Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cách luận đoán lưu nguyệt qua hai lá số tai nạn và bệnh tật

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/20267 phút đọc5 lượt đọc
Cách luận đoán lưu nguyệt qua hai lá số tai nạn và bệnh tật

Tháng năm, năm Ất Mão, một phụ nữ lái xe đi xa gặp tai nạn giao thông và gãy xương, trong khi hai lần đi xa vào năm Tân Hợi, Quý Sửu trước đó bà không hề hấn gì. Đúng tháng ấy, Kình Dương, Đà La của lưu nguyệt xung khởi Kình Dương, Đà La của lưu niên và đại vận, đồng loạt bắn vào cung Tật Ách. Một bé gái sinh năm Nhâm Tuất thì chưa đầy hai tuổi đã có khối u ở khí quản, năm sau phải xạ trị, năm ba tuổi bệnh tình nguy hiểm mà vẫn vượt qua. Luận lưu nguyệt vốn không nên làm thường xuyên, vậy muốn chỉ ra đúng tháng hung hiểm, vì sao phải đi từ đại hạn xuống lưu niên rồi mới tới lưu nguyệt?


Vì sao chỉ nên luận lưu nguyệt khi cần

DÙNG ĐẨU SỐ ĐỂ LUẬN ĐOÁN LỘC MỆNH, KHÔNG NÊN THƯỜNG XUYÊN LUẬN ĐOÁN CÁT HUNG CỦA LƯU NGUYỆT, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng trong một số tình huống, ví dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, tốt nhất là luận đoán lưu nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu nguyệt để bổ trợ.

Tháng năm, năm Ất Mão và vụ tai nạn giao thông

Một năm đã biết là xấu vẫn còn mười hai tháng để chọn; điều cần là chỉ ra đúng tháng nào không nên lên xe.

Tinh bàn nữ mệnh âm nữ Thủy nhị cục, cung Mão là cung mệnh của tháng năm năm Ất Mão

Tinh bàn trên là của một nữ mệnh. Vào tháng năm, năm Ất Mão (1975) mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương. Vương Đình Chi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố này.

Năm 1975, cung mệnh của đại hạn ở Mậu Thân, có "Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ, có Địa Không và Địa Kiếp đối củng, hội hợp với Thiên Cơ (vốn là Hóa Khoa, đại vận thì Hóa Kị), Hỏa Tinh, Thái Âm (Hóa Lộc), Thiên Hình.

Cung thiên di vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để an, biến thành Địa Không và Địa Kiếp đồng cung, hội hợp với Cự Môn Hóa Kị (còn là "Dương Đà giáp kị"), còn hội hợp với Thái Dương lạc hãm của cung Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi (1971), và năm Quý Sửu (1973) đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (tốt nhất bạn đọc thử tự luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão (1975), cung mệnh của lưu niên ở cung Mão, trùng hợp với tình hình Kình Dương của lưu niên và Đà La của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp kị", nhưng do Thiên Phủ không Hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô chính diệu, mượn "Liêm Trinh, Tham Lang" của cung Tị để an sao. Hai sao lại bị Lưu Dương và Lưu Đà của đại hạn giáp cung, ngoài ra, ở đối cung có "Vũ Khúc, Thất Sát"; cung Mùi là Thiên Tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung tật ách của lưu niên bay đến cung Tuất, có Thái Dương lạc hãm ở đây; tương chiếu với Thái Âm (vốn là Hóa Lộc, lưu niên thì Hóa Kị), Đà La của đại hạn, Kình Dương của lưu niên và Thiên Hình; hội hợp với "Thiên Đồng, Thiên Lương", Đà La của lưu niên ở cung Dần; và hội hợp với Cự Môn Hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên Cơ Hóa Kị của đại hạn) và Lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát, kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu nguyệt.

Năm Mão Đẩu Quân ở cung Hợi, tức tháng giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng năm, cung mệnh của lưu nguyệt ở cung Mão, tức trùng với cung mệnh của lưu niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng giêng), tháng 5 can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung thiên di có Vũ Khúc Hóa Kị; cung mệnh lại có Kình Dương và Đà La của lưu niên giáp cung; hơn nữa Kình Dương và Đà La của lưu nguyệt còn xung khởi Đà La của lưu niên, Kình Dương của lưu niên, Đà La của đại vận, Kình Dương của đại vận, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung tật ách (Tuất) của lưu nguyệt. Cung Tuất còn bị Đà La của lưu nguyệt đối nhau với Thiên Hình, hơn nữa còn bị chính diệu Thái Âm hóa kị vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng năm mà xuất hành sẽ có hung hiểm. Vũ Khúc Hóa Kị và Thất Sát đồng độ ở cung thiên di, đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc kim.

Từ ví dụ trên có thể biết, muốn luận đoán lưu nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu niên, rồi tìm lưu nguyệt, mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc xu cát tị hung. Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất và khối u đường hô hấp

Với người lớn, trình tự là đại hạn rồi lưu niên rồi lưu nguyệt; với một đứa trẻ mới một hai tuổi, dấu hiệu bệnh lại phải tìm ở chỗ khác.

Bây giờ chúng ta lại xem một ví dụ khác.

Tinh bàn bé gái dương nữ Thổ ngũ cục, cung mệnh Dậu có Vũ Khúc Hóa Kị, Thất Sát, cung tật ách Thìn có Thái Âm

Trong tinh bàn trên, bé gái sinh năm Nhâm Tuất (1982), năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái đã mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sĩ chuyên khoa kiểm tra thật kĩ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may là chưa ác hóa, có hi vọng trị khỏi.

Cung tật ách của mệnh bàn này là Thái Âm tọa thủ, nhưng có tứ sát tinh Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La cùng chiếu, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái Âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung tật ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiển thị bệnh tật lúc còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu niên Nhâm Tuất, Vũ Khúc Hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

Hạn hai tuổi của bé gái ở cung tài bạch, năm này là năm Quý Hợi, Kình Dương và Đà La của lưu niên ở tam phương hội chiếu tiểu hạn, trong cung Tham Lang lại hóa làm sao Kị, còn hội hợp với các tạp diệu Thiên Hình, Kiếp Sát, Đại Hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

Hạn 3 tuổi ở cung tật ách, lưu niên là Giáp Tí, trong hạn Thái Âm tọa thủ mà có Thái Dương Hóa Kị vây chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên Lương và Hoa Cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Dương và Đà La của thiên bàn chưa bị Kình Dương và Đà La của lưu niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên Thọ vây chiếu nên không có tai biến gì.

Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền lành, nên đại họa lúc ba tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái