Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Luận đoán cung Giao Hữu qua mệnh bàn Từ Hi thái hậu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/20267 phút đọc5 lượt đọc
Luận đoán cung Giao Hữu qua mệnh bàn Từ Hi thái hậu

Một đời Từ Hi chỉ tin dùng thái giám và tiểu nhân, vì cung Nô Bộc vô chính diệu mượn Thiên Đồng, Thái Âm Hóa Kị, lại mượn nhập cả Kình Dương mà thành tam sát cùng chiếu. Một người đàn ông thường thì năm Tân Dậu ra vào chốn phong nguyệt, kết giao bạn xấu, đến năm Giáp Tí phải vào tù. Còn cái chết một ngày sau Quang Tự, dã sử đúng hay lịch sử đúng?


Từ Hi: một đời chỉ tin dùng thái giám và tiểu nhân

NGHIÊN CỨU MỆNH BÀN CỦA TỪ HI, VƯƠNG ĐÌNH CHI SAU KHI KHỞI "THIÊN BÀN" VÀ "ĐỊA BÀN", rồi so sánh với sự thực lịch sử thì thấy đều chưa phù hợp, nhưng dùng "nhân bàn của địa bàn" luận đoán thì thấy đúng. Hiện chỉ luận cung nô bộc (tức cung giao hữu) của bà.

Tinh bàn Từ Hi, âm nữ sinh giờ Tí ngày 10 tháng 10 năm Ất Mùi 1835, Hỏa lục cục, cung giao hữu Ngọ vô chính diệu

Cung nô bộc vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Thái Âm" của đối cung để an sao, mà Thái Âm Hóa Kị, còn có Hàm Trì, Đại Hao, Thiên Hỉ, Thiên Diêu đồng cung, có thể nói là ít dương cương mà nhiều âm nhu. Nhất là hội Văn Xương, Văn Khúc, nhưng lại chỉ hội sao lẻ Thiên Khôi, nên khí âm nhu càng nặng. Do mối quan hệ của "tá tinh" (sao mượn), không những mượn nhập Văn Khúc, mà còn mượn nhập cả Kình Dương, thế là cung nô bộc biến thành tam sát cùng chiếu. Vì vậy một đời Từ Hi chỉ tin dùng thái giám và tiểu nhân, trong tinh bàn sớm đã có điềm tượng.

Đại hạn Tân Tị: bức tử Từ An thái hậu

Niên hiệu Quang Tự thứ 7, Từ Hi 47 tuổi, năm sau là Tân Tị, là năm bà bức tử Từ An thái hậu, độc chiếm đại quyền, từ đó bắt đầu trừ khử những ai chống đối bà. Vào đại hạn Tân Tị, cung mệnh là Tử Vi Hóa Khoa và Thất Sát đồng độ, là nhóm sao rất nặng về quyền lực. Cung nô bộc của đại hạn này gặp Thái Âm Hóa Kị, hội hợp Văn Xương Hóa Kị, lại có lưỡng trùng Kình Dương chiếu xạ; các sao xấu gặp đủ trong đại hạn này, nên bà tin dùng tiểu nhân để thực hành chính sách "trừ khử tà phái". Lưu niên cũng là Tân Tị, cung nô bộc càng nặng "tính tiểu nhân".

Đại hạn Nhâm Ngọ: hai phe đảng vua và thái hậu

Sau đó vào đại hạn Nhâm Ngọ, cung nô bộc vẫn không tốt. Nếu không biết phép "mượn sao an cung", sẽ không nhìn ra chỗ xấu của nó, biết "tá tinh", thì sẽ biết cung nô bộc hội Vũ Khúc Hóa Kị, khiến nhóm sao "Vũ Khúc, Tham Lang" biến thành chuyên quyền. Cho nên niên hiệu Quang Tự thứ 20 (năm Giáp Ngọ), do biến pháp duy tân khiến Từ Hi bất hòa với vua Quang Tự, dẫn đến hình thành thế cục hai phe đảng vua và thái hậu tranh đấu nhau. Đó là năm cung nô bộc của lưu niên và cung nô bộc của đại vận ở cùng một vị trí, nhưng Thiên Phủ hội Thiên Tướng, không những có Kình Dương, Đà La giáp cung, mà còn có Thái Dương Hóa Kị đến giáp cung, vả lại Thái Dương Hóa Kị và Thái Âm Hóa Kị lại hội chiếu cung mệnh, tin nghe lời tiểu nhân xiểm nịnh, dèm pha, rất đúng với luận đoán của Đẩu Số. Thế là "Mậu Tuất chính biến", "Canh Tí quyền loạn" liên tiếp xảy ra, tai họa cho nước Trung Hoa thời ấy đúng là quá nặng.

Cái chết của Từ Hi và Quang Tự

Từ Hi chết vào ngày 21 tháng 10 niên hiệu Quang Tự thứ 34. Trước đó một ngày, Quang Tự băng hà, tạo thành nghi án thiên cổ, theo lời đồn đại thì lúc Từ Hi bệnh nặng, đã sai người thân tín hạ độc giết chết Quang Tự trước. Lúc này Từ Hi 73 tuổi, cung nô bộc gặp Thái Âm Hóa Kị và Thiên Đồng, là đại vận có Kình Dương Đà La giáp cung, còn bị Kình Dương, Đà La của nguyên cục chiếu xạ. Trong đại vận này việc Từ Hi thân cận với tiểu nhân đã là thế chẳng đặng đừng.

Lưu niên Mậu Thân, tháng 10 Quý Hợi, cung nô bộc của lưu nguyệt ở cung Sửu, Tham Lang lưỡng trùng Hóa Kị. Hạ độc giết chết Quang Tự chẳng phải là không có duyên cớ, nhóm sao này là mượn nhập cung Mùi, hội chiếu cung tật ách của lưu nguyệt, Từ Hi có chết vì trúng độc hay không, cũng không thể không hoài nghi.

Theo truyền thuyết dã sử, sau khi thân tín của Từ Hi hạ độc giết chết Quang Tự xong, thì sợ Từ Hi bất nhẫn sẽ tra hỏi, ngày hôm sau bèn hạ độc giết luôn Từ Hi. Từ Hi trong cung tật ách của nguyên cục, và cung tật ách trong hạn Quý Mùi, đều gặp nhóm sao uống lầm thuốc. Không biết dã sử đúng hay là lịch sử đúng?

Ông G: mệnh cục kết giao lầm người xấu

Bên cạnh bà thái hậu tin dùng tiểu nhân, là một người đàn ông bình thường cũng bị bạn bè kéo vào vòng họa.

Đây là ví dụ điển hình về mệnh cục kết giao lầm người xấu. Người đàn ông này xuất thân trong gia đình cha mất sớm, nhưng lại có di sản đủ để sống qua ngày (bạn đọc thử tự luận đoán cung phụ mẫu của ông).

Nhưng cung giao hữu trong mệnh bàn lại gặp tinh hệ không lành: Phá Quân tọa thủ, hội Văn Xương mà không có Văn Khúc, có thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh cùng chiếu, còn gặp Thiên Hình. Đây là điểm có vấn đề về phương diện kết giao bạn bè, do đó ảnh hưởng đến cảnh ngộ của bản thân mệnh tạo.

Đại hạn Kỉ Mão từ 24-33 tuổi, cung giao hữu ở cung Thân, Liêm Trinh tọa thủ, Văn Khúc Hóa Kị, vả lại, còn là cục diện "tam sát" cùng chiếu. Gặp Lưu Khúc Hóa Kị ở cung phúc đức của đại hạn mà thành lục hợp ám hội, cho nên cũng có liên quan đến tư tưởng chủ đạo của ông.

Xem xét lưu niên, năm Tân Dậu (1981), cung giao hữu của lưu niên ở cung Dần, hội Văn Xương Hóa Kị của lưu niên, và Văn Khúc Hóa Kị của đại hạn, lại gặp đào hoa trùng trùng, bản thân đã có Đà La, Linh Tinh, còn có thêm Kình Dương, Đà La của lưu niên hội chiếu. Đào hoa đã nặng mà gặp các sao sát, kị tụ tập, đây là năm vì ra vào chốn phong nguyệt, kết giao bạn xấu mà chuốc họa.

Năm Nhâm Tuất (1982), cung mệnh là "Sát Phá Lang" hội hợp với Tử Vi Hóa Khoa và Thiên Tướng; còn gặp thêm Kình Dương, Đà La và Linh Tinh của nguyên cục hội nhập Phá Quân, Đà La ở cung mệnh của lưu niên; thành tổ hợp tinh hệ có tính chất phản bội cực độ. Cung phúc đức của lưu niên gặp Vũ Khúc Hóa Kị hội Văn Khúc Hóa Kị, lại có Kình Dương của lưu niên vào cung, nên càng dễ vì một niệm sai lầm mà phạm tội hình sự.

Năm Giáp Tí (1984) vào tù, do sau khi phạm "quan phi" còn bị bạn bè xúi giục làm chuyện xấu, đây là vì cung giao hữu vẫn còn quá xấu, gặp "Thái Dương, Thái Âm" song Hóa Kị. Đến năm 1987 mới ra tù, lúc này ông ta đã 33 tuổi.

Đại hạn Mậu Dần sau đó, cung giao hữu của đại hạn ở cung Mùi, mượn nhập "Thái Dương, Thái Âm" Hóa Kị, lại gặp Thiên Cơ Hóa Lộc bị Hóa Kị xung, về vấn đề giao du vẫn phải cẩn thận, nếu không ắt lại xảy ra sự cố (bạn đọc thử tự xem xét cung mệnh và cung giao hữu của ông ta sau năm 34 tuổi).

Tinh bàn ông G, âm nam Kim tứ cục, cung giao hữu Tuất có Phá Quân

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái