Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Cơ, Văn Khúc, Thiên Đồng Hóa Kị: sở trường hóa sở đoản

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái26/09/202614 phút đọc5 lượt đọc
Thiên Cơ, Văn Khúc, Thiên Đồng Hóa Kị: sở trường hóa sở đoản

Thiên Cơ Hóa Kị biến kế hoạch thành sai lầm và suy nghĩ thành lo lắng triền miên, có thể ảnh hưởng tới cả giấc ngủ và thần kinh, còn Văn Khúc Hóa Kị lại đánh ngược vào chính những sở trường của nó — ăn nói, văn thư, tiền bạc — khiến cái vốn giỏi bỗng hóa thành chỗ hở, dễ bị người khác chê trách. Thiên Đồng Hóa Kị thì khác hẳn hai sao kia, một sao vốn hiền hòa an nhàn lại phải trải qua một khoảng đời gian khổ, tâm trạng bất ổn định mới yên được về sau. Ba ngôi sao, ba cách Hóa Kị phá hỏng đúng vào chỗ mạnh nhất của mình thay vì chỗ yếu, đâu là điểm chung ẩn giấu đằng sau cả ba cách phá hỏng tưởng như rất khác nhau ấy?


Thiên Cơ Hóa Kị: kế hoạch sai lầm, lo toan thành bệnh

Thiên Cơ vốn có tính linh động, sau khi Hóa Kị, sức linh động giảm bớt, chủ về gặp chướng ngại, hoặc vì một số nhân tố khách quan và chủ quan, dẫn đến mất cơ hội tốt.

Thiên Cơ còn có tính chất kế hoạch, sau khi Hóa Kị sẽ biến thành kế hoạch sai lầm.

Thiên Cơ vốn có tính chất suy nghĩ, sau khi Hóa Kị thì biến thành lo toan nghĩ ngợi, thậm chí thành lo lắng. Vì vậy lúc ở cung tật ách, có đặc trưng mất ngủ, suy nhược thần kinh, can vị bất hòa, tâm thận bất giao; tình hình nghiêm trọng là trúng phong.

Lúc Thiên Cơ Hóa Kị có sát tinh đồng độ, đặc biệt dễ mắc bệnh mang tính thần kinh, như co giật thần kinh mặt, kinh phong, v.v...

Đối với nữ mệnh, Thiên Cơ Hóa Kị phần nhiều chủ về vì tâm trạng xung động nhất thời mà sa chân lỡ bước.

Thiên Cơ Hóa Kị còn biểu trưng cho sự cố bị người ta phi báng, nói xấu, bêu rếu, hai bên công kích lẫn nhau, cạnh tranh không lành mạnh; nếu mệnh tạo hao thần tổn khí đi đối phó thì càng khiến cho sóng gió dễ nổi lên, tốt nhất là nên "dĩ bất biến ứng vạn biến", thì tự nhiên sóng yên biến lặng.

Thiên Cơ độc tọa Hóa Kị ở Tí, Ngọ

Thiên Cơ độc tọa Hóa Kị ở hai cung Tí hoặc Ngọ (ở cung Tí thì bị Kình Dương, Đà La chiếu xạ, ở cung Ngọ thì đồng độ với Kình Dương); đối cung là Cự Môn; cung tam hợp là "Thiên Đồng, Thiên Lương" và Thái Âm độc tọa Hóa Quyền.

Tổ hợp tinh hệ của hai cung này, chủ về cách suy nghĩ của mệnh tạo khó giải quyết vấn đề, một sự cố đơn giản có thể biến thành cục diện phức tạp, vì vậy mà có kế hoạch sai lầm, do tính chất này, còn có thể mở rộng thành tình trạng "không có việc gì đáng mà cứ phải bôn ba bận rộn", hoặc làm việc không có phương pháp, thiếu mạch lạc, lớp lang.

Thường thường còn biểu trưng cho là "kinh sợ", hoặc bị uy hiếp; trong thương trường thì đột nhiên bị cạnh tranh không lành mạnh, trong chính giới thì hai bên công kích lẫn nhau. Ý nghĩa phổ biến là áp lực.

Lúc có các sao sát, hình cùng chiếu, chủ về điềm tượng của bệnh tật như bán thân bất toại, tứ chi tổn thương, tàn tật. Ở cung Ngọ nặng hơn ở cung Tí.

Thiên Cơ độc tọa Hóa Kị ở Sửu, Mùi

Thiên Cơ độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Sửu hoặc Mùi (ở cung Sửu thì gặp Lộc Tồn); đối cung là Thiên Lương; cung tam hợp là Thiên Đồng độc tọa và Cự Môn độc tọa.

Do đối nhau với Thiên Lương, nên tinh hệ này chủ về tình trạng gặp rắc rối, phiền phức, tuy nhiên cuối cùng cũng hóa giải được, nhưng phải hao tổn tinh thần rất nhiều.

Liên quan đến sự cố phiền phức đột nhiên xuất hiện, thường thường có liên quan đến việc vạch kế hoạch sai lầm, vì vậy nội tâm càng nhiều lo lắng.

Tinh hệ này còn chủ về rối rắm, khó xử trong tình cảm và hôn nhân. Nam mệnh thì người phối ngẫu ưa lộ sự sắc xảo, nữ mệnh thì dễ bất hòa với chồng.

Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, Thân

"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Cơ Hóa Kị thì Thái Âm Hóa Quyền; phần Thái Âm Hóa Quyền đã nói rõ sắc thái riêng, ở đây chỉ cần biết thêm là Thiên Cơ Hóa Kị cùng chiếu tới.

Thiên Cơ, Cự Môn ở Mão, Dậu

"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu (ở cung Dậu sẽ gặp Lộc Tồn); cung tam hợp là Thiên Đồng độc tọa và mượn "Thái Dương, Thái Âm", mà Thái Âm Hóa Quyền và Thái Dương Hóa Khoa.

"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ vốn đã có tính chất phá phách, Thiên Cơ Hóa Kị sẽ làm mạnh thêm tính chất này. Do đó chủ về không giữ một nghề, đứng núi này trông núi nọ, mệnh tạo thường cảm thấy mình có tài mà không gặp thời.

Tinh hệ này còn chủ về nói năng lỡ lời, mà thường thường thất thố vào những lúc quan trọng.

Do "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng cung, cho nên thích hợp làm những công việc có tính chất "nhờ miệng lưỡi để kiếm tiền".

Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn, Tuất

"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, mà Thiên Cơ Hóa Kị, đồng độ với Đà La hoặc bị Kình Dương, Đà La hội chiếu; cung tam hợp là "Thiên Đồng, Thái Âm", mà Thái Âm Hóa Quyền và mượn "Thái Dương, Cự Môn", mà Thái Dương Hóa Khoa.

Do có Thái Âm và Thái Dương hóa cát hội chiếu, các sao hội hợp không phải là vô lực ("Thiên Cơ, Thiên Lương" ở cung Thìn thì càng tốt); cho nên tinh hệ này chủ về Thiên Lương thường phải hao tổn sức lực để hóa giải những gì Thiên Cơ Hóa Kị gây ra. Biểu trưng cụ thể là có sắc thái rời xa người thân, lưu lạc, tính hiếu động, trôi nổi, do dự, không quyết đoán, xử sự sai lầm gây nên sóng gió, trắc trở.

"Thiên Cơ, Thiên Lương" vốn có năng lực dự cảm, nhưng sau khi Thiên Cơ Hóa Kị, sẽ dễ vì dự cảm mà quá lo lắng, dẫn đến quyết đoán sai lầm, nhất là ở cung Tuất thì càng đúng.

Thiên Cơ độc tọa Hóa Kị ở Tị, Hợi

Thiên Cơ độc tọa Hóa Kị ở hai cung Tị hoặc Hợi, ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; đối cung là Thái Âm Hóa Quyền; cung tam hợp là "Thiên Đồng, Cự Môn" và mượn "Thái Dương, Thiên Lương", mà Thái Dương Hóa Khoa.

Tinh hệ này thường chủ về "cơ quan dùng lầm", bao gồm sự nghiệp và tình cảm. Cho nên hễ tâm bình thường mà xử sự thì không xảy ra sóng gió, trắc trở; nếu không, sẽ nổi sóng gió ngoài dự liệu của mọi người.

Thiên Cơ độc tọa ở cung Hợi còn chủ về hư danh, về tình cảm rất dễ bị quấy nhiễu, gây khó khăn.

Ngoài ra, tinh hệ này còn chủ về dễ bị uy hiếp, và bị áp lực vô hình. Nếu Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ với Thiên Cơ Hóa Kị, thì nên đề phòng lúc vãn niên bị trúng phong.

Thiên Cơ hỏng ở chỗ lo toan và kế hoạch, còn Văn Khúc — sao vốn chủ văn thư, ăn nói, tiền bạc — hỏng ở chính những sở trường của nó khi mang Hóa Kị.

Văn Khúc Hóa Kị: sở trường thành sở đoản

Văn Khúc Hóa Kị, ý nghĩa cơ bản là thiếu văn hóa; bản chất của Văn Khúc vì Hóa Kị mà bị trắc trở.

Văn Khúc là biểu trưng cho tài ăn nói; Hóa Kị thì nói năng sai lầm.

Văn Khúc là biểu trưng cho là văn thư, hợp đồng; Hóa Kị thì văn thư phạm sai lầm, do đó mà gây ra phiền phức, thậm chí còn bị tổn thất.

Văn Khúc thường thường còn biểu trưng cho tình huống được người khác giới để mắt, Hóa Kị thì vì vậy mà gây ra sóng gió, hoặc gây ra hiểu lầm không cần thiết trong sinh hoạt tình cảm. Có sát tinh nặng thì biểu trưng cho là khó phát triển tình cảm với người khác giới.

Văn Khúc là tài nghệ linh tinh, Hóa Kị thì lại không có liên quan về phương diện tài năng.

Văn Khúc là thiên tài ngôn ngữ, Hóa Kị thì tiêu trừ năng khiếu này. Có sát tinh nặng, thì có thể nói cà lăm, có lúc còn làm cho người khác phê bình, chỉ trích.

Văn Khúc còn mang sắc thái kim tiền, Hóa Kị thì tổn thất tiền bạc. Cần phải xem xét các sao hội hợp mà định, như thu lầm chi phiếu không có tiền bảo chứng, hoặc bị lừa, bị hại. Những điều có tính vật chất này không có ở Văn Xương Hóa Kị.

Văn Khúc Hóa Kị, còn dễ xảy ra tình huống bị tình cảm và tiền bạc cùng gây lụy.

Văn Khúc Hóa Kị còn chủ về dễ rơi vào ảo tưởng, mà còn chấp trước ảo tưởng, do đó nảy sinh cảm giác có tài mà không gặp thời.

Trên là thuật những nguyên tắc cơ bản, cần phải xem xét thêm các sao hội hợp mà định tình huống cụ thể.

Nếu Văn Khúc chỉ hỏng ở một điểm, thì Thiên Đồng — sao vốn hiền hòa, chủ tâm trạng — lại để cho cái bất ổn của tâm trạng lan ra khắp đời sống khi mang Hóa Kị.

Thiên Đồng Hóa Kị: tâm trạng bất ổn, phải trải gian khổ mới nên người

Tính chất của Thiên Đồng cơ bản là tâm trạng, cho nên lúc Hóa Kị, ý vị phổ biến là tâm trạng không ổn định, nhập miếu thì càng đúng, vì vậy không phải là tai vạ.

Thiên Đồng chủ về tay trắng làm nên, ý vị mở rộng là trung niên ắt sẽ có một khoảng thời gian gian khổ. Sau khi Hóa Kị sẽ làm mạnh thêm ý vị này. Do đó, thường thường biểu trưng cho tuổi trẻ có gia cảnh không tệ, đột nhiên mọi thứ thay đổi, thế là phải sống độc lập, trải qua gian khổ của cuộc đời.

Thiên Đồng còn là sao tình cảm, sau khi Hóa Kị, thường chủ xảy ra tình huống rối rắm khó xử về tình cảm, đau khổ vì tình, có tình yêu không bình thường, thường thường mệnh tạo khó tự đứng lên, vì vậy ảnh hưởng đến sự nghiệp.

Thiên Đồng Hóa Kị ở cung hãm, đây là tâm trạng không yên, tinh thần xuống thấp, do đó không cách nào chuyên tâm phát triển sự nghiệp. Thường thường còn biểu trưng cho "lí tưởng vượt quá hiện thực", vì vậy đời người theo đuổi "lí tưởng" rất lao khổ. Nếu có các sao sát, hình trùng trùng, thì tâm lí mất quân bình, đa nghi, nhiều lo lắng.

Thiên Đồng Hóa Kị, thường thường biểu trưng cho suy nhược thần kinh, cũng tức là "âm hư", "khí hư" mà cổ nhân nói.

Thiên Đồng, Thái Âm ở Tí, Ngọ

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ (ở cung Tí gặp Lộc Tồn), Thiên Đồng Hóa Kị; cung tam hợp là "Thiên Cơ, Thiên Lương" và mượn "Thái Dương, Cự Môn", mà Thái Dương Hóa Lộc.

Thiên Đồng ở cung Tí là cung vượng, ưu hơn ở cung Ngọ, nên không sợ Hóa Kị quấy rối.

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung Ngọ đều lạc hãm, Thiên Đồng Hóa Kị, thường biểu trưng cho lo nghĩ nghi ngờ không có căn cứ, có thể dẫn đến suy nhược thần kinh; còn tự chuốc rối rắm về tình cảm, dẫn đến xảy ra những phiền phức không cần thiết.

Nữ mệnh chủ về rất ưa phấn son, trang điểm, chải chuốt, nhưng phẩm chất không tốt.

Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều biểu trưng cho kiếm tiền không thuận lợi, có lúc còn vì phản ứng quá mẫn cảm mà dẫn đến những trắc trở không cần thiết, nhưng tài lộc vẫn không lo thiếu.

Thiên Đồng, Cự Môn ở Sửu, Mùi

"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi (ở cung Mùi thì đồng độ với Đà La, ở cung Sửu thì bị Kình Dương, Đà La hội chiếu), Thiên Đồng Hóa Kị; cung tam hợp là Thiên Cơ độc tọa và "Thái Dương, Thiên Lương", mà Thái Dương Hóa Lộc.

Thiên Đồng ở hai cung này là lạc hãm, lúc Hóa Kị rất dễ gây ra sóng gió, trắc trở, và rắc rối khó xử trong tình cảm, do đó dẫn đến điều tiếng thị phi. Còn chủ về dễ mắc chứng đau thần kinh, như thoái hóa cột sống làm đau dây thần kinh. Lúc có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, là trúng phong, thậm chí có thể bán thân bất toại.

Do có tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương" hội hợp, mà Thái Dương Hóa Lộc, vì vậy cũng thích hợp nghiên cứu học thuật. Thiên Đồng Hóa Kị càng biểu trưng cho tâm tư lo nghĩ lúc nghiên cứu; nhưng vẫn cần chú ý sức khỏe.

Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần, Thân

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Đồng Hóa Kị, nhưng ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; cung tam hợp là Thái Âm độc tọa và Thiên Cơ độc tọa.

Nếu không có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, sẽ chủ về tay trắng kiếm tiền, nhưng phải hao tổn tinh thần. Nếu có sát tinh, thì biểu trưng cho không yên một nghề, thường hay thay đổi. Vì vậy ảnh hưởng đến sự ổn định của cuộc sống.

Đặc biệt là lúc có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, không ai hiểu được tư tưởng của mệnh tạo, do đó xử sự không hòa hợp.

Ở cung Thân là cung vượng, tốt hơn ở cung Dần.

Thiên Đồng độc tọa Hóa Kị ở Mão, Dậu

Thiên Đồng độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Mão hoặc Dậu (ở cung Dậu thì đồng độ với Kình Dương, ở cung Mão thì bị Kình Dương, Đà La chiếu xạ); đối cung Thái Âm; cung tam hợp là Cự Môn độc tọa và Thiên Cơ độc tọa.

Đây cũng là tinh hệ nhiều lo nghĩ, nghi ngờ, nên cũng chủ về có khuynh hướng suy nhược thần kinh. Kiếm tiền phải hao tổn tinh thần, sự nghiệp nhiều biến động thay đổi, là đặc điểm của tinh hệ này. Ngoài ra, còn dễ chuốc đố kị; điều tiếng thị phi thường thường là vì mệnh tạo cố tránh điều tiếng thị phi mà ra, đúng với câu nói "càng sợ thì càng gặp nhiều". Nhưng ở cung Mão là nhập miếu, chỉ chủ về có tâm trạng không ổn định, ưu hơn ở cung Dậu.

Thiên Đồng độc tọa Hóa Kị ở Thìn, Tuất

Thiên Đồng độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Thìn hoặc Tuất (ở cung Thìn được hội Lộc Tồn); đối cung là Cự Môn; cung tam hợp là Thiên Lương độc tọa và "Thái Âm, Thiên Cơ" đồng độ.

Hai cung Thìn và Tuất là "Thiên La, Địa Võng", Hóa Kị sẽ thành lực kích phát, do đó thường là cách cục "phản bối". Thiên Đồng Hóa Kị tuy không thành cách "phản bối", nhưng cũng chủ về nhờ trải qua nhiều biến động thay đổi mà thành người hữu dụng.

Ở cung Thìn ưu hơn ở cung Tuất, biến động thay đổi trong đời người cũng ít hơn, biên độ biến động thay đổi cũng nhỏ hơn, hơn nữa, thường thường còn phát triển thiết thực, và dễ gặp cơ hội phát đạt đột ngột, có ý vị "vô tình cắm liễu, liễu xanh um".

Ở cung Tuất còn chủ về các bệnh đau thần kinh, thống phong, phong thấp; ở cung Thìn thì nhẹ hơn.

Thiên Đồng độc tọa Hóa Kị ở Tị, Hợi

Thiên Đồng độc tọa Hóa Kị ở hai cung Tị hoặc Hợi; đối cung là Thiên Lương; cung tam hợp là "Thiên Cơ, Cự Môn" và mượn "Thái Dương, Thái Âm", mà Thái Dương Hóa Lộc; tam phương tứ chính đều gặp Kình Dương hoặc Đà La.

Thiên Đồng ở hai cung Tị hoặc Hợi là nhập miếu, Hóa Kị chỉ làm tăng tâm trạng không ổn định.

Nhưng có lúc tâm trạng không ổn định này có thể chuyển biến thành bất mãn người phối ngẫu. Nữ mệnh thường dễ vì ham muốn hư vinh mà xảy ra sự cố, gây nên sóng gió, trắc trở trong đời sống tình cảm, hôn nhân. Nếu có các sao đào hoa trùng trùng, thì nên kết hôn muộn; nếu không, sau kết hôn dễ thay đổi tình cảm.

Nguồn: Vương Đình Chi, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (Trung Châu phái).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái