào đất Tứ Mã Dần, Thân, Tị, Hợi thì tác dụng dịch mã càng rõ rệt.
Phá Quân Hóa Quyền vào cung thiên di xung cung mệnh thì ý tượng là cuộc đời vất vả và bôn ba nhiều.
Phá Quân Hóa Kị là sao chủ về tổn hao; vào cung lục thân thì chủ về trong lục thân có người mất.
Phá Quân Hóa Kị vào cung quan lộc xung cung phu thê thì ý tượng là vợ chồng không hợp nhau, bất lợi đối với người phối ngẫu, khó sống với nhau tới bạc đầu.
Phá Quân Hóa Kị vào cung tật ách xung cung phụ mẫu: do Phá Quân không chủ về trưởng bối, nên không liên quan tới cha mẹ, chỉ xảy ra vấn đề về văn thư.
Phá Quân Hóa Kị vào cung nô bộc thì ý tượng là không có trợ thủ đắc lực, bạn bè hay đồng sự không cách nào trợ giúp.
Loại tượng của Phá Quân
Tượng ở người: nhân viên thúc đẩy tiêu thụ, quân nhân, cảnh sát, vận tải, mậu dịch.
Tượng ở sự việc: biến động lớn.
Tượng ở vật: tủ kệ hàng hóa.
Tượng ở đất: thị trường thức ăn, tiệm tạp hóa.
Tượng ở bệnh: tai nạn có "huyết quang".
Màu sắc: đen.
Tả Phụ, Hữu Bật trong Hà Lạc phái
Tướng mạnh đến đâu cũng cần người phò tá đứng hai bên.
Tả Phụ là mậu thổ, thuộc dương, là trợ tinh của Bắc Đẩu, là thần phù hộ, giúp đỡ, hóa khí làm "lệnh"; là người ôn hòa, thông minh, giỏi giang, linh hoạt, khéo léo. Còn Hữu Bật là quý thủy, thuộc âm, là trợ tinh của Bắc Đẩu, là thần phù hộ, giúp đỡ, hóa khí làm "lệnh"; là người chuyên chế, thông minh, giỏi giang, cơ trí. Cả hai sao đều có lòng cầu tiến, có hùng tâm và chí hướng, có nguyện vọng; nhưng nếu có Đà La tương hội thì khó thành hiện thực, mà thường kéo dài dây dưa. Còn chủ về phong thái văn nhã, trọng tình cảm, nhất là mối tình đầu rất khó quên.
Tả Phụ và Hữu Bật ở cung mệnh thì có lòng cầu tiến; Tả Phụ chủ về linh hoạt, khéo léo; Hữu Bật chủ về cơ trí, chí hướng, nguyện vọng, dễ quý hiển. Nếu hai sao này chia ra ở đối cung chiếu nhau thì mạnh hơn là đồng cung; kế tới là giáp cung; sức mạnh của đồng cung là sau cùng.
Tả Phụ và Hữu Bật bất lợi đối với hôn nhân; ở cung phu thê thì Hữu Bật mạnh hơn Tả Phụ. Phàm Hữu Bật ở cung mệnh hoặc cung phu thê thì cần phải chú ý nhiều về vấn đề tình cảm; trước khi kết hôn, lúc chọn người, phải mở to mắt ra nhìn, phải cố hết sức tìm người có tính tình hợp với mình, để tránh sau khi kết hôn tình cảm xảy ra sóng gió.
Tả Phụ và Hữu Bật không ưa đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang; ý tượng là tình cảm dễ xảy ra sóng gió, có hiện tượng tình cảm không ổn định, không chuyên nhất. Nhất là nữ mệnh, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thủ cung mệnh vốn đã bất lợi, nên tu tâm dưỡng tính nhiều mới giúp được cho bản thân.
Tả Phụ và Hữu Bật tam hợp hội với Cự Môn, Thiên Cơ, Thất Sát, tứ sát tinh thì chủ về mệnh cách khá thấp.
Tả Phụ và Hữu Bật vào cung mệnh, cung thiên di hoặc cung phu thê thì cuộc đời phần nhiều được quý nhân nâng đỡ; nhưng Tả Phụ và Hữu Bật đều là sao chủ về phong thái văn nhã, vì vậy đối với tình cảm lại bất lợi.
Tả Phụ và Hữu Bật ở cung mệnh, cung quan lộc hoặc cung phụ mẫu thì có hiện tượng học hành thi cử hai lần, tức là sau khi nghỉ học một thời gian rồi đi học lại, hoặc thi rớt rồi đi thi lại.
Tả Phụ và Hữu Bật ở cung mệnh, cung phu thê hoặc cung tử nữ thì lúc chọn lựa người trước khi kết hôn dễ xuất hiện hơn hai người, nên cần phải đặc biệt thận trọng.
Văn Xương, Văn Khúc trong Hà Lạc phái
Người phò tá lo việc cầm lệnh; còn việc thi cử, chữ nghĩa thì giao cho cặp sao văn.
Văn Xương là tân kim, thuộc âm, cai quản việc thi cử, hóa khí làm sao "văn khôi", chủ về khẩu tài, học lực, công danh; là người thông minh, giỏi giang, tư tưởng nhạy bén, tinh tế, có thể làm văn sĩ, có khẩu tài.
Về mặt tinh thần, Văn Xương chủ về khẩu tài, văn chương; về mặt vật chất thì ý tượng là chi phiếu, văn thư, khế ước, giấy chứng nhận.
Văn Xương ở cung mệnh thì ý tượng là người này có khẩu tài, ưa thích cái đẹp.
Văn Xương và Văn Khúc giáp cung mệnh thì tốt hơn là chiếu cung mệnh; ý tượng là quý cách, là người đa học đa năng.
Văn Khúc là quý thủy, thuộc âm, cai quản việc thi cử, hóa khí làm "hao"; ý tượng là hao tổn, là sao biện luận; là người thông minh, giỏi giang, tư tưởng nhạy bén, tinh tế. Văn Khúc cũng chủ về khẩu tài, học lực, công danh.
Văn Xương và Văn Khúc đều thuộc loại sao chủ về hao tổn, cũng là sao chủ về biến thiên.
Văn Xương và Văn Khúc không ưa đồng cung thủ cung mệnh hoặc vào cung tật ách, vì chủ về tâm tình không ổn định, tư tưởng hay thay đổi (vì là sao thuộc hệ giờ).
Văn Xương và Văn Khúc vào cung phúc đức hoặc giáp cung phúc đức thì ý tượng là ưa thích thi thư, cuộc đời gặp nhiều quý nhân, nhưng cần đề phòng vấn đề tình cảm, vì gặp quý nhân nhiều sẽ khiến đào hoa tăng nhiều.
Văn Xương, Văn Khúc và Liêm Trinh, Thất Sát, Dương Nhận, Đà La cùng chiếu cung mệnh hoặc vào cung mệnh thì là người giả trá, không thành thực.
Văn Xương và Văn Khúc gặp Phá Quân vào cung lục thân thì ý tượng là hình khắc nhiều, vất vả.
Văn Xương và Văn Khúc ở cung quan lộc thì ý tượng là công việc của người này nhẹ nhàng, thuận lợi.
Nếu Văn Xương hoặc Văn Khúc Hóa Kị thì nên lưu ý vấn đề chi phiếu, văn thư, khế ước, giấy chứng nhận.
Văn Xương Hóa Kị thì cần chú ý sự cố giao thông, như bị lập biên bản phạt hành chính.
Văn Khúc Hóa Kị thì không được cờ bạc, chú ý vấn đề tranh chấp, điều tiếng thị phi.
Thiên Khôi, Thiên Việt trong Hà Lạc phái
Cặp sao văn nhờ chữ nghĩa mà có danh; cặp quý nhân này lại nhờ có người đưa tay dắt lối.
Thiên Khôi thuộc dương hỏa, Thiên Việt thuộc âm hỏa, đều thuộc tinh hệ Nam Đẩu, cai quản về tài năng; nhưng tính chất của nó khác với Văn Xương, Văn Khúc là cai quản về khoa danh (khoa cử và danh tiếng). Ở nhân mệnh, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt đều chủ về thông minh và lợi về cầu danh; nhưng thông minh của Văn Xương, Văn Khúc mang sắc thái phong lưu nho nhã, còn Thiên Khôi, Thiên Việt thì chân chất, không hoa mĩ.
Thiên Khôi, Thiên Việt đều thuộc sao quý nhân, khá có duyên với người, nhưng không phải "quý nhân" có thể trợ giúp; đây là hiện tượng Thiên Khôi, Thiên Việt tọa cung mệnh. Duyên với người này có khuynh hướng tác dụng về tình cảm, cho nên tác dụng quý nhân của Thiên Khôi, Thiên Việt kém hơn Tả Phụ, Hữu Bật.
Thiên Khôi, Thiên Việt là thần "hòa hợp", tức là có duyên với người, thuộc duyên với người khác giới. Cho nên nếu Thiên Khôi, Thiên Việt tọa cung phu thê thì tình cảm sẽ thuộc loại thần tượng hóa, tức có thiên hướng như một kiểu ngưỡng mộ; như học sinh ngưỡng mộ thầy giáo, vãn bối ngưỡng mộ trưởng bối (chú bác, cô cậu…).
Thiên Khôi có Hỏa Tinh đồng độ là quá dương cương; luận về bệnh tật cũng chủ về tới dữ dội như lửa táp. Thiên Việt có Linh Tinh đồng độ là quá âm nhu, cơ hội dễ tới mà không biết, chuyện qua rồi mới biết thì hối không kịp; luận về bệnh tật cũng chủ về kéo dài triền miên. Thiên Khôi, Thiên Việt không phải ở cung mệnh mới có lợi; ở cung điền trạch có lúc chủ về nơi làm việc có thể tạo cơ hội cho mệnh tạo.
Ở cung phụ mẫu thì chủ về cấp trên hoặc cơ cấu chủ quản chủ động nâng đỡ hoặc đề bạt, tiến cử mệnh tạo.
Ở cung phúc đức là sao rất có lợi về nghiên cứu học thuật; nếu là cách cục "Dương Lương Xương Lộc" thì chủ về tài học có thể thi thố.
Thiên Khôi và Thiên Việt tụ hội, Kình Dương và Đà La cũng tụ hội, lại thêm Địa Không và Địa Kiếp tụ hội, nếu ở cung mệnh hoặc cung tật ách thì đều chủ về mắc bệnh khó chữa.
Thiên Khôi và Thiên Việt tụ hội, Văn Xương và Văn Khúc cũng tụ hội, lại thấy sao lộc (Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đều được), thì ý tượng là cuộc đời có đủ quyền thế lợi lộc.
Thiên Khôi tọa cung mệnh, Thiên Việt tọa cung thân, tương hội ở tam phương tứ chính; nếu cung mệnh và cung thân có chính diệu cát mà sát tinh không nặng, thì ý tượng là tuổi trẻ được vợ đẹp; bất kể nam hay nữ, đều chủ về cuộc đời mỗi khi gặp nạn sẽ có người trợ lực.
Thiên Khôi, Thiên Việt chia ra tọa cung mệnh và cung thiên di là tọa quý hướng quý; bất luận nam hay nữ đều chủ về nhờ cải sửa chế độ thi cử, tuyển chọn mà gặp cảnh ngộ tốt. Riêng nữ mệnh thì lại có chỗ không nên, là chủ về tình cảm thay đổi. Nếu lại được Tả Phụ, Hữu Bật cùng hội hợp thì tình cảm khá ổn định; thấy đơn tinh Tả Phụ hoặc Hữu Bật thì chủ về thay đổi tình cảm, yêu người khác.
Thiên Khôi, Thiên Việt chia ra tọa cung mệnh và cung thân, tương hội ở cung tam hợp, thì ý tượng là sự nghiệp đắc ý. Nếu kiêm gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương (người sinh vào ban ngày), Thái Âm (người sinh vào ban đêm) tọa cung mệnh, không có các sao sát kị, thì dễ thành nhân vật đầu não trong sự nghiệp. Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì còn chủ về nhờ phát đạt sớm mà được lọt mắt xanh của người khác giới; thêm Lộc Tồn hay sao Hóa Lộc thì còn được gia đình vợ nâng đỡ.
Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung: nếu giáp cung mệnh thì ý tượng là cuộc đời được nhiều quý nhân trợ lực, có lợi nhiều về chế độ thi cử, tuyển chọn; nếu giáp cung phu thê thì ý tượng là được gia đình vợ giúp đỡ. Thiên Khôi và Thiên Việt chia ra ở cung mệnh và cung phu thê cũng chủ về nhờ hôn nhân mà được trợ lực; nữ mệnh chủ về lấy được chồng tài giỏi.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
