Bài tổng quan
Văn Khúc, Thiên Phủ và Thái Âm Hóa Khoa theo từng can
Văn Khúc Hóa Khoa thông minh nhưng dễ tự cho mình là đúng, hay ỷ vào cái thông minh ấy mà xử sự hấp tấp. Thiên Phủ Hóa Khoa của can Nhâm lại mang một chữ Kị đi kèm ở Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh, khiến kho tiền vừa được tín nhiệm vừa dễ thiếu nợ, được lòng người mà vẫn có thể trắng tay. Thái Âm Hóa Khoa thì khác hẳn, tô thêm nét tài hoa và uy tín cho người thủ mệnh, nhưng liền sau đó là nỗi lo Tham Lang Hóa Kị ở cung phụ mẫu, đúng kiểu tài cao chuốc đố kị mà cổ nhân từng cảnh báo. Còn điều gì đọng lại sau khi đi hết một vòng mười ngôi sao cùng mang một chữ Khoa, cùng hứa hẹn danh tiếng nhưng mỗi sao một cách?
Văn Khúc Hóa Khoa: thông minh nhưng dễ tự cho mình là đúng
Can Tân là Văn Khúc Hóa Khoa và Văn Xương Hóa Kị, hai sao này thường gặp nhau trong mệnh bàn, do đó cần phải lưu ý bản chất đặc biệt lúc chúng tương hội. Thông thường, có thể biểu trưng cho học hành thông minh, nhưng lúc xử sự hay ỷ vào sự thông minh của mình mà thường tự cho mình là đúng. Ở giai đoạn còn đi học, thì chủ về có nhiều hứng thú với toán lí, hoặc ngoại ngữ.
Tính chất cơ bản của Văn Khúc Hóa Khoa hơi giống Văn Xương, đã gặp thuật ở trước. Làm tăng năng lực biện luận, ngôn từ dễ làm vui lòng người khác và hấp dẫn người khác giới.
"Thái Dương, Cự Môn" ở hai cung Dần hoặc Thân, chia ra một sao Hóa Quyền và một sao Hóa Lộc, có Văn Khúc Hóa Khoa đồng độ, là kết cấu tốt nhất, đại lợi về "dùng lời nói để kiếm tiền", xem xét kĩ các sao phụ, tá, sát tinh và tạp diệu, để định thích hợp với ngành nghề về pháp luật, ngoại giao hay nghệ thuật biểu diễn.
Văn Khúc ở ba cung Dần, Ngọ, Tuất là các cung hãm nhược, dù Hóa Khoa cũng chủ về có mầm mà không trổ bông.
Các tính chất còn lại của Văn Khúc Hóa Khoa, phần Xương Khúc đã thuật khá đủ, ở đây chỉ bàn riêng phản ứng theo từng cặp cung của can Tân.
Thiên Phủ Hóa Khoa (can Nhâm): cùng một kho tiền, khác một chữ Kị
Về lí lẽ và đặc tính của Thiên Phủ Hóa Khoa, phần trên đã thuật ở mục Thiên Phủ Hóa Khoa của can Canh, dưới đây chỉ thuật về phản ứng của Thiên Phủ Hóa Khoa can Nhâm ở 12 cung, nơi Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh, Tử Vi đồng cung lại mang Hóa Kị hoặc Hóa Quyền khác hẳn.
Vũ Khúc, Thiên Phủ ở Tí, Ngọ
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Thiên Phủ Hóa Khoa, Vũ Khúc ắt sẽ Hóa Kị, còn đồng độ với Kình Dương, hoặc có Đà La hội chiếu; đối cung là Thất Sát; cung tam hợp là Liêm Trinh độc tọa và "Tử Vi, Thiên Tướng", mà Tử Vi Hóa Quyền.
Thông thường, tổ hợp tinh hệ này không thích hợp tự kinh doanh làm ăn. Vũ Khúc Hóa Kị chủ về chi xuất tài chính, Thiên Phủ Hóa Khoa chủ về được người ta tín nhiệm, do đó kinh doanh làm ăn thường dễ bị hoàn cảnh khách quan gây ảnh hưởng, biến thành thiếu nợ. Thích hợp làm việc trong ngành tín dụng, ngân hàng, hoặc chính giới, chủ về dễ được thượng cấp đề bạt. Có điều, không nên ở vị trí cao nhất, nếu không sẽ dễ bị thất bại. Ngoài ra, còn thích hợp với những ngành nghề mang tính hung hiểm.
Nhưng đối với nữ mệnh, phần nhiều đều bất lợi về hôn nhân, thường ít có lạc thú phòng the.
Thiên Phủ độc tọa ở Sửu, Mùi
Thiên Phủ độc tọa Hóa Khoa ở hai cung Sửu hoặc Mùi; đối cung là "Liêm Trinh, Thất Sát"; cung tam hợp là Thiên Tướng, và mượn "Tử Vi, Tham Lang", mà Tử Vi Hóa Quyền.
Thiên Phủ Hóa Khoa của tinh hệ này cũng chỉ lợi ở địa vị phó. Thích hợp với nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp, trong lúc làm việc dễ tạo ra uy tín, mà còn được nhiều trợ lực.
Nhưng về phương diện hôn nhân, tinh hệ này cũng có khuyết điểm, nhất là nữ mệnh, chủ về dễ xa cách, chia li với người phối ngẫu, hoặc người phối ngẫu có những khiếm khuyết đáng tiếc, nên dốc tâm lực vào việc giáo dục con cái.
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, nên lưu ý cơ hội thăng chức hoặc nguồn tiền tài có sự thay đổi theo hướng tốt.
Tử Vi, Thiên Phủ ở Dần, Thân
"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Phủ Hóa Khoa thì Tử Vi ắt sẽ Hóa Quyền; phần Tử Vi Hóa Quyền đã nói rõ sắc thái riêng, ở đây chỉ cần biết thêm là Thiên Phủ Hóa Khoa cùng chiếu tới.
Thiên Phủ độc tọa ở Mão, Dậu
Thiên Phủ độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu; đối cung là "Vũ Khúc, Thất Sát", mà Vũ Khúc Hóa Kị; cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa và mượn "Liêm Trinh, Tham Lang"; Thiên Phủ ở cung Mão được gặp Lộc Tồn.
Tinh hệ này tuy bất lợi về đi xa, nhưng "Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung phúc đức thường thường lại khiến mệnh tạo phải rời xa quê hương. May mà cung thiên di có "Tử Vi, Phá Quân" (Tử Vi Hóa Quyền) và Thiên Phủ Hóa Khoa tương hội, cho nên sau khi trải qua gian khổ ở xứ người có thể tạo dựng được sự nghiệp, và được tin tưởng nên có thể xoay chuyển tiền bạc trong công việc làm ăn để bổ sung vào những lúc cần thiết. Ngoài ý vị thích hợp với những ngành nghề mang tính hung hiểm, cũng nên tính đến việc kinh doanh ở tha hương.
Nếu an phận thủ thường, ở lại quê nhà thì thích hợp làm nhân viên cho công ti, làm việc hưởng lương, không nên tự kinh doanh làm ăn.
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, không nên mở rộng việc kinh doanh làm ăn.
Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Thìn, Tuất
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thiên Phủ Hóa Khoa; đối cung là Thất Sát; cung tam hợp là "Vũ Khúc, Thiên Tướng", mà Vũ Khúc Hóa Kị, và Tử Vi độc tọa, mà Tử Vi Hóa Quyền. Cung mệnh gặp sát tinh đồng độ hoặc vây chiếu.
Tinh hệ này, về sự nghiệp và hôn nhân đều có khuyết điểm.
Ở phương diện sự nghiệp, không nên tự sáng lập sự nghiệp, bất lợi nhất là các công việc hay nghề nghiệp có liên quan đến tiền tệ, nghiệp vụ ngân hàng; không được đầu cơ mà thất bại; nếu làm việc hưởng lương thì cũng không được quản lí tiền bạc.
Về phương diện hôn nhân, thường chủ về tái hôn, mà cũng dễ "ngó đứt mà tơ vương".
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, người kinh doanh làm ăn phải đề phòng vấn đề xoay chuyển tiền bạc khó khăn, gặp trắc trở về sự nghiệp.
Thiên Phủ độc tọa ở Tị, Hợi
Thiên Phủ độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Tị hoặc Hợi, có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; đối cung là "Tử Vi, Thất Sát", mà Tử Vi Hóa Quyền; cung tam hợp là Thiên Tướng và mượn "Vũ Khúc, Tham Lang", mà Vũ Khúc Hóa Kị.
Tinh hệ có kết cấu dạng này chủ về đời người khá thuận lợi toại ý, nhưng phần nhiều đều có thanh thế lớn bề ngoài, mà bên trong thì chi ra quá nhiều, may mà có tín dụng chống đỡ, vẫn có thể vững bước phát triển sự nghiệp.
Khuyết điểm lớn nhất của tinh hệ này là dễ định sai kế hoạch, đạo "xu cát tị hung" là cần phải kinh doanh thiết thực, và sống có tiết chế một cách thích đáng.
Ở lưu niên hay đại vận mà gặp tinh hệ này, cũng phải lưu ý khuyết điểm đã thuật ở trên.
Còn một chủ tinh nữa trong các can Hóa Khoa: Thái Âm, sao vốn chủ về phú quý âm thầm, giờ thêm một lớp tiếng tăm và tu dưỡng.
Thái Âm Hóa Khoa: tài năng văn nghệ và nỗi lo tài cao chuốc đố kị
Trong các tình hình thông thường, Thái Âm Hóa Khoa là biểu trưng cho sự tu dưỡng tài năng văn nghệ, khí chất nhàn nhã, thông minh tài trí.
Thái Âm nhập miếu mà Hóa Khoa, còn chủ về uy tín, tiếng tăm; nếu có văn tinh hội hợp, ắt sẽ xuất thân từ điền thí mà có danh; nếu có các sao đào hoa hội hợp, thì tiếng tăm thuộc lãnh vực giải trí, vui chơi, nghệ thuật biểu diễn; nếu có các sao tiền tài hội hợp, thì có danh vọng và uy tín trong giới làm ăn kinh doanh.
Thái Âm lạc hãm mà Hóa Khoa, ắt sẽ mang lại khuyết điểm, như bất lợi đối với người thân phái nữ; vẫn có tính chất giống như nhập miếu mà Hóa Khoa, nhưng danh vọng nhỏ hơn.
Nữ mệnh gặp Thái Âm Hóa Khoa thì thích hợp hơn nam mệnh, có thể làm tăng tinh thần trách nhiệm đối với gia đình, đối với chồng sẽ dịu dàng quan tâm, chăm sóc hơn. Nam mệnh thì có thể giảm bớt tính cách hướng nội.
Thông thường Thái Âm Hóa Khoa cũng lợi về hôn nhân. Nam mệnh lấy được vợ xinh đẹp; nữ mệnh lấy được chồng có năng lực làm việc, mà còn quan tâm, chăm sóc vợ con, hoặc chồng có tài hoa chói lọi. Nhưng Thái Âm Hóa Khoa thì Tham Lang ở cung phụ mẫu ắt sẽ Hóa Kị, là biểu trưng cho hiện tượng thông thường "tài cao thì chuốc đố kị". Cho nên cần phải quan sát các đại vận xem có tình huống bị áp chế hay không. Nếu thấy nhiều tình huống này, thì có tài mà không gặp thời.
Thiên Đồng, Thái Âm ở Tí, Ngọ
"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Thái Âm Hóa Khoa ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; cung tam hợp là "Thiên Cơ, Thiên Lương" và mượn "Thái Dương, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Quyền.
Trong tinh hệ này, Thái Âm Hóa Khoa có sao lộc, kết cấu tốt lành; nếu lại được Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, thì đây là cách "Lộc văn củng mệnh", chủ về có vợ đẹp, khoa cử công danh thuận lợi, ở thời hiện đại, thì thích hợp nghiên cứu học thuật.
Người có tinh hệ này thủ mệnh, nam chủ về phong thái nho nhã, nữ chủ về thích trang điểm, làm đẹp. Cho nên đều tạo được hảo cảm với người khác, nếu có tinh thần sung mãn thì toàn mĩ.
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, chủ về tài lộc thuận lợi toại ý, nhưng không biểu trưng cho việc sáng lập sự nghiệp.
Thái Âm, Thái Dương ở Sửu, Mùi
"Thái Âm, Thái Dương" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Thái Âm Hóa Khoa, ắt sẽ đồng độ với Đà La, hoặc hội Kình Dương, Đà La; cung tam hợp là Thiên Lương độc tọa, và mượn "Thiên Cơ, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Quyền.
Do Thái Âm đồng độ với Thái Dương, nên lực của Hóa Khoa biểu hiện kém hơn, không hiển hách bằng Thái Dương Hóa Khoa; vì vậy chỉ có hư danh về mặt danh nghĩa, mà không có lợi ích thực tế.
Thái Dương ở cung Sửu có sức ảnh hưởng nhỏ, do đó Thái Âm Hóa Khoa ở cung Sửu tốt hơn ở cung Mùi, thực tế hơn. Mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" để hội hợp, mà Cự Môn Hóa Quyền, thích hợp "dùng lời nói để kiếm tiền", có thể phát huy năng lực phục vụ của tài nói chuyện.
Nhưng nữ mệnh bất lợi về hôn nhân, nam mệnh thì có thể mượn lực của Thái Âm Hóa Khoa để bổ khuyết.
Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, Thân
"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ hai cung Dần hoặc Thân, Thái Âm Hóa Khoa (ở cung Thân còn hội Lộc Tồn); hội Thiên Đồng độc tọa và Thiên Lương độc tọa.
Trong tổ hợp này, nếu Thái Âm không Hóa Khoa, thì đây là mạng rời xa quê hương, sau khi Hóa Khoa sẽ khiến cho bản chất vốn hiếu động, trôi nổi của hai sao Thiên Cơ và Thái Âm trở thành ổn định, có thể phát triển ở bản địa, mà còn có tiếng tăm. Có điều, nguồn tiền tài vẫn gặp nhiều sóng gió, trắc trở; ở cung Thân thì tốt hơn.
Thái Âm Hóa Khoa làm mạnh thêm sắc thái thích hợp về công việc nội vụ, vì vậy nên làm về hành chính.
Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, Thái Âm sau khi Hóa Khoa đều có thể cải thiện tính chất vốn bất lợi ở cung phu thê.
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, chỉ chủ về được người ta tán thưởng biểu hiện của bản thân mệnh tạo, quan trọng nhất là cơ hội để phát vượt lên.
Thái Âm độc tọa ở Mão, Dậu
Thái Âm độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu; đối nhau với Thiên Đồng; cung tam hợp là Thái Dương độc tọa và Thiên Lương độc tọa; tam phương tứ chính đều gặp sát tinh.
Thái Âm Hóa Khoa ở cung Mão không bằng ở cung Dậu, vì ở cung Mão thì lạc hãm, và không thành cục "phản bối" (không gặp sao lộc, Thái Dương ở cung Hợi lại đồng độ với Đà La). Cho nên Thái Âm Hóa Khoa ở cung Dậu dễ được người ta trọng dụng, còn ở cung Mão thì rất có thể chủ về tự sùng bái mình.
Tinh hệ này có một ưu điểm, bất kể ở cung Mão hay ở cung Dậu, đều chủ về làm tăng phong thái của mệnh tạo, có phong cách cá nhân đặc biệt. Nhưng ở thời hiện đại, nhóm sao này, lại thường có khuynh hướng đồng tính luyến ái; Thái Âm Hóa Khoa làm lực hấp dẫn càng mạnh.
Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, chỉ chủ về tâm tình vui vẻ.
Thái Âm độc tọa ở Thìn, Tuất
Thái Âm độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Thìn hoặc Tuất (ở cung Thìn còn gặp Lộc Tồn); Thái Dương của đối cung độc tọa; cung tam hợp là Thiên Cơ độc tọa và "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Thái Âm nếu không Hóa Khoa, thì ở cung Tuất ưu hơn ở cung Thìn; nhưng sau khi Hóa Khoa có thể chủ về nắm quyền về hình pháp, quân đội hay cảnh sát; ở cung Tuất vẫn tốt hơn.
Hóa Khoa ở cung Tuất thì cung thiên di là Thái Dương ở cung Thìn, hội Lộc Tồn, và chia ra một sao Hóa Quyền, một sao Hóa Khoa, vận trình sáng sủa, hơn xa Thái Âm ở cung Thìn. Vì vậy nên rời xa quê hương để phát triển, chủ về quý hiển. Đây là sự khác biệt rất quan trọng giữa hai cung Thìn và Tuất. Nhưng bất kể trong tình hình nào, Thái Âm ở "Thiên La, Địa Võng" đều ưa Hóa Khoa, có thể đột phá "Thiên La, Địa Võng" mà tỏa ánh sáng, cho nên đời người ắt sẽ có biểu hiện tốt, còn có thể cải thiện sự bất lợi về hôn nhân.
Thái Âm độc tọa ở Tị, Hợi
Thái Âm độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Tị hoặc Hợi, có Đà La đồng độ hoặc hội Kình Dương, Đà La; đối nhau với Thiên Cơ; cung tam hợp là "Thái Dương, Thiên Lương" và mượn "Thiên Đồng, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Quyền.
So sánh hai cung, ở cung Tị không bằng ở cung Hợi, Hóa Khoa chỉ hơi cải thiện khuyết điểm lúc lạc hãm; ở cung Hợi thì có thể theo ngành nghề chuyên về kế hoạch, vạch kế sách, thiết kế, phần nhiều đều có biểu hiện tốt; cũng thích hợp với kế hoạch tài vụ, có thể thành danh.
Nhưng Thái Âm ở hai cung này đều dễ xảy ra đau khổ vì tình, nhất là nữ mệnh Thái Âm thủ mệnh ở cung Tị, thường thường nỗi đau khổ trong lòng suốt đời sẽ khó quên.
Ở lưu niên hoặc đại hạn mà gặp tinh hệ này, ở cung Hợi thì có lợi ích thực tế, ở cung Tị thì chỉ được hư danh.
Nguồn: Vương Đình Chi, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (Trung Châu phái).
