Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Phá Quân Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202614 phút đọc9 lượt đọc
Phá Quân Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Phá Quân độc tọa ở Tí Ngọ, đối cung là Liêm Trinh, Thiên Tướng, đời người ít biến động, không chủ động thay đổi, nhưng một khi hoàn cảnh buộc phải đổi thì thay đổi kịch liệt đến kinh ngạc. Ở Dần Thân, đối cung Vũ Khúc, Thiên Tướng, người ấy có thể rời gia đình từ nhỏ, lưu lạc tha phương, nhưng hành hiệp trượng nghĩa. Ở Thìn Tuất, vừa bị Thiên La, Địa Võng vừa bị Tử Vi kềm chế, sinh ra đủ loại mâu thuẫn: chí lớn mà tài sơ, lí tưởng cao mà không hành động. Cổ quyết nói Phá Quân ở Tí Ngọ không gặp sát tinh thì hiển đạt tới bậc Tam công, nhưng cũng thừa nhận bản tính sao này khó nói cho rõ. Ranh giới giữa phá để lập và phá để tan nằm ở đâu?


Phá Quân Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ

Phá Quân độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là "Liêm Trinh, Thiên Tướng". Liêm Trinh là sao lợi về làm công chức; Thiên Tướng thì chủ về vất vả thay cho người khác, cho nên khi hai sao này đồng cung, xung chiếu Phá Quân, càng khiến cho Phá Quân thủ mệnh thành thủ đoạn, nhưng lại là mưu tính cho người chớ không phải mưu tính cho bản thân.

Cho nên Phá Quân an mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đời người tuy ít biến động thay đổi, hơn nữa sẽ không chủ động thay đổi, nhưng một khi bị hoàn cảnh gây ảnh hưởng, không thay đổi thì không được, thì sự biến động thay đổi của họ sẽ rất kịch liệt khiến cho người ta kinh ngạc.

Nếu không có các sao sát, kị hội chiếu, Phá Quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền ở cung mệnh, hoặc có Lộc Tồn đồng độ (Lộc Tồn ở cung phúc đức đồng độ với "Tử Vi, Thiên Phủ" cũng được), người này ắt sẽ rất độ lượng, khí phách anh hùng, rất thích hợp theo võ nghiệp, ngày nay ngoại trừ gia nhập quân đội hay cảnh sát ra, còn có thể phục vụ trong ngành công thương nghiệp, và nên làm công việc mang tính khai sáng.

Phá Quân không ưa Văn Xương, Văn Khúc, chỉ ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, và rất ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ hay hội chiếu, chủ về được bạn bè giúp đỡ, ủng hộ. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc mà không gặp sao lộc, trái lại sẽ chủ về tính không tốt không xấu, nhưng nhiều không tưởng và thiếu hành động thực tế. Nên lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu, phải xem trọng bản thân, một khi có ý nghĩ trong đầu thì lập tức lên kế hoạch thực hành.

Không ưa gặp sát tinh đến hội hợp hoặc đồng độ, vì sẽ khiến họ cảm thấy rất cô tịch; nếu lại gặp Thiên Hư, thì càng chủ về tinh thần trống rỗng; nếu lại gặp Thiên Nguyệt, ắt sẽ mắc bệnh mạn tính.

Nữ mệnh Phá Quân nhập mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, rất ngại gặp Địa Không, Địa Kiếp, Cô Thần, Quả Tú, chủ về nửa cuộc đời cô tịch, tinh thần đau khổ. Nếu cung phu thê có Vũ Khúc Hóa Kị, gặp Thiên Hình, thì rất có thể không có vợ (hoặc chồng).

Nữ mệnh Phá Quân, chỉ ở hai cung Tí hoặc Ngọ là tốt, tuy nên kết hôn muộn, nhưng nếu không gặp sát tinh, ác tinh, thì vẫn chủ về giai lão bạc đầu, chồng con song mĩ; ở hai cung Dần hoặc Thân nếu không phải là nhị phòng hay kế thất, phần nhiều chủ về chia li hay hình khắc, còn sớm rời xa cha mẹ, thậm chí làm con nuôi người họ khác, hoặc rơi vào chốn phong trần mà chẳng có gia đình, nhưng cũng có nhiều trường hợp suốt đời không lấy chồng, các tình hình như vậy cần phải xem xét kĩ tinh hệ của các cung mà định. Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thì dễ có khí chất văn nghệ, dẫn đến tính cách không hợp với chồng.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Phá Quân, chủ về có cơ hội bỏ cũ đổi mới, có tốt đẹp hay không phải xem xét kĩ các sao ở đại hạn, hoặc lấy lưu niên vài năm sau để định. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì gặp cơ hội mới từ nghề nghiệp cũ. Nếu gặp Vũ Khúc Hóa Kị và sát tinh đến hội hợp, thì chủ về phá tán, thất bại, thậm chí sự nghiệp đình đốn.

Phá Quân Độc Tọa Cung Mệnh Dần Thân

Phá Quân độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Tướng". Vũ Khúc là sao tính chất cô độc và hình khắc, vì vậy nên chú trọng tình hình cát hung của cung phụ mẫu. Nếu cung phụ mẫu có các sao sát, kị trùng trùng, hoặc cung mệnh có "Lộc Mã giao trì" mà gặp sát tinh, đều chủ về từ nhỏ đã rời xa gia đình, là mệnh lưu lạc chân trời góc bể.

Có điều, bị Thiên Tướng ảnh hưởng, nên còn chủ về là người hành hiệp trượng nghĩa, gặp chuyện bất bình thì lập tức ra tay; cho nên tuy tính tình cứng rắn nhưng cũng được người ta ủng hộ và yêu mến. Hơn nữa cần phải có một nghề tùy thân, sau đó có thể lưu lạc tha phương.

Nếu gặp Lộc Tồn và Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu, lại có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì tuy hiếu động, trôi nổi, bất ổn, nhưng cũng chủ về sự nghiệp có thành tích, có thể rời xa quê hương để phát triển. Nếu ở nơi sinh ra, tính chất hời hợt, hiếu động sẽ biến thành không chuyên một nghề nào, sự nghiệp và chức vị luôn thay đổi, hoặc hoàn cảnh công tác cũng hay thay đổi.

Phá Quân an mệnh ở hai cung này, nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, là văn sĩ nghèo nàn, thất chí; nếu gặp sát tinh trùng trùng hội chiếu, thì một đời cô độc phiêu bạt. Gặp Hóa Kị, Kình Dương, Đà La tụ hội ở cung mệnh, thì chủ về tàn tật, nhưng tính hiếu chiến hung dữ vẫn không thay đổi.

Nữ mệnh dễ trụy lạc phong trần, nhất là khi mệnh ở cung Thân thì càng nghiệm, phần nhiều còn có quan hệ hôn nhân không chính thức.

Nữ mệnh Phá Quân, chỉ ở hai cung Tí hoặc Ngọ là tốt, tuy nên kết hôn muộn, nhưng nếu không gặp sát tinh, ác tinh, thì vẫn chủ về giai lão bạc đầu, chồng con song mĩ; ở hai cung Dần hoặc Thân nếu không phải là nhị phòng hay kế thất, phần nhiều chủ về chia li hay hình khắc, còn sớm rời xa cha mẹ, thậm chí làm con nuôi người họ khác, hoặc rơi vào chốn phong trần mà chẳng có gia đình, nhưng cũng có nhiều trường hợp suốt đời không lấy chồng, các tình hình như vậy cần phải xem xét kĩ tinh hệ của các cung mà định. Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thì dễ có khí chất văn nghệ, dẫn đến tính cách không hợp với chồng.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Phá Quân, chủ về có cơ hội bỏ cũ đổi mới, có tốt đẹp hay không phải xem xét kĩ các sao ở đại hạn, hoặc lấy lưu niên vài năm sau để định. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì gặp cơ hội mới từ nghề nghiệp cũ. Nếu gặp Vũ Khúc Hóa Kị và sát tinh đến hội hợp, thì chủ về phá tán, thất bại, thậm chí sự nghiệp đình đốn.

Phá Quân Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất

Phá Quân độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là "Tử Vi, Thiên Tướng". Phá Quân một mặt bị kềm chế ở "Thiên La, Địa Võng", một mặt lại bị Tử Vi kềm chế, thêm vào đó bản thân Phá Quân có bản chất "tướng ở ngoài mặt trận, không thụ mệnh vua", sẽ càng phản kháng sự kềm chế của Tử Vi, cho nên kết cấu tinh hệ này có nhiều tính cách mâu thuẫn.

"Mâu thuẫn" ở đây có thể biểu hiện cụ thể ở nhiều phương diện. Chí lớn mà tài sơ là một; lí tưởng cao mà không có hành động thực tế là hai; thích đầu cơ mạo hiểm mà tính quyết đoán không đủ là ba; lúc có Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, ưa thích văn nghệ mà nghề nghiệp và chức vị chẳng liên quan gì với văn nghệ là bốn; có một nghề sở trường nhưng lại không biểu hiện, đến lúc cần biểu hiện lại không chịu biểu hiện, là năm.

Những mâu thuẫn này chỉ có gặp Hóa Lộc mới có thể giải cứu, làm cho điều hòa, kế đó là được Hóa Lộc ở cung phúc đức; kế đến nữa là cung phúc đức hội hợp với Hóa Lộc. Trường hợp sao hóa ở cung phúc đức mà gặp Lộc Tồn thì chủ về keo kiệt, bủn xỉn, không hợp với tính cách của Phá Quân.

Nếu không có những điều hòa đã thuật ở trên, người này cuộc đời ắt phải gặp nạn tai, hoặc mắc bệnh mạn tính, như bệnh tim mạch, bệnh ở não bộ, bệnh thận hoặc bệnh đường tiêu hóa. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị hội hợp với cung phu thê, lại gặp thêm các sao hung như Thiên Nguyệt, Âm Sát, Thiên Hình, thì chủ về bị khiếm khuyết năng lực tính dục, nữ mệnh thì lấy chồng bị khiếm khuyết năng lực tính dục, hoặc bản thân bị lãnh cảm, hoặc có khuynh hướng đồng tính luyến ái.

Nữ mệnh Phá Quân, chỉ ở hai cung Tí hoặc Ngọ là tốt, tuy nên kết hôn muộn, nhưng nếu không gặp sát tinh, ác tinh, thì vẫn chủ về giai lão bạc đầu, chồng con song mĩ; ở hai cung Dần hoặc Thân nếu không phải là nhị phòng hay kế thất, phần nhiều chủ về chia li hay hình khắc, còn sớm rời xa cha mẹ, thậm chí làm con nuôi người họ khác, hoặc rơi vào chốn phong trần mà chẳng có gia đình, nhưng cũng có nhiều trường hợp suốt đời không lấy chồng, các tình hình như vậy cần phải xem xét kĩ tinh hệ của các cung mà định. Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thì dễ có khí chất văn nghệ, dẫn đến tính cách không hợp với chồng.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Phá Quân, chủ về có cơ hội bỏ cũ đổi mới, có tốt đẹp hay không phải xem xét kĩ các sao ở đại hạn, hoặc lấy lưu niên vài năm sau để định. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì gặp cơ hội mới từ nghề nghiệp cũ. Nếu gặp Vũ Khúc Hóa Kị và sát tinh đến hội hợp, thì chủ về phá tán, thất bại, thậm chí sự nghiệp đình đốn.

Chỉ khi Phá Quân độc tọa thủ mệnh ở cung Thìn hay Tuất của lưu niên, nếu gặp Kình Dương, thì năm đó chủ về sinh con, nếu không sẽ là tai nạn chảy máu, hoặc có tang.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Phá Quân

Ba vị trí độc tọa cho thấy vị tướng tiên phong luôn phải đối mặt với một Thiên Tướng ở đối cung; cổ quyết thì liệt kê những lần phá ấy thành công danh và những lần phá ấy thành tan nát.

破军子午宫无杀,官资清显至三公。
Phá Quân Tí Ngọ cung vô sát, quan tư thanh hiển chí tam công.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không có sát tinh, làm quan hiển đạt đến bậc Tam công.
Chú giải: Cần phải có sao lộc mới đúng.

破军贪狼逢禄马,男多浪荡女多淫。
Phá Quân Tham Lang phùng Lộc Mã, nam đa lãng đãng nữ đa dâm.

Dịch nghĩa: Phá Quân Tham Lang gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, nam mệnh phần nhiều lãng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm. (Xem hình 220)
Chú giải: Phá Quân gặp Tham Lang, và Lộc Tồn, Thiên Mã; trường hợp ở hai cung Tị hoặc Hợi là nặng. Nhưng phải gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh và các sao đào hoa mới ứng nghiệm. Nếu cung phúc đức có Thiên Phủ gặp Thiên Diêu thì càng ứng nghiệm.

Hình 220: sinh giờ Mùi năm Ất, Vũ Khúc Phá Quân cùng Văn Khúc, Thiên Mã thủ mệnh ở Hợi, Tử Vi Hóa Khoa Tham Lang cùng Lộc Tồn, Văn Xương ở Mão, chủ về nam đa lãng đãng, nữ đa dâm
H. 220

破军暗曜共乡,水中作冢。
Phá Quân ám diệu cộng hương, thủy trung tác trủng.

Dịch nghĩa: Phá Quân và ám tinh ở cùng một cung, là làm mộ trong nước.
Chú giải: Phá Quân và Văn Khúc cùng bay đến ba cung Hợi, Tí hoặc Sửu, gặp Vũ Khúc Hóa Kị mới đúng. Văn Khúc Hóa Kị cũng không thích hợp. Ở hai cung Tí hoặc Ngọ chủ về gặp họa ở quê người, là vì Vũ Khúc Hóa Kị hội hợp với cung thiên di. (Xem hình 221)

Hình 221: nam mệnh sinh giờ Hợi năm Nhâm Tí, Vũ Khúc Hóa Kị Phá Quân cùng Văn Khúc, Lộc Tồn thủ mệnh ở Hợi
H. 221

破军火铃,奔波劳碌。
Phá Quân Hỏa Linh, bôn ba lao lục.

Dịch nghĩa: Phá Quân Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về bôn ba vất vả.
Chú giải: Gặp ở cung điền trạch cũng đúng, chủ về gia đình hay chuyển dời chỗ ở, thay đổi nhà cửa.

破军一曜性难明。
Phá Quân nhất diệu tính nan minh.

Dịch nghĩa: Phá Quân tính không rõ ràng.
Chú giải: Đây là nói nữ mệnh, có tính khí bất thường, dễ thích mà cũng dễ giận, chợt yêu chợt ghét.

破耗羊铃官禄位,到处乞求。
Phá Hao Dương Linh quan lộc vị, đáo xứ khất cầu.

Dịch nghĩa: Phá Quân, Đại Hao, Kình Dương, Linh Tinh ở cung quan lộc, chủ về đi xứ khác kiếm ăn.
Chú giải: Đây là nói "Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão hoặc Dậu là cung quan lộc.

破军子午,见煞忌孤单残疾。
Phá Quân Tí Ngọ, kiến sát kị cô đơn tàn tật.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp các sao sát, kị, chủ về cô độc tàn tật.
Chú giải: Không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kị; đã gặp thì không nên gặp thêm Thiên Mã.

破军辰戌丑未宫,丙戊生人富贵同。
Phá Quân Thìn Tuất Sửu Mùi cung, Bính Mậu sinh nhân phú quý đồng.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở bốn Thìn, Tuất, Sửu hoặc Mùi, người sinh năm Bính hay Mậu là mệnh phú quý.
Chú giải: Người sinh năm Bính, chủ về được hưởng phúc ấm của cha; người sinh năm Mậu thì tự làm nên; nhưng đều phải có Hóa Lộc. Thời cổ đại, nữ mệnh đều chủ về được phong tặng. (Xem hình 222)

Hình 222: ví dụ 1, người sinh năm Bính, Phá Quân thủ mệnh ở Tuất, Thiên Đồng Hóa Lộc ở cung phụ mẫu Hợi, chủ về được hưởng phúc ấm của cha
H. 222
Hình 223: ví dụ 2, người sinh năm Mậu, Tử Vi Phá Quân thủ mệnh ở Mùi, Tham Lang Hóa Lộc ở cung sự nghiệp Hợi, chủ về phải tự lập nghiệp
H. 223

破军武曲入财乡,东倾西败。
Phá Quân Vũ Khúc nhập tài hương, đông khuynh tây bại.

Dịch nghĩa: Phá Quân và Vũ Khúc ở cung tài bạch, làm ở đâu cũng thất bại.
Chú giải: Vũ Khúc Hóa Kị mới đúng.

破军昌曲逢,刑克多劳。
Phá Quân Xương Khúc phùng, hình khắc đa lao.

Dịch nghĩa: Phá Quân gặp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về hình khắc, nhiều vất vả.
Chú giải: Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị mới đúng.

破军昌曲寅命宫,贵显至三公。
Phá Quân Xương Khúc Dần mệnh cung, quý hiển chí tam công.

Dịch nghĩa: Phá Quân, Văn Xương, Văn Khúc, mệnh ở cung Dần, quý hiển đến bậc Tam công.
Chú giải: Đây là nói Văn Xương, Văn Khúc Hóa Khoa.

破军昌曲,一生贫士。
Phá Quân Xương Khúc, nhất sinh bần sĩ.

Dịch nghĩa: Phá Quân gặp Văn Xương, Văn Khúc, một đời là bần sĩ.
Chú giải: Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị mới đúng.

破军羊陀,身命疾厄主残疾。
Phá Quân Dương Đà, thân mệnh tật ách chủ tàn tật.

Dịch nghĩa: Phá Quân, Kình Dương, Đà La, ở các cung thân, mệnh hay tật ách, chủ về tàn tật.
Chú giải: Phá Quân, Kình Dương, Đà La ở cung mệnh và cung tật ách là đúng.

破军居兄弟,骨肉参商。
Phá Quân cư huynh đệ, cốt nhục tham thương.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở cung huynh đệ, chủ về anh em bất hòa.
Chú giải: Không nên có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến.

破军财帛位,如汤浇雪。
Phá Quân tài bạch vị, như thang kiêu tuyết.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở cung tài bạch, là như tuyết tưới vào canh nóng.
Chú giải: Không có sao lộc mà gặp các sao sát, kị mới đúng.

破军居奴仆,谤怨私逃。
Phá Quân cư nô bộc, báng oán tư đào.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở cung nô bộc, chủ về mỉa mai oán trách, trốn theo trai.
Chú giải: Gặp Thiên Mã, Hỏa Tinh, Linh Tinh mới đúng.

破军居田宅,祖基破荡。
Phá Quân cư điền trạch, tổ cơ phá đãng.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở cung điền trạch, phá sạch tổ nghiệp.
Chú giải: Gặp sát tinh mới đúng.

破军居福德父母,刑克破相。
Phá Quân cư phúc đức phụ mẫu, hình khắc phá tướng.

Dịch nghĩa: Phá Quân ở cung phúc đức hay cung phụ mẫu, chủ về hình khắc phá tướng.
Chú giải: Gặp sát tinh là đúng; rất kị Hỏa Tinh, Linh Tinh. Xưa cung phụ mẫu còn gọi là cung tướng mạo, cho nên ứng phá tướng.

Cốt Tủy Của Sao Phá Quân

Phá Quân là chiến tướng tiên phong, và ở cả ba vị trí độc tọa đều có Thiên Tướng ở đối cung: cùng Liêm Trinh ở Tí Ngọ, cùng Vũ Khúc ở Dần Thân, cùng Tử Vi ở Thìn Tuất. Lực phá của nó vì vậy luôn bị một sức kềm chế đối diện, sinh ra khi thì mưu tính cho người, khi thì mâu thuẫn trong chính mình.

Cổ quyết cho thấy Phá Quân cần sao lộc mới thành phú quý, kị Hỏa Tinh, Linh Tinh vì bôn ba lao lục, kị Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị vì hình khắc, nghèo khó. Khi luận, xét sao lộc và sao đối cung trước, rồi mới xét sát tinh ở từng cung Phá Quân đóng.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái