Bài tổng quan
Cung Phụ Mẫu với chín chính tinh từ Liêm Trinh đến Phá Quân
Có đứa trẻ từ bé đã phải gửi nhà người khác nuôi, có đứa lớn lên bên người mẹ thay cha gánh cả gia đình. Có người suốt đời được cấp trên nâng đỡ, có người mãi bị đoạt công. Những cảnh ngộ ấy đã được báo trước từ ngôi sao ngồi ở cung Phụ Mẫu…
CÓ NHỮNG ĐỨA TRẺ SINH RA TRONG MỘT CUỘC HÔN NHÂN PHỨC TẠP CỦA CHA MẸ, CÓ ĐỨA LỚN LÊN BÊN NGƯỜI MẸ PHẢI THAY CHA GÁNH VÁC GIA ĐÌNH. Cung Phụ Mẫu ghi lại những cảnh ngộ ấy qua từng chính tinh, và cũng qua đó mà thấy được người cấp trên sẽ nâng đỡ hay gây khó cho mình.
Liêm Trinh ở cung Phụ Mẫu
Liêm Trinh ở cung Phụ Mẫu, vì là sao chủ về tình cảm và máu, nên tính chất khá phức tạp. Nhất là lúc Liêm Trinh Hoá Lộc hoặc Hoá Kỵ thì tính chất cực kỳ mẫn cảm, vì vậy phải luận đoán cẩn thận.
Liêm Trinh Hoá Lộc thường chủ về không hình khắc, hoặc tình cảm hoà hợp. Có điều, lúc này Thái Dương ắt sẽ Hoá Kỵ, tính chất cơ bản là bất lợi cho cha mẹ, vì vậy phải xem xét kỹ Thái Dương, Thái Âm hội hợp những sao nào (bất luận ở cung độ nào), và cung Phụ Mẫu là Liêm Trinh hội hợp những sao nào, mới có thể đưa ra luận đoán.
Liêm Trinh Hoá Kỵ thường bất lợi cho cha mẹ, hình khắc hay sinh ly, hoặc tình cảm không hoà hợp. Phải xem Thái Dương, Thái Âm hội hợp những sao nào mà định.
Nếu Liêm Trinh Hoá Kỵ, có các sao Hoả Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Thương hội hợp, thường chủ về hình khắc.
Nếu Liêm Trinh Hoá Kỵ đồng cung với Hoả Tinh, hoặc đồng cung với Thiên Mã, Thiên Hư, thì chủ về rời xa cha mẹ.
Nếu Liêm Trinh Hoá Kỵ đồng cung với Linh Tinh, hoặc đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, hay Tham Lang mà không có sao cát, còn gặp các sao hư, hao, hình, thương, thì chủ về làm con nuôi, làm con thừa tự của người khác, hay cha mẹ “lưỡng trùng”.
Liêm Trinh có Văn Xương, Văn Khúc và các sao đào hoa đồng cung hoặc hội chiếu thì đương số do nhị phòng hay kế thất sinh ra, hoặc cấp trên âm thịnh dương suy, hoặc cha có tình nhân bên ngoài. Gặp “sao đôi” phụ tá kèm “sao lẻ” thì chủ về cha có tình nhân bên ngoài; gặp Văn Xương, Văn Khúc Hoá Kỵ thì đương số do nhị phòng hay kế thất sinh ra.
Liêm Trinh Hoá Kỵ, gặp các sao đào hoa tụ tập đủ, thì tình trạng hôn nhân của cha mẹ khá phức tạp.
“Liêm Trinh, Thiên Tướng” được “Tài ấm giáp ấn” thì được cha mẹ che chở; bị “Hình kỵ giáp ấn” thì cha mẹ bị hình khắc hoặc đổ vỡ tình cảm.
Nếu “Hình kỵ giáp ấn” mà bản thân Liêm Trinh Hoá Kỵ ở lưu niên hoặc đại vận thì cha mẹ bị “hình thương”.
Các tinh hệ “Liêm Trinh, Thất Sát”, “Liêm Trinh, Phá Quân”, “Liêm Trinh, Tham Lang”, tính chất cơ bản đều chủ về bị “hình thương”. Hoá Kỵ gặp sát tinh thì càng nặng. Nếu Liêm Trinh Hoá Lộc, lại gặp cát tinh, thì có thể hoá giải, nên xa cách cha mẹ. Ở thời cổ đại, người xưa cho rằng nên làm con nuôi người khác, cho làm con thừa tự của bác hay chú.
“Liêm Trinh, Thiên Phủ” là kết cấu rất ổn định, không chủ về hình khắc, gặp cát tinh còn chủ về tình cảm hạnh phúc.
Nếu “Liêm Trinh, Thiên Phủ” thủ cung Phụ Mẫu mà Thiên Phủ là “kho lộ”, “kho trống” thì tình cảm giữa hai đời bất hoà, hoặc cha có sản nghiệp mà không được hưởng.
Liêm Trinh vào cung Phụ Mẫu của lưu niên, có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hội hợp, lại gặp các sao sát, kỵ, hình, hao xâm phạm, thì phải đề phòng cha mẹ có nguy cơ về sức khoẻ. Rất ghét đến lưu niên có Bạch Hổ và Lưu Dương tương hội ở cung hạn Phụ Mẫu.
Nếu Liêm Trinh Hoá Kỵ ở cung Phụ Mẫu của nguyên cục hội Vũ Khúc Hoá Kỵ ở cung hạn Phụ Mẫu, thì năm đó cha mẹ bị bệnh nặng, có thể tử vong. Nếu Vũ Khúc ở cung Phụ Mẫu mà hội Liêm Trinh Hoá Kỵ, là điềm tượng cha mẹ bị phá tán, thất bại; quan hệ với cấp trên bị đứt đoạn, có thể bị cấp trên đuổi việc.
Liêm Trinh có Lưu Xương, Lưu Khúc tương hội, mà Văn Xương, Văn Khúc Hoá Kỵ, thì cũng bất lợi cho cha. Có lúc ứng nghiệm này cũng xảy ra ở cung Mệnh của lưu niên.
Thiên Phủ ở cung Phụ Mẫu
Những rối ren tình cảm của Liêm Trinh lắng xuống khi kho lẫm Thiên Phủ mở ra, vì đây là ngôi sao của sự song toàn.
Thiên Phủ thủ cung Phụ Mẫu, trong các tình hình thông thường đều chủ về cha mẹ song toàn. Chỉ khi Thiên Phủ là “kho lộ”, “kho trống” mới bị “hình khắc”, hoặc không được hưởng phúc ấm của cha.
Thiên Phủ đồng độ với Kình Dương thì hai đời bất hoà. Có Đà La hội hợp thì bị “hình khắc”; gặp Thiên Hình thì càng nặng.
Thiên Phủ đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh thì chủ về sinh ly; gặp Thiên Hình thì lúc trẻ cha mẹ đã bất toàn.
Thiên Phủ đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì chủ về làm con nuôi.
Thiên Phủ đồng cung với Lộc Tồn, gặp sát tinh, thì cha con bất hoà, còn chủ về cha mẹ ưa độc quyền tài chính.
Thiên Phủ gặp Hoá Lộc đồng độ hoặc vây chiếu, trường hợp Vũ Khúc Hoá Lộc là rất nên, chủ về cha mẹ giàu có và được cha mẹ che chở. Gặp thêm Thiên Vu đồng độ, hoặc Thiên Vu ở cung Mệnh hay cung Tài Bạch, thì cha mẹ để lại di sản to lớn.
Nếu cung Phụ Mẫu của lưu niên là Thiên Phủ bỗng gặp Hoá Lộc hoặc Lộc Tồn trùng trùng xung hội, thì phải đề phòng có tang sự.
Thiên Phủ bị Liêm Trinh Hoá Kỵ đối xung, lại gặp sát tinh, thì cha mẹ bất toàn. Bị Vũ Khúc Hoá Kỵ đối xung thì “hình khắc”, hoặc sự nghiệp của cha mẹ sụp đổ.
Thiên Phủ Hoá Khoa thì không bị “hình khắc”. Nếu Thái Dương Hoá Lộc ở cung miếu vượng thì được cha che chở.
Thiên Phủ được “trăm quan đứng chầu” thì phải gặp “sao đôi”, không ưa “sao đôi” kèm “sao lẻ”, vì chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”, hoặc đương số do nhị phòng hay kế thất sinh ra.
Thiên Phủ có các sao đào hoa cùng bay đến, gặp “sao lẻ” Văn Xương hay Văn Khúc, thì cha có tình nhân bên ngoài.
Thái Âm ở cung Phụ Mẫu
Nếu Thiên Phủ giữ trọn cả hai đấng sinh thành, thì Thái Âm lại mang bóng dáng người mẹ rõ hơn cả.
Thái Âm thủ cung Phụ Mẫu thường không chủ về “hình khắc”. Nếu Thái Âm nhập miếu, dù gặp sát tinh, thường cũng chỉ chủ về sinh ly.
Thái Âm lạc hãm thì bất lợi cho mẹ; nếu đồng cung với Hoả Tinh, Linh Tinh thì chỉ chủ về chia lìa; sát tinh nặng thì nên đề phòng “hình khắc”.
Thái Âm độc toạ không nên lạc hãm. Trường hợp nhẹ thì lúc bé cô độc, không được mẹ chăm sóc; nặng thì rời xa cha mẹ, hoặc mẹ bị “hình thương”.
Thái Âm có Kình Dương đồng độ thì duyên phận với mẹ bạc bẽo, lạc hãm thì càng nặng.
Thái Âm có Đà La đồng độ thì bất hoà với mẹ, lạc hãm cũng càng nặng.
Thái Âm có Thiên Mã, Thiên Hư đồng độ, không gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, cũng chủ về rời xa cha mẹ; gặp Hoả Tinh, Linh Tinh thì lúc bé đã ly tán cha mẹ; nếu gặp thêm “sao lẻ” thì thường làm con nuôi.
Thái Âm có Thiên Lương, Thiên Thọ tương hội, dù lạc hãm và Hoá Kỵ, cũng chỉ chủ về nạn tai, bệnh tật, không chủ về “hình khắc”.
Thái Âm ở hai cung Mão, Dậu, gặp Thiên Đồng Hoá Kỵ, thì cha mẹ sự nghiệp phá tán, thất bại; gặp Thiên Đồng Hoá Lộc cũng không được hưởng phúc ấm của cha. Ảnh hưởng của Thiên Đồng đối với cung Phụ Mẫu, ý nghĩa cơ bản là tự lập.
Thái Âm lạc hãm ở cung Thìn thì “hình khắc” khá nặng; ở cung Tuất là nhập miếu, gặp sát tinh cũng chỉ chủ về không có duyên với cha mẹ. Có điều, Thái Âm ở hai cung Thìn, Tuất thủ cung Phụ Mẫu đều không nên Hoá Kỵ, vì chủ về lúc bé bị “hình khắc”.
Thái Âm độc toạ ở hai cung Tỵ, Hợi: ở cung Tỵ chủ về “hình khắc”, chia lìa, ở cung Hợi thì không đúng. Có điều, nếu Thái Âm Hoá Kỵ ở cung Hợi, lúc bé cũng chủ về khắc cha.
Thái Âm Hoá Quyền hay Hoá Khoa ở cung Phụ Mẫu, mà Thái Dương vô lực (như không hội hoá cát), thì lúc bé mẹ phải thay cha nuôi con, hoặc mẹ gánh vác gia đình. Nếu Thái Âm ở cung Tỵ, thường là điềm tượng cha chia lìa với gia đình hoặc tử vong.
Cung Phụ Mẫu của lưu niên là Thái Âm hội các sao sát, hình, Bạch Hổ, thì mẹ bị thương tổn.
Thái Âm Hoá Kỵ gặp Kình Dương, Đà La, lại gặp thêm Văn Khúc, thì có người đâm thọc, khiến xảy ra bất hoà với cha mẹ hoặc cấp trên.
Tham Lang ở cung Phụ Mẫu
Ánh trăng thầm lặng nhường chỗ cho Tham Lang, ngôi sao mà ở cung cha mẹ thường gắn với những mối tình ngoài luồng.
Tham Lang ở cung Phụ Mẫu phải nhập miếu mới tốt; không nhập miếu, dù gặp các sao phụ tá cát và cát hoá, cũng không toàn mỹ.
Tham Lang đồng cung với các sao đào hoa, gặp Thiên Hư, Thiên Hình, thì đương số do kế thất hay nhị phòng sinh ra; gặp thêm sát tinh thì cha mẹ bị “hình khắc”.
Tham Lang Hoá Kỵ thì lúc bé đã rời xa cha mẹ; gặp các sao sát, hình, thì cha mẹ bị “hình khắc”.
Tham Lang lạc hãm, gặp Thiên Mã đồng cung hoặc vây chiếu, thì chủ về xa cách. Có các sao đào hoa cũng chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”, hoặc đương số do nhị phòng hay kế thất sinh ra.
Tham Lang hội hợp “sao lẻ” phụ tá cũng chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”; gặp thêm sát tinh thì tình trạng hôn nhân của cha mẹ phức tạp.
Tham Lang Hoá Lộc mà lạc hãm, dù gặp sát tinh cũng không chủ về “hình khắc”, chỉ chủ về sinh ly. Nếu nhập miếu Hoá Lộc, đương nhiên không bị “hình khắc”; nhưng vẫn không nên gặp “sao lẻ” phụ tá.
Tham Lang ở hai cung Tý, Ngọ, có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì lúc bé đã rời xa cha mẹ; gặp các sao đào hoa thì cha có người bên ngoài, hoặc đương số do người bên ngoài sinh ra.
Tham Lang ở hai cung Dần, Thân, có sát tinh, thì chủ về “hình khắc”. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Thiên Thương, thì cha mẹ chia tay giữa chừng.
Tham Lang độc toạ ở hai cung Thìn, Tuất, đối cung là Vũ Khúc Hoá Kỵ, có Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, thì sự nghiệp của cha đột nhiên sụp đổ.
Tham Lang đồng cung với Vũ Khúc Hoá Lộc thì sự nghiệp của cha vẻ vang; gặp các sao phụ tá thì càng cát lợi. Có điều, nếu gặp thêm các sao đào hoa thì cha có tì thiếp.
Tham Lang lạc hãm ở hai cung Tỵ, Hợi, đồng cung với Liêm Trinh, gặp sát tinh thì rời xa cha mẹ; đồng cung với Thiên Mã, Hoả Tinh thì càng nặng; có Văn Xương, Văn Khúc cùng bay đến thì cha có tì thiếp.
Cự Môn ở cung Phụ Mẫu
Tham Lang khuấy động bằng tình ái, còn Cự Môn, vốn là sao ám, lại phủ bóng lên chính mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái.
Cự Môn ở cung Phụ Mẫu là sao ác, không có các sao sát, kỵ mới chủ về toàn mỹ. Nếu không, dù Hoá Lộc cũng chỉ chủ về sự nghiệp của cha to lớn, vẫn khó tránh “hình khắc” hoặc bất hoà.
Cự Môn lạc hãm, gặp sát tinh, Thiên Hình, thì cha mẹ bất toàn.
Cự Môn gặp Thiên Đồng đồng độ hoặc đối nhau, có Hoả Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, thì cha mẹ con cái không hoà hợp. Gặp thêm các sao đào hoa thì hôn nhân của cha mẹ phức tạp; gặp “sao lẻ” phụ tá thì cha mẹ có tình yêu khác.
Tinh hệ “Cự Môn, Thiên Đồng” phần nhiều bất lợi cho cha mẹ. Ngoài những điều vừa thuật, còn chủ về không được hưởng sự nghiệp của cha; gặp sát tinh, Thiên Đồng không có cát hoá, là tổ nghiệp lụn bại; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì tổ nghiệp bị người ta đoạt mất.
Cự Môn gặp Thiên Cơ đồng độ hoặc đối nhau, cổ nhân cho rằng là điềm tượng làm con nuôi người khác, là người có hai họ. Thật ra, nếu không gặp sát tinh thì chỉ chủ về đương số ở ký túc xá hoặc được gửi cho người khác nuôi dưỡng, không chủ về có hai họ. Gặp các sao sát, kỵ, không, kiếp, hình, hao trùng trùng, đây là điềm tượng “hình khắc” hoặc sinh ly.
Tinh hệ “Cự Môn, Thiên Cơ” rất bất lợi đối với cung Phụ Mẫu, mức độ khắc hại rất lớn. Nếu sát tinh nhẹ thì từ bé đã rời xa cha mẹ, chẳng hạn cha mẹ vì bận rộn công tác mà không chăm lo được, mang đương số gửi cho người khác nuôi dưỡng…
Kết cấu “Cự Môn, Thái Dương”, trong các tình hình thông thường đều chủ về cha con bất hoà. Nếu được cát hoá thì chủ về cha mẹ rời xa quê hương.
Cự Môn Hoá Lộc hay Hoá Quyền chỉ giảm bớt mức độ khắc hại; có “Lộc trùng điệp” mới chủ về sự nghiệp của cha to lớn.
Cự Môn Hoá Kỵ ở cung Phụ Mẫu của lưu niên, có sát tinh, thì bất hoà với cấp trên, cũng chủ về người ngoại quốc (hay người ở phương xa) là cấp trên chủ quản.
Thiên Tướng ở cung Phụ Mẫu
Cự Môn khắc hại từ bên trong, còn Thiên Tướng lại chịu ảnh hưởng rõ nhất từ những ngôi sao đứng kề bên.
Thiên Tướng thủ cung Phụ Mẫu đặc biệt rất mẫn cảm đối với các sao phụ tá. Nếu gặp Văn Xương và Văn Khúc giáp cung, Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung, Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung, có thể có cha mẹ “lưỡng trùng”, hoặc không chỉ có một mẹ; nếu lại gặp “sao lẻ” đồng độ hoặc vây chiếu thì càng đúng.
Thiên Tướng bị Hoả Tinh và Linh Tinh giáp cung thì rời xa cha mẹ; gặp Thiên Mã thì càng đúng. Nếu Hoả Tinh và Linh Tinh giáp cung mà có “sao lẻ” phụ tá đồng độ hoặc vây chiếu, cũng chủ về có hai mẹ.
Thiên Tướng có Văn Xương, Văn Khúc, các sao đào hoa đồng độ và hội hợp thì không chỉ có một mẹ (ở thời hiện đại cũng có thể là không chỉ có một cha).
Thiên Tướng rất kỵ gặp Vũ Khúc đồng độ hoặc vây chiếu, chủ về lúc bé bất lợi cho cha mẹ. Vũ Khúc Hoá Kỵ thì cha mẹ gặp nhiều nạn tai, bệnh tật.
Thiên Tướng gặp Liêm Trinh đồng độ hoặc vây chiếu, có Kình Dương và Đà La giáp cung, Hoả Tinh và Linh Tinh giáp cung, thì chủ về “hình khắc” hoặc xa cách. Không có sát tinh giáp cung, nhưng gặp “sao lẻ” phụ tá, lại có thêm các sao đào hoa, thì chủ về có hai mẹ. Dù không có các sao đào hoa, ở thời hiện đại thường chủ về có cấp trên “lưỡng trùng”.
Thiên Tướng rất ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật; cũng ưa gặp các sao Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Quý, Giải Thần, Thiên Đức, Long Đức, Thiên Vu, Trường Sinh, chủ về cha mẹ hạnh phúc, cũng chủ về dễ được cấp chủ quản đề bạt.
Thiên Tướng có Hoả Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Thương hội hợp thì cha mẹ bị “hình khắc”.
Nếu gặp các sao sát, kỵ, lại gặp thêm “sao lẻ” phụ tá, thì phải xem xét kỹ Thái Dương và Thái Âm miếu vượng thế nào mà định tình huống của cha mẹ. Có thể là một người mất sớm, một người đi bước nữa.
Lưu niên đến cung hạn có Thiên Tướng hội hợp với Liêm Trinh Hoá Kỵ hoặc Vũ Khúc Hoá Kỵ, lại gặp Văn Xương, Văn Khúc và lưu sát trùng trùng xung hội, thì chủ về có tang sự.
Thiên Lương ở cung Phụ Mẫu
Sau những lần giáp cung đầy biến động, Thiên Lương vừa là thọ tinh vừa là ấm tinh, mang đến sự che chở bền lâu.
Thiên Lương là “thọ tinh”, lại là “ấm tinh”; ở cung Phụ Mẫu mà nhập miếu, không có sát tinh, hoặc sát tinh không nặng, thì cha mẹ song toàn.
Nếu nhập miếu, không có sát tinh, mà có sao cát và cát hoá hội hợp, thì được hưởng phúc ấm của cha mẹ. Gặp Thiên Vu và sao lộc thì cha mẹ có di sản, hoặc được kế thừa sự nghiệp của cha mẹ.
Thiên Lương lạc hãm thì bị “hình khắc”; gặp các sao sát, kỵ thì càng đúng. Cổ nhân cho rằng làm con thừa tự của người khác hoặc làm con nuôi thì có thể tránh “hình khắc”. Ở thời hiện đại, thường chủ về xa cách thì có thể tránh.
Thiên Lương có Thiên Mã, Kình Dương đồng độ thì chia lìa với gia đình, hoặc ở rể mà xa cách cha mẹ.
Thiên Lương ưa gặp Thiên Đồng đồng độ hoặc vây chiếu; nhưng Thiên Đồng Hoá Kỵ, hoặc có tứ sát và các sao không, kiếp, hình, thương hội hợp, thì giữa hai đời có định kiến trái nghịch nhau, hoặc làm con thừa tự của bác hay chú.
Thiên Lương ở cung Phụ Mẫu và cung Mệnh, một cung gặp Hoả Tinh, một cung gặp Linh Tinh, là điềm tượng làm con nuôi, hoặc ở rể.
Thái Dương nhập miếu đối nhau với Thiên Lương thì cha mẹ con cái hạnh phúc. Nếu Thái Dương lạc hãm, lại có Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì giữa hai đời có sự ngăn cách, hoặc bất hoà nghiêm trọng với cấp trên.
Thái Dương lạc hãm, gặp Thiên Lương đồng độ hoặc vây chiếu, có cát tinh và sát tinh lẫn lộn, thì không chủ về “hình khắc”, chỉ chủ về không được cha mẹ che chở, hoặc cha mẹ độc đoán, khiến đương số cảm thấy đơn độc.
Đến lưu niên có Thái Dương Hoá Kỵ đối nhau với Thiên Lương, lại có Văn Xương, Văn Khúc và lưu sát xung hội, nếu gặp Bạch Hổ, Tang Môn nhập cung hạn thì chủ về có tang sự.
Thất Sát ở cung Phụ Mẫu
Sau bóng che của Thiên Lương, lưỡi đao Thất Sát bước vào và kéo giãn khoảng cách giữa hai thế hệ.
Thất Sát ở cung Phụ Mẫu không phải là sao thiện; dù nhập miếu cũng có quan hệ xa cách với cha mẹ; rất ghét gặp Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ.
Thất Sát đồng độ với Tử Vi, có sao cát, thì không chủ về “hình khắc”, chỉ chủ về cha mẹ cực kỳ độc đoán. Nếu không có sao cát mà có các sao hình, sát, kỵ, thì vẫn chủ về “hình khắc”, bất hoà, hoặc xa cách.
Thất Sát thủ cung Phụ Mẫu, sát tinh nhẹ, thì giữa hai đời có sự ngăn cách, cũng chủ về bất hoà với cấp trên.
Thất Sát không ưa hội Cô Thần, Quả Tú, nếu không sẽ chủ về cô độc, cũng chủ về quan hệ xa cách với cấp trên.
Thất Sát đối nhau với “Tử Vi, Thiên Phủ”, gặp sát tinh, hoặc gặp “sao lẻ” phụ tá, thì chủ về có cha mẹ “lưỡng trùng”.
Thất Sát hội Tử Vi Hoá Quyền thì cha mẹ có thành kiến cực nặng.
Thất Sát hội Tử Vi Hoá Khoa, lại gặp cát tinh, thì cha mẹ có tiếng tăm, nhưng quan hệ giữa hai đời chưa chắc hoà hợp.
Thất Sát đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, hoặc hội Thiên Mã, thì rời xa cha mẹ mà tính chất không lành.
Thất Sát không ưa gặp Vũ Khúc Hoá Kỵ hay Liêm Trinh Hoá Kỵ; nếu gặp thêm các sao hung sát thì cha mẹ bị “hình thương”, hoặc sự nghiệp thất bại, bị bệnh tật triền miên. Phải xem hội những tạp diệu nào mà định.
Thất Sát không đồng cung với sao ác, nhưng lại hội sát tinh ở cung tam hợp, còn gặp Vũ Khúc Hoá Lộc, thì cha mẹ theo võ nghiệp, hoặc là bác sĩ ngoại khoa, nha khoa… (dùng công cụ bén nhọn để kiếm tiền).
Thất Sát có Lộc, Quyền, Khoa hội thì được cha mẹ che chở; gặp Thiên Vu thì được di sản, hoặc kế thừa sự nghiệp của cha mẹ.
Đến lưu niên có Thất Sát thủ cung Phụ Mẫu, bị lưu sát xung hội, lại gặp Hoá Kỵ, thì phải đề phòng có tang sự.
Phá Quân ở cung Phụ Mẫu
Phá Quân là ngôi sao cô độc luôn muốn tự mình đi con đường riêng.
Phá Quân thủ cung Phụ Mẫu, tính chất cơ bản là không tốt; hơi gặp sát tinh thì chủ về xa cách; sát tinh nặng thì “hình khắc”.
Phá Quân đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh thì càng chủ về xa cách cha mẹ. Hoả Tinh, Linh Tinh một sao ở cung Phụ Mẫu, một sao ở cung Mệnh, thì có quan hệ xa cách với cha mẹ. Gặp Cô Thần, Quả Tú càng chủ về lúc bé đã rời xa cha mẹ.
Phá Quân độc toạ ở cung Phụ Mẫu, tính chất cơ bản là cô độc, cũng chủ về quan hệ xa cách với cấp trên, vì vậy có lúc cũng chủ về hay thay đổi công việc. Có điều, nếu gặp “sao đôi” phụ tá thì có thể điều hoà mối quan hệ.
Phá Quân có Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Thương, Thiên Hư đồng độ thì chủ về “hình khắc”. Cổ nhân cho rằng nên làm con nuôi, là người có hai họ. Ở thời hiện đại, có thể là sau khi chia lìa với gia đình khó đoàn tụ với cha mẹ, nhưng lại gần gũi bên thân gia.
Phá Quân có sao kỵ tương hội, phần nhiều chủ về “hình khắc”; nếu gặp thêm Kình Dương, Đà La thì càng đúng. Luận về quan hệ với cấp trên thì suốt đời khó được cấp trên nâng đỡ, mà còn bị cấp trên đoạt công.
Phá Quân Hoá Lộc thì cha mẹ hạnh phúc; gặp thêm các sao phụ tá cát thì càng tốt.
Phá Quân Hoá Quyền tuyệt đối không nên đồng cung với Kình Dương, Đà La, nếu không sẽ chủ về cha con bất hoà, hoặc bất hoà với cấp trên.
Phá Quân đồng cung với “sao lẻ” phụ tá, gặp các sao đào hoa, thì chủ về có hai mẹ; gặp Hoá Kỵ thì mẹ bị “hình thương”.
Phá Quân thủ cung Phụ Mẫu của lưu niên, có “sao lẻ” Tả Phụ hay Hữu Bật đồng độ, có lưu sát bay vào cung hạn, thì cha mẹ bệnh nặng, cũng chủ về kết oán với cấp trên.
Phá Quân thủ cung Phụ Mẫu của lưu niên, gặp Vũ Khúc Hoá Kỵ hoặc Liêm Trinh Hoá Kỵ, có Lưu Xương, Lưu Khúc, cũng chủ về có tang sự. Nếu không có Lưu Xương, Lưu Khúc thì lấy trường hợp gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La làm ứng nghiệm.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
