Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Thái Tuế, Nam Bắc đẩu tinh và những năm hạn đáng ngại

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202616 phút đọc3 lượt đọc
Thái Tuế, Nam Bắc đẩu tinh và những năm hạn đáng ngại

Người sinh năm Tý, gặp năm Dần hay năm Thân, lời xưa dặn là tai ương thật nặng. Cũng nguồn ấy chép chuyện Tống Giao lấy cỏ làm cầu mà được thêm tuổi thọ. Vì sao cùng một năm hạn, có người gãy đổ, có người vẫn bình yên…


Luận Thái Tuế cát hung trong nhị hạn

Nên xem cung Đại hạn cát hung thế nào cùng Tiểu hạn cát hung thế nào? Sao Thái Tuế ở cung nào Cát hung ra sao? Như nhị hạn đều gặp hung ác tinh thì hung. Lại xem Đại tiểu hạn gặp nhau cát hung thế nào. Đại tiểu hạn gặp Thái Tuế cát hung thế nào? Mà định họa phúc.

Lại xem Thái Tuế xung Đại tiểu hạn thế nào, xung Dương Đà Thất Sát ra sao, rồi sau mới có thể đoán được Cát Hung.

Hành hạn phân Nam Bắc đẩu tinh

Mỗi ngôi sao trên trời đều thuộc về phương Nam hay phương Bắc, và hạn đi đến đâu thì cát hung ứng theo hướng ấy.

  • Về Dương Nam Âm Nữ gặp Nam đẩu Tinh là Phúc
  • Về Âm Nam Dương Nữ gặp Bắc đẩu Tinh là Phúc.

Sao Bắc đẩu: các sao Bắc đẩu cát hay hung ứng 5 năm đầu trong đại hạn 10 năm, ứng nửa năm trên trong tiểu hạn 1 năm.

Sao Nam đẩu: các sao Nam đẩu cát hay hung ứng 5 năm sau trong Đại hạn 10 năm, ứng nửa năm sau trong tiểu hạn 1 năm.

Nếu bị Tuần triệt ảnh hưởng lại ngược lại.

Luận lưu niên Thái Tuế gặp cát hung tinh sát

Từ đường hạn nhìn ra khắp mười hai cung, ánh mắt sẽ dừng lại nơi Thái Tuế đóng.

Phàm Thái Tuế thì xem 3 phương đối chiếu lại có sao tốt xấu thế nào để định họa Phúc, Thái Tuế ở tại cung Mệnh thì sự Họa Phúc lại can hệ hơn các cung khác. Như Mệnh an tại cung Tý Thái Tuế cũng ở cung Tý lại là người sinh năm Quí gặp Cát tinh thì tốt, nếu gặp hung tinh thì xấu.

Luận Âm Dương duyên thọ

Số trời dù đã định, người xưa vẫn chừa một cánh cửa mở cho đức hạnh.

Âm dương của Trời đất là tốt cần cho sự sống lâu hay chết yểu, nên nói là Âm Dương duyên thọ sinh bách phúc. Âm Dương đều hòa nhịp nhàng đã sống lâu còn sinh trăm sự phước lành nên gặp hạn có bị hung ác Tinh cũng không đến nỗi chết. Như có người Đại tiểu hạn, và Thái Tuế đến ở cung hãm địa mà cũng không chết, thấy sự nguy nan mà không hề hấn mà còn tăng cho Âm Dương thường ngày để lợi vật cho người, phản thân tu đức mà làm Thiện tác Phúc, tuy bị hung mà không hại. Như Tống Giao lấy cỏ làm cầu cứu kiến được tăng Thọ, lại như Gia Cát Lượng nhà Hán đốt mây làm giáp trụ cho quân đi giết nhau là độc ác cho nên bị giảm thọ một kỷ.

Xem như vậy trong Số trời đã định tức là Thiên Mệnh cũng có thể dời đổi được, người ta thường nói: “Đức năng thắng Số” là lẽ ấy vậy. Bồi đắp cái Đức, lấy Đức hóa mà hòa cùng Thiên Lý cùng Trời Đất.

Luận Dương Đà ẩn lộ

Có những năm sao dữ không hiện ngay, mà ẩn sau một đường xung hợp.

Như người sinh năm Canh, Mệnh cư Mão, Thiên di ở Dậu như Dương Đà lưu niên thì xem Canh Lộc Tồn cư Thân, thì lưu Dương tại Dậu, lưu Đà tại Mùi, Mệnh ở Mão có Dương ở Dậu xung hợp lưu niên, lại gặp Lưu Đà hợp chiếu nữa như vậy là ẩn lộ Dương Đà.

Luận Thất Sát trùng phùng

Khi sao dữ đã hiện lại còn chồng thêm sao dữ nữa, tai ương như hai lớp sóng đuổi nhau.

Như cung Mệnh Tam hợp có Thất Sát thủ chiếu mà lưu niên lại gặp Dương Đà xung chiếu. Như vậy là gặp Sát trùng phùng là tối độc, nếu nhập miếu thì tai ương bị che tối mà giảm bớt đi. Như ở hãm địa gặp Kỵ và cung Mão Dậu (các cung: lầu cao) gặp Dương, người sinh năm Ngọ thì bất lợi. Nhưng Thất sát gặp nhiều sao tốt cũng có thể chuyển hung hóa cát, không thể cứ nhất khái luận là hung cả. Dương Đà Thất Sát gặp được Tử Tướng Lộc Tồn ba nơi hợp lại có thể giải được.

Luận Đại hạn Tiểu hạn

Mười hai chi như mười hai cửa ải, mỗi tuổi có những ải riêng phải dè chừng.

Chư Tinh quá độ 12 cung gặp 12 chi Kỵ số quyết định.

Nếu gặp thì chủ tai ương ở đâu đến, quan phí, đại tang, hỏa đạo, phá tài bình thường, tử vong.

Người sinh : năm Tý Mệnh kỵ Dần Thân.

Ví dụ như người sinh năm Tý thì kỵ nhất hạng năm Dần Thân bị tai bối thật nặng, lại Kỵ năm Tý Ngọ là hạn trong Xung.

Năm Sửu, Ngọ kỵ năm Sửu Ngọ

Nếu gặp tuế hạn vào năm Sửu Ngọ lại có Thất sát thủ chiếu ắt bị tai hối cực nặng.

Năm Dần Mão thì phòng năm Tị Hợi.

Như người sinh năm Dần Mão thì kỵ năm Tị Hợi tuế hạn và kỵ năm Dần Thân Mão Dậu là năm tương xung.

Năm Tị Thìn: kỵ lâm vào bản thân.

Như người sinh năm Tị kỵ gặp năm Tị và đi đến hạn Tị người sinh năm Thìn kỵ đến Thìn và đi đến hạn Thìn là Thiên la và đến cung Tuất là địa võng.

Nếu gặp thì bị tai hối tật bịnh nguy hiểm, quan phi phá tài, ưu chế liên miên.

Năm Thân kỵ gặp 2 sao Linh Hỏa, nếu gặp tất tai ương nặng và kỵ năm Dần xung.

Năm Mùi kỵ gặp năm hạn Hợi, Dậu và kỵ gặp Kình Dương tại Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi).

Năm Tuất Hợi kỵ gặp Dương Đà, không thì tai nạn lớn.

Sinh năm Tuất lại hạn đến cung Tuất là Tuế hạn ở Địa võng và kỵ đi đến cung Thìn là Thiên la. Thìn Tuất tương xung là bất mỹ.

Năm Dậu cũng kỵ gặp Dương Đà ở Tuế hạn và kỵ đi đến cung Mão Tuế quân tương xung

Thơ rằng:

Chư khuyển sinh nhân mạc ngộ Xà.

Thìn Tuất thiết kỵ đáo Võng La.

Dự tiên chỉnh đốn y quan mộc.

Mùi vấn sinh nhân sướng vãn ca.

Giải: Người sinh năm Hợi Tuất không nên gặp năm Tị

Người sinh năm Thìn Tuất rất kỵ Thiên la, Địa Võng.

Nếu gặp thì nên mua áo quan trước

Sinh năm Mùi ắt là bị đại tang.

Luận tập Mệnh hành hạn cung ca

Ngũ hành của bản Mệnh gặp ngũ hành của cung hạn, sinh hay khắc đều để lại dấu vết.

Thơ rằng :

Kim nhân ngộ Khảm, Mệnh tu thương

Mộc Mệnh lạc Ly hữu họa ương.

Thủy ngộ Cấn cung ứng kiểu đái

Hỏa lai Đoài thượng họa nan tàng

Thổ khắc Đông Nam phùng Chấn Tốn

Tu phòng nung huyết cập kinh hoàng

Túng nhiên Cát diệu tương phùng chiếu,

Vị miền Quan tai náo nhất Tràng.

1. Giải: Người sinh Kim Mệnh, mà hạn đi đến cung Tý là cung Khảm thuộc Thủy thì bị thương hại, lấy nghĩa Mệnh Kim sinh Thủy cung, ắt Mệnh bị suy tàn nên mới nói là thương hại.

2. Người sinh Mệnh thuộc Mộc, hạn lạc vào cung Ngọ thuộc quẻ Ly hành Hỏa tức như trên Mộc Mệnh sinh Hỏa cung, ắt Mệnh được sáng nhưng không khỏi bị thương tổn nên nói là có tai ương họa hoại.

3. Người sinh Thủy Mệnh mà hạn đến cung Sửu Dần là quẻ Cấn hành Thổ tượng là Ngưng Chỉ bế tắc. Mệnh Thủy bị Cấn thổ Khắc cho nên nói là kiểu vận bị bế tắc, như ngòi lạch bị chận ngưng bí lối.

4. Người sinh Hỏa Mệnh mà hạn hạnh đến cung Dậu là quẻ Đoài hành Kim tức là Mệnh Hỏa khắc kim cung tức là không có chỗ đứng ắt là nguy khốn nên nói là họa khó tránh được.

5. Thổ Mệnh mà hạn đi đến cung Mão quẻ Chấn hành Mộc tượng là Lôi đình, Kinh hoảng. Tốn là cung Thìn Tị, Tốn hành Mộc.

6. Mộc khắc Thổ Mệnh nên bị suy nhược, có bệnh về máu huyết, hay kinh hoảng điên cuồng.

7. Nếu gặp được Cát tinh xung chiếu.

8. Nhưng cũng không tránh khỏi Quan Tài làm kinh sợ một phen.

Luận Thái Tuế theo Tiểu hạn với các sao miếu hãm trong 12 cung cát hung

Mười hai năm từ Tý đến Hợi, mỗi năm mang một bảng cát hung riêng.

Năm Tý

A. Thái Tuế cùng Tiểu hạn đến cung Tý có các sao nhập miếu Hóa Cát

Có Sát Phá tại cung Tị thủ Tuế hạn người sinh năm Quí Canh Kỷ thì phát Phúc.

Có Cự Cơ người sinh năm Ất Quí thì phát Phúc.

Có Phủ Tướng Lương, người sinh năm Đinh Kỷ Canh thì tài vượng toại lòng, lại có Thiên Đồng người sinh năm Bính Đinh thì tài quan song mỹ.

B. Thái Tuế cùng Tiểu hạn đến cung Tý có các sao nhập miếu Hóa Hung.

Có Tử Vi tại cung Tý thủ Mệnh và Tuế hạn đến đó người sinh năm Bính Mậu Nhâm là hối lẫn phá tài tai ương.

C. Thái Tuế cùng với Cát Hung Tinh

Tuế hạn có Thái tuế cùng với những sao: Lộc Tồn Cơ Đồng Âm, Xương, Khúc, Phụ, Bật, Phá, Tướng, Liêm, Vũ, Phủ, Cự, Sát, có thể đoán năm đó nhân tài đều vượng tốt, sự toại lòng.

Nếu gặp Tham, Tử Vi, Lương, Kỵ Tinh, Dương Kinh thì lại đoán người và tiền tài hao tán, quan tai, tang chế, bản thân, bị tai hổi không yên. Tai ương lớn nhỏ thì theo số sao trên nhiều ít.

Năm Sửu

A. Thái Tuế đến cung Sửu

Có Thiên Cơ thủ Mệnh tại cung Sửu, người sinh năm Bính Tân là phát tài thịnh vượng.

Người sinh Mệnh có Thiên tướng ở cung Tuất là Phát, Vượng.

Có Âm Vũ người sinh năm Bính Mậu là Phát Vượng.

Có Phủ Liêm người sinh năm Bính Mậu là Phát Vượng

Có Thiên Lương người sinh năm Bính Mậu Tân là Phát Vượng.

B. Thái Tuế cư Sửu thủ Mệnh người sinh năm Mậu bị hối lẫn.

Có Thái dương người sinh năm Giáp Ất thì hối lẫn.

Có Thiên cơ người sinh năm Bính Tân Quí thì hối lẫn.

Có Đồng liêm người sinh năm Đinh Canh thì chiêu quan phi.

C. Tuế hạn có Thái tuế cùng với những sao: Tử Tướng, Lương Âm, Phủ Lộc Tồn, Liêm Phá Xương Khúc Cơ Phu Bật thì đoán là trong năm việc gì cũng được toại nguyện.

Nếu gặp Đồng Cự, Kỵ, Dương, Kình Đà Hỏa Linh thì đoán năm ấy nhân tài hao tán, quan tai khẩu thiệt tang chế, bản thân bị gặp chuyện mờ ám.

Tai ương lớn nhỏ thì theo số sao trên nhiều ít.

Năm Dần

A. Thái Tuế ở cung Dần có Tử Dương Vũ Xương Sát người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ thì được tài quan song mỹ.

B. Có Liêm Tham Phá tại cung Dần người sinh năm Bính Mậu là chiêu quan phi, người sinh năm Giáp Tị gặp hạn năm Dần Thân không tốt.

C. Có Tử Phủ Cơ Âm Vũ Sát Đồng Tướng Dương Cự Lương thì đoán trong năm đó nhân tài tiến ích, làm việc toại lòng. Nếu gặp Tham Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài bị phá tán, quan phi, tang chế, bản thân bị tai ương.

Ít hung tinh thì tai họa giảm phân nữa.

Năm Mão

A. Thái tuế ở cung Mão có Tử Cơ Dương Tướng Phủ Đồng Vũ ở cung Mệnh người sinh năm Ất Tân thì phát tài thịnh vượng.

B. Có Liêm trinh người sinh năm Giáp Bính là Hoạnh phát

Có Thái Âm người sinh năm Canh là chủ tai hại.

C. Có những sao : Lương Tử Cơ Đồng Phủ Tham Cự Sát thì đoán năm ấy nhân tài hưng vượng, hôn nhân có việc vui mừng liên tiếp các việc đẹp lòng.

Nếu gặp Liêm Phá Âm Hình Kỵ là năm đó phá tài quan tai khẩu thiệt, bản thân bị mờ ám.

Gặp ít sao trên đây thì sự xấu hay tốt ít đi.

Năm Thìn

A. Thái tuế ở cung Thìn có Tử Tham Sát tại cung Thìn thủ Mệnh Hạn người sinh năm Quí Giáp thì được tài quan lộc vượng.

Có Cơ Dương người sinh năm Đinh Canh Quí thì nhân vượng Tài lộc phát.

Có Thiên đồng người sinh năm Mậu Canh Quí là được thuận ý toại lòng.

Có Cự Môn người sinh năm Bính Tân là toại ý.

B. Có Tham Vũ tại cung Thìn gặp Thái Tuế tuế hạn ở đây sinh năm Đinh Canh là tai hối.

Có Liêm trinh người sinh năm Nhâm Quí là chủ tai ương hối lẫn thật nặng.

Có Thái Âm, Dương Cơ người sinh năm Giáp Ất Mậu Kỷ là tai hối.

C. Có Dương Cơ Lương Sát Tham, Xương Tả Hữu thì đoán năm đó tài lộc đến thật nhiều, gia nghiệp hưng long, thêm đinh tiến khẩu, hôn nhân hỉ khánh trùng trùng.

Nếu gặp Tử Đồng Liêm Phủ Âm Cự Tướng Phá Kỵ thì đoán năm đó phá tài tang chế quan tai khẩu thiệt.

Năm Tỵ

A. Thái Tuế ở cung Tị có Tử Phủ Đồng Cự Tướng Lương người sinh năm Bính Mậu Tân là phát Phúc.

Có Âm Cơ người sinh năm Đinh Nhâm Tân Bính thì phát tài có Tham Lang, người sinh năm Giáp Mậu là bình thường.

B. Có Cự Tham người sinh năm Quí Bính là khẩu thiệt tai hối.

Có Âm Phá là tai hối đa đoan.

C. Có Tử Phủ Dương Đồng Lương Lộc Tồn đoán là năm đó có tài xứng ý, hỉ sự trùng phùng.

Nếu gặp Vũ Liêm Thái tuế, Tham Cự Tướng Phá Kỵ đoán năm đó nhân tài tổn thất, quan tai khẩu thiệt, bản thân bịnh hoạn. Gặp ít sao trên thì giảm được.

Năm Ngọ

A. Thái tuế ở cung Ngọ có Tử Lương Vũ Đồng Lương Liêm Sát Phá người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Quí thì tiến tài toại tâm.

B. Có Tham lang người sinh năm Bính Ngọ, Nhâm Quí là phá tài, quan tai khẩu thiệt.

C. Có Tử Phủ Cơ Dương Vũ Liêm Tướng Cự Lương Phá Lộc Tồn đoán năm đó nhân tài hưng vượng, hôn nhân hỉ sự trùng phùng.

Nếu có Thái Âm Tham Đồng Dương Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài phá hại, quan tai khẩu thiệt, tang chế bản thân có thể tránh được tai nguy.

Năm Mùi

A. Thái tuế ở Cung Mùi có Tử Phủ, Tướng Cơ Lương người sinh năm Nhâm Ất thì phát phúc.

Có Thái Âm người sinh năm Canh Nhâm là phát phúc sinh tài.

B. Có Thái Dương người sinh năm Giáp Ất là nhiều tai hối.

Có Đồng người sinh năm Đinh Canh là nhiều tai nạn.

Có Vũ khúc người sinh năm Nhâm Quí là sinh tai nạn, chiêu quan phỉ, hoạnh hoạ.

C. Có Tử Phủ Liêm Phá Cơ Tướng đoán năm đó nhân tài tăng ích, làm việc như ý, có sự vui mừng về hào con. Nếu gặp Âm Dương Vũ Đồng Tham Cự Dương Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài hao tán, tang chế quan tài, đàn bà thì khẩu thiệt, không yên ổn. Bản thân bị nguy nan không tránh được.

Năm Thân

A. Thái tuế ở cung Thân có Liêm Tử người sinh năm Giáp Canh Quí là phát phúc.

Có Cự Môn người sinh năm Giáp Canh Quí là phát phúc.

B. Có Thiên Cơ người sinh năm Ất Mậu là tai hối

Có Cự Môn người sinh năm Đinh không nên gặp

Có Liêm trinh người sinh năm Bính Thân có tai họa.

Có Thiên đồng người sinh năm Giáp Canh có tai họa.

Có Tham lang người sinh năm Bính có tai họa.

C. Có Tử Phủ Liêm Dương Cự Sát Xương Vũ Lộc Tồn là năm đó nhân tài lợi ích, hỉ sự trùng phùng.

Nếu gặp Cơ Đồng Lương Tướng Âm Phá Kỵ thì đoán năm đó nhân tài tán thất, quan phi tang chế, bản thân tai bịnh.

Năm Dậu

A. Thái tuế ở cung Dậu có Tử Lương Âm thủ hạn và Mệnh ở cung Dậu người sinh năm Bính Mậu Ất Tân là Tiền tài cát lợi.

B. Có Dương Đồng người sinh năm Giáp Ất không nên gặp.

Có Vũ Khúc người sinh năm Canh Nhâm không nên gặp.

Có Thiên Lương người sinh năm Giáp Canh không nên gặp.

Có Liêm Trinh người sinh năm Giáp Canh Bính Tân không nên gặp.

Có Thiên Phủ người sinh năm Giáp Canh Nhâm không nên gặp.

C. Có Lộc Tồn, Thái Tuế, Tử Vi, Xương Khúc Tả Hữu đoán năm đó nhân tài hưng vượng, làm việc toại lòng.Nếu có Cơ Cự Vũ Liêm, Kình Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân ly tài tán, khẩu thiệt quan phi.

Năm Tuất

A. Thái Tuế ở cung Tuất có Tử Vi người sinh năm Nhâm Giáp Đinh Kỷ là tiến tài.

Có Thái Âm người sinh năm Đinh Kỷ là Cát khánh.

Có Vũ Khúc người sinh năm Đinh, Kỷ, Giáp, Canh là Cát khánh.

Có Thiên Cơ người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ là phát phúc.

Có Cự Môn người sinh năm Đinh Kỷ Tân Quí là phát phúc.

Có Thiên Đồng Liêm Phá Sát người sinh năm Đinh Kỷ Tân Quí là Đinh Kỷ Giáp là phát tài.

B. Có Tham lang người sinh năm Quí không nên gặp.

Có Đồng người sinh năm Canh không nên gặp.

Có Cơ người sinh năm Mậu không nên gặp.

Có Cự người sinh năm Đinh không nên gặp.

Có Dương người sinh năm Giáp không nên gặp.

Có Liêm người sinh năm Bính không nên gặp.

Có Vũ người sinh năm Nhâm không nên gặp.

C. Có Cơ Âm Lương Phủ Vũ Sát Tham Tả Hữu Đồng là đoán năm đó nhân tài lợi ích, làm việc toại lòng, gia nghiệp hưng vượng.

Nếu gặp Cự Dương Phá Tử Tướng Kỵ thì đoán năm đó Nhân tài thoái thất, tang chế quan tai, bản thân bịnh tật. Gặp ít sao trên thì tai họa giảm được.

Năm Hợi

A. Thái Tuế ở cung Hợi có Tử Đồng Cự Lương người sinh năm Nhâm Quí Mậu thì Cát khánh.

Có Cơ người sinh năm Nhâm thì Cát mỹ.

Có Tướng người sinh năm Đinh Kỷ Bính Mậu thì phát phúc.

Có Âm người sinh năm Mậu Kỷ thì tài quan song mỹ.

B. Có Liêm người sinh năm Bính Nhâm Quí không nên gặp.

Có Vũ người sinh năm Nhâm Bính không nên gặp.

Có Dương người sinh năm Giáp không nên gặp.

C. Có Đồng Âm Lương Tử Phủ Xương Khúc Lộc Tồn thì đoán năm đó nhân tài tiến ích, Hỉ khí trùng trùng, mưu sự đều xứng ý toại lòng.

Nếu gặp Liêm Phá Sát đoán là năm đó nhân tài hao tán, miệng tiếng thị phi Tử vong, bản thân bị tai hối.

Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề