Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Tài Bạch với sáu chính tinh từ Tham Lang đến Phá Quân

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202635 phút đọc1 lượt đọc
Cung Tài Bạch với sáu chính tinh từ Tham Lang đến Phá Quân

Người mê đầu cơ, người kiếm tiền bằng miệng lưỡi, người cứu giúp kẻ khác bằng chính túi tiền của mình, và người tự tìm ra một nguồn tiền mà chưa ai nghĩ tới. Vương Đình Chi còn để lại một bài ca quyết bênh vực Thất Sát ở cung Tài Bạch, trái hẳn với các sách khác cho rằng...


THAM LANG Ở CUNG TÀI BẠCH GIỎI TIÊU TIỀN HƠN GIỮ TIỀN, THÍCH LẤY CÔNG LÀM THỦ, CHO NÊN MÊ ĐẦU CƠ. Cự Môn thì kiếm tiền bằng miệng lưỡi, Thiên Tướng là con dấu giữ các tài khoản, Thiên Lương nên lấy phục vụ làm mục đích, còn Thất Sát và Phá Quân thì một bên mở cục diện mới, một bên tự tìm ra nguồn tiền mới. Sáu chính tinh khép lại cung Tài Bạch.

Tham Lang ở cung Tài Bạch

Tham Lang thủ cung Tài Bạch có tính chất xa hoa, rộng rãi, nhưng vẫn giỏi tính toán, cho nên thái độ đối với tiền bạc, trong lòng và bề ngoài thường bất nhất.

Tham Lang thủ cung Tài Bạch chủ giỏi vận dụng tiền bạc, nhưng lại không giỏi giữ tiền, thường có khuynh hướng lấy công làm thủ, do đó thích đầu cơ.

Tham Lang có Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao cùng hội hợp thì không nên đầu cơ, nếu không sẽ thất bại. Dù Tham Lang Hóa Lộc cũng chủ có sóng gió, trắc trở, thất bại. Không đầu cơ thì sự nghiệp vẫn bị tranh chấp cực lớn, hoặc kế hoạch thường vì ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan mà thay đổi; tuy bị tổn thất nhất thời nhưng cũng dễ gây dựng lại.

Tham Lang Hóa Quyền làm tăng tính đầu cơ và nhiều biến động hơn. Tham Lang Hóa Lộc, bất kể tình trạng tài chính thế nào, đều có biểu hiện sa hoa, theo đuổi hưởng thụ hào nhoáng. Nhưng nếu Tham Lang Hóa Kị thì lại dễ tự kiềm chế.

Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ với Tham Lang, gặp thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, chủ phát đột ngột. Nếu đồng thời có Địa Không, Địa Kiếp thì phát lên liền xảy ra phá tán, thất bại. Không có Không, Kiếp mà hội sao cát mới có thể giữ được, còn phải biết dừng kịp lúc, không được cho rằng vận may đến với mình vĩnh viễn.

Tham Lang có "Lộc trùng điệp" thường kiếm được tiền bất ngờ. Nhưng nếu đồng thời có các sao sát, hình, hư, hao hội hợp thì được tiền bất ngờ mang tính nạn tai, như được bồi thường tiền bảo hiểm thương tật, tiền bảo hiểm nhân thọ của thân thuộc, hoặc tiền thắng cờ bạc mà hậu quả xấu; đều là kiếm được tiền mà kèm theo tai họa.

Tham Lang đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa thì vì sắc mà hao tài; gặp thêm các sao sát, hình thì vì sắc mà dẫn đến thất bại, còn bị kiện tụng.

Tham Lang có Âm Sát đồng độ thì bị lừa; có Thiên Nguyệt đồng độ thì vì bệnh mà phá tài; có Kiếp Sát đồng độ thì tranh đoạt tài sản. Các trường hợp vừa kể đều phải gặp Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp mới đúng.

Tham Lang Hóa Kị đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, gặp thêm Thiên Hư, lại hội Lộc Tồn, thì hợp khởi nghiệp bằng con đường tắt.

Tham Lang thủ cung Tài Bạch hội Liêm Trinh có kèm Lộc Tồn, lại gặp Phá Quân có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu, cũng hợp không theo con đường chính để kiếm tiền.

Tham Lang ở Tí, Ngọ

Tham Lang ở Tí hoặc Ngọ thủ cung Tài Bạch, đối nhau với Tử Vi; được Tử Vi Hóa Quyền vây chiếu thì nguồn tiền ổn định và đến từ nhiều phương diện. Tử Vi Hóa Khoa vây chiếu thì có danh trước rồi mới có lợi, cũng chủ dùng giao tế thù tạc để kết giao với nhiều người, nhờ đó mà vận kinh doanh đắc lợi.

Tham Lang ở Tí thành cách "Phiếm thủy sao đào hoa": tình hình cát thì hợp những nghề lấy người khác giới làm đối tượng kinh doanh; tình hình hung thì vì sắc mà phá tán, thất bại. Tình hình cát hung lẫn lộn, đồng thời còn có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì "tài khí" do người khác giới mang đến, và cũng vì vậy mà sinh phá tán, thất bại.

Tham Lang ở Tí, Ngọ, nếu không gặp Tử Vi cát hóa, dù Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền cũng chủ biến động, hoặc thường được phái đi công tác tạm thời hay đảm nhiệm chức vụ tạm thời, phần nhiều là đi nước ngoài (hoặc nơi xa) để bàn bạc công việc làm ăn. Nếu cung Sự Nghiệp là Phá Quân đồng cung với Lộc Tồn, Thiên Mã, càng chủ ngoại vụ đắc ý (không nhất định là dời đi nơi khác hay ra nước ngoài).

Tham Lang ở Tí, Ngọ thủ cung Tài Bạch chủ nắm vững quyền tài chính là thỏa mãn, bản thân không nhất định phải có vốn lớn. Vì vậy cũng hợp làm việc hưởng lương trong công ti lớn thuộc bộ môn kinh doanh, nhưng không nên làm công tác kế hoạch.

Tham Lang ở Dần, Thân

Tham Lang độc tọa ở Dần hoặc Thân đối nhau với Liêm Trinh. Thông thường Liêm Trinh Hóa Kị thì hợp làm nghề tay trái, hoặc nghề liên quan đến "hung sự" để kiếm tiền; có liên quan đến máu là thích hợp nhất. Ở thời hiện đại, kinh doanh thịt đông lạnh cũng thuộc loại này, hoặc làm bác sĩ ngoại khoa, nha khoa.

Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc vây chiếu, đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, cũng chủ hoạnh phát; có sát tinh hội hợp, lại gặp thêm Âm Sát, Thiên Diêu, thì kiếm được tiền bằng nghề tay trái. Cần gặp cát tinh mới hợp với những nghề liên quan đến nghệ thuật hoặc có tính chất hưởng thụ, trang điểm, trang sức, trang trí. Nếu cát tinh và sát tinh lẫn lộn thì kiếm được tiền đồng thời cũng có hao tổn, còn chủ hoạnh phát hoạnh phá.

Tham Lang Hóa Kị ở cung Dần chủ thường thay đổi nghề nghiệp. Tham Lang không Hóa Kị nhưng thành cục "Phong lưu thái trượng" thì chủ đầu cơ sẽ phá tán, thất bại; hoặc vì kinh doanh nghiệp dư, nghề không chính đáng mà dẫn đến thân bại danh liệt.

Tham Lang ở Thìn, Tuất

Tham Lang độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất đối nhau với Vũ Khúc. Hỏa Tinh, Linh Tinh nên đồng độ với Tham Lang; nếu đồng độ với Vũ Khúc thì tuy hoạnh phát nhưng cũng có tranh chấp.

Tham Lang độc tọa ở Thìn, Tuất ưa sao tiền tài Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ năng lực vận dụng tiền bạc rất mạnh; Hóa Quyền hay Hóa Khoa là kế đó.

Hai cung Thìn, Tuất là cách "Hỏa Tham", "Linh Tham", được Tham Lang Hóa Lộc là tốt: chủ đột nhiên tài vận hanh thông, còn có sắc thái đầu cơ, nhưng cần phải biết dừng, lúc đắc ý không nên tiếp tục xông tới. Nếu Tham Lang không Hóa Lộc thì mức phát đột ngột sẽ giảm bớt.

Tham Lang ở Thìn, Tuất là rơi vào "Thiên La, Địa Võng"; nếu cung mệnh hoặc cung Thiên Di có "Lộc Mã giao trì" thì chủ rời xa quê hương để thành "phú cục", nhưng sự nghiệp và nguồn tiền ắt sẽ gặp nhiều biến động thay đổi.

Cự Môn ở cung Tài Bạch

Tham Lang cầm tiền bằng những cuộc đầu cơ táo bạo; Cự Môn thì cầm tiền bằng lời ăn tiếng nói, mà cái miệng đã đem tiền về thì cũng dễ đem thị phi về theo.

Cự Môn thủ cung Tài Bạch, tính chất cơ bản là lao tâm tổn thần để kiếm tiền, hoặc chủ dùng tài ăn nói để kiếm tiền; nhưng cần đề phòng có thể vì tâm cao khí ngạo mà sinh phá tán, thất bại.

Cự Môn Hóa Lộc cũng lợi về dùng tài ăn nói để kiếm tiền, những nghề như luật sư, giáo sư, bán hàng, chào hàng, quảng bá, biểu diễn. Cự Môn Hóa Kị thì càng đúng, nếu không ắt sẽ nhiều thị phi kiện tụng.

Cự Môn tọa cung Tài Bạch có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, lại gặp các sao phụ, tá, cát, ắt sẽ trở thành giàu có. Nhưng nếu quá lộ tài năng, cậy thế hiếp đáp người khác, ắt sẽ bị bài xích, chèn ép, dẫn đến thất bại.

"Tài khí" của Cự Môn bất quá chỉ tĩnh một đời, cho nên hễ Cự Môn tọa cung Tài Bạch nên xem kèm cung Tử Nữ. Cung Tử Nữ không cát tường thì con cái tán tài; nếu còn gặp các sao sát, hình, hao, và các sao Âm Sát, Đại Hao, Thiên Hư, Phá Toái, Phi Liêm, thì vì con cái phạm pháp mà phá tán, thất bại, hoặc vì sa hoa mà thất bại.

Cự Môn Hóa Kị đã dễ chuốc thị phi, Thái Dương Hóa Kị cũng chủ xảy ra điều tiếng thị phi cực lớn; nếu gặp thêm Thiên Hình thì vì tiền mà dẫn đến kiện tụng. Nhưng nếu làm những nghề liên quan đến "hình pháp, kỉ luật" thì lại cát tường.

Cự Môn có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đồng độ thì vì hỏa tai, chiến họa mà hao tài, phá tán.

Cự Môn có Kình Dương, Thiên Hình đồng độ chủ kiện tụng hay tranh chấp tiền bạc. Nếu làm những nghề có ý vị tranh chấp như nhân viên thi hành án, nhân viên phát mãi, chuyên viên môi giới, thì lại cát tường.

Cự Môn đồng độ hoặc đối chiếu với Thái Dương, có cát hóa, hoặc cung mệnh gặp "Lộc Mã giao trì", thì cuộc đời được người ngoại quốc (hay người ở phương xa) tín nhiệm mà thành "phú cục"; đương số có năng khiếu về ngôn ngữ, kĩ năng này cũng có thể trợ giúp cho việc kiếm tiền.

Cự Môn ở Tí, Ngọ

Ở Tí hoặc Ngọ, Cự Môn đối nhau với Thiên Cơ, gặp sao lộc là cách "Thạch trung ẩn ngọc", chủ sau trung niên mới bộc lộ hết tài năng, đột nhiên thành cự phú. Có điều lúc trẻ ắt phải gian khổ; sau khi phát đạt, nếu quá lộ tài năng lại dễ thành mục tiêu cho người ta công kích. Nếu sa hoa dâm dật cũng dễ dẫn đến thất bại, một khi đã ngã xuống thì khó mà đứng lên được.

Cự Môn ở Tí, Ngọ thủ cung Tài Bạch cũng hợp làm việc cho công ti kinh doanh của người ngoại quốc (hay người ở phương xa), chủ có uy tín rồi sự nghiệp sẽ phát triển mà thành giàu có. Nếu gặp các sao khoa văn thì hợp với sự nghiệp quảng bá, cũng chủ có danh rồi mới có lợi. Đồng cung với các sao đào hoa thì hợp những nghề cần đến tài ăn nói, như biểu diễn nghệ thuật. Cự Môn Hóa Lộc hay Hóa Kị đều như vậy.

Cự Môn ở Tí, Ngọ có sát tinh đồng độ thì sự nghiệp thường gặp bất hòa, tranh chấp. Có các sao đào hoa đồng độ, lại gặp thêm Âm Sát, Thiên Diêu, thì vì tiền mà chuốc họa sắc tình; làm công việc biểu diễn nghệ thuật càng cần phải thận trọng đề phòng. Trường hợp không được cát hóa nhưng có Lộc Tồn đồng độ, lại gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, còn có Thiên Hình và Đại Hao đồng cung, chủ tranh chấp tiền bạc, kiện tụng. Có Thiên Vu thì chủ tranh đoạt di sản, hoặc xảy ra tranh chấp trong sự nghiệp.

Cự Môn ở Thìn, Tuất

Ở Thìn hoặc Tuất, Cự Môn đối nhau với Thiên Đồng, chủ tay trắng sáng lập sự nghiệp, hợp với công việc mang tính chuyên nghiệp, có thể thành giàu có.

Hai cung Thìn và Tuất là "Thiên La, Địa Võng", đối với Cự Môn là hãm địa, nên cũng chủ khổ lụy, bôn ba vất vả. Làm công việc chuyên nghiệp cũng nên có tính chất bôn ba, bận rộn, như kĩ sư công trình kiến trúc, kĩ sư công trình đóng tàu, chuyên viên công trình vận tải. Trường hợp đồng cung với sát tinh thì tính chất bôn ba càng nặng. Nếu không có "Lộc Quyền Khoa hội", lại không gặp sao cát phụ, tá, cũng không có Thiên Khôi, Thiên Việt đến giáp cung, thì chỉ hợp lao lực để kiếm tiền.

Cự Môn Hóa Kị ở Thìn, Tuất là "phản cách", có thể đảm nhiệm chức vụ cao một cách bất ngờ (như chưa đủ kinh nghiệm mà được bổ nhiệm chức vị cần có kinh nghiệm), nhờ vậy mà thu nhập dồi dào.

Cự Môn ở Tị, Hợi

Cự Môn độc tọa ở Tị hoặc Hợi, đối cung là Thái Dương, nên lợi về dùng tài ăn nói để kiếm tiền.

Cự Môn ở Tị, Hợi gặp Thái Dương Hóa Lộc cũng được người ngoại quốc (hay người ở phương xa) xem trọng, có uy tín với họ.

Nếu Cự Môn Hóa Lộc cũng hợp với nghề phát mãi, đại lí bán lẻ; nên lấy người ngoại quốc (hay người ở phương xa), du khách làm đối tượng khách hàng chủ yếu.

Cự Môn Hóa Kị thủ cung Tài Bạch, đến đại vận hoặc lưu niên hội Thiên Cơ Hóa Kị, thì nên làm việc hưởng lương, không nên tự kinh doanh.

Cự Môn Hóa Quyền ở Tị, Hợi nên làm những nghề dùng tài ăn nói để kiếm tiền.

Cự Môn ở Tị, Hợi gặp cục "Lộc Mã giao trì" cũng lợi về buôn bán ở nơi xa. Ở thời hiện đại rất nên buôn bán tạp hóa.

Thiên Tướng ở cung Tài Bạch

Cự Môn là cái miệng mở cửa nguồn tiền; Thiên Tướng thì là con dấu, không có nó thì kho đầy đến mấy cũng chẳng mở ra được.

Thiên Tướng tọa cung Tài Bạch có một số tình hình tương tự như Thiên Phủ. Thiên Phủ là kho tiền, Thiên Tướng cũng có thể là "tài ấn". Nói theo ý nghĩa hiện đại, Thiên Tướng là con dấu (ấn) giữ các tài khoản; dù "kho phủ đầy ắp" mà không có nó thì cũng chẳng làm được gì. Cho nên lúc Thiên Tướng tọa cung Tài Bạch, cần phân biệt xem nó có thuộc về "tài ấn" hay không.

Thiên Tướng thành "tài ấn" nếu là "Tài ấm giáp ấn", có Lộc Tồn, Hóa Lộc đồng độ hoặc vây chiếu, đều chủ giàu có, phát đạt. Nếu không gặp sao lộc nhưng gặp cát tinh tụ hội, Thiên Phủ không phải "kho lộ", "kho trống", thì Thiên Tướng tuy không phải "tài ấn" nhưng cũng không thành "phá ấn", vẫn có thể giàu có sung túc.

Thiên Tướng bị "phá ấn" là bị "Hình kị giáp ấn", Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, Địa Không và Địa Kiếp giáp cung mà có sát tinh đồng độ lại hội sát tinh, hoặc có Địa Không và Địa Kiếp đồng cung hội sát tinh. Hễ "phá ấn" đều chủ tiền bạc trồi sụt thất thường; nếu có các sao sát, kị trùng trùng thì còn dẫn đến thất bại. Có điều, bất kể mức độ không cát tường thế nào, phần lớn các tình huống đều là bị người ta làm liên lụy mà gây ra.

Thiên Tướng đồng độ với Lộc Tồn thì thái độ đối với tiền bạc cẩn thận hơn Thiên Phủ, nhưng có chỗ khác với Thiên Phủ: lúc Thiên Tướng thủ cung Tài Bạch thường có thể khẳng khái mở túi tiền ra cứu giúp người khác, còn Thiên Phủ đối với vấn đề này lại cực kì cẩn thận.

Thiên Tướng ưa có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn đồng độ, ắt chủ giàu có. Ưa nhất là Hóa Lộc, chủ tiền bạc dồi dào, có thể nắm quyền về tài chính, cũng có thể phát triển trong tình hình sự nghiệp có sẵn cục diện.

Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn" càng dễ gặp cơ hội phát triển sự nghiệp có sẵn cục diện. Cho nên cũng ưa hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung.

Thiên Tướng nếu bị "Hình kị giáp ấn" thì bị trắc trở, hay bị gây lụy. Nếu lại có thêm sát tinh đồng cung, hoặc Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, thì phá sạch tổ nghiệp, sau bốn mươi tuổi mới dần dần tạo nên sự nghiệp.

Thiên Tướng ở Sửu, Mùi

Thiên Tướng ở Sửu hoặc Mùi đối nhau với "Tử Vi, Phá Quân", có thể chủ phát đột ngột. Nhưng trước khi phát đột ngột ắt có một thời kì kinh tế khó khăn, hoặc nguồn tiền tuy có nhưng nhỏ nhoi. Vẫn cần xem các sao hội hợp mà định mức độ phát đột ngột. Được cát hóa và có sao cát thì sau khi phát đạt có thể bình ổn; nếu có các sao sát, kị thì vẫn trồi sụt thất thường.

Thiên Tướng ở Sửu, Mùi thường đến các cung hạn do "Tử Vi, Phá Quân" hoặc Thiên Tướng thủ cung Tài Bạch là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm tình hình phát đột ngột.

Thiên Tướng ở Mão, Dậu

Thiên Tướng độc tọa ở Mão hoặc Dậu đối nhau với "Liêm Trinh, Phá Quân", tính chất cơ bản là không cát tường. Cho nên hơi gặp sát tinh thì nguồn tiền liền không ổn định, mà còn thường sinh lòng muốn thay đổi.

Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, lại gặp các sao sát, kị (ngại nhất là Liêm Trinh Hóa Kị), thì dễ bị gây lụy mà dẫn đến phiền phức. Nếu có thêm Thiên Hình, Đại Hao, Âm Sát, hoặc lại đối xung với Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị, thì ở đại hạn hay lưu niên này ắt sẽ xảy ra phá tán, thất bại nghiêm trọng, có thể phá sản. Nhưng đến đại hạn cát, năm cát, thì có thể gây dựng lại. Đây là một ứng nghiệm quan trọng trong cuộc đời.

Thiên Tướng độc tọa ở Mão, Dậu gặp sao lộc, lại được cát hóa và có sao cát, tiền bạc tuy dồi dào nhưng vẫn chủ biến động thay đổi. Cho nên cuộc đời ắt có một lần thay nghề đổi nghiệp, chuyển biến cả nguồn tiền tài. Trường hợp gặp sao cát quá nhiều thì hay hi vọng hão huyền, rồi sinh lòng muốn thay đổi; cứ tưởng rằng thay đổi hoàn cảnh thì có thể đạt tới lí tưởng, nhưng kết quả vẫn là thất vọng. Đạo "xu cát tị hung" dùng hậu thiên bổ cứu là không nên muốn chuyển biến gấp rút.

Thiên Tướng ở Tị, Hợi

Thiên Tướng ở Tị hoặc Hợi đối nhau với "Vũ Khúc, Phá Quân", nguồn tiền cũng chủ không ổn định, chỉ tốt hơn trường hợp đối nhau với "Liêm Trinh, Phá Quân". Có ba tình huống Thiên Tướng độc tọa, thực ra đều chủ không ổn định. Trong số đó, chỉ có trường hợp đối nhau với "Tử Vi, Phá Quân" là có phát đột ngột, và sau khi phát đột ngột vẫn trồi sụt thất thường. Còn trường hợp không ổn định của "Liêm Trinh, Phá Quân" thường là tự phát, khác với trường hợp không ổn định của "Vũ Khúc, Phá Quân" là do hoàn cảnh khách quan gây nên.

Con người thường có thể khắc phục sự thay đổi của hoàn cảnh khách quan, nhưng lại khó khắc phục tính tự của nội tâm; do đó trường hợp Thiên Tướng đối nhau với "Vũ Khúc, Phá Quân" thường có cảnh ngộ khách quan tốt hơn trường hợp đối nhau với "Liêm Trinh, Phá Quân".

Thiên Tướng ở Tị, Hợi rất sợ Vũ Khúc Hóa Kị xung chiếu, chủ sóng gió, trắc trở trùng trùng, lúc ở trong hoàn cảnh khá tốt thì lại xảy ra sự thay đổi. Nếu có sao cát hội hợp mà sát tinh không nặng, thì hợp làm những nghề có tính chất "hung sự" để kiếm tiền, như ngành y, ẩm thực, ngành thịt đông lạnh..., thì tình hình chìm nổi thất thường sẽ giảm bớt; hoặc làm những công việc có tính chuyên nghiệp cũng được, nhưng nên làm thuê hưởng lương. Trường hợp gặp Vũ Khúc Hóa Lộc, ắt sẽ đồng cung với Đà La, hoặc bị Đà La xung chiếu, cho nên tính chất cũng không toàn mĩ. Gặp Vũ Khúc Hóa Quyền hay Hóa Khoa, có sao cát đồng cung hay vây chiếu, thì nguồn tiền khá ổn định, cuối cùng cũng có tích lũy.

Thiên Tướng ở Tị, Hợi có các sao không, kiếp, sát, hình thì chủ phá tán, thất bại, hoàn cảnh khách quan thay đổi liên tục. Gặp "Lộc Mã giao trì" thì thường gặp cơ hội kiếm tiền ở nơi xa.

Thiên Lương ở cung Tài Bạch

Thiên Tướng giữ con dấu cho đồng tiền; Thiên Lương thì là ấm tinh, sinh ra để che chở, nên hễ đem lòng phục vụ thì tiền tự đến, đem lòng lo kiếm tiền thì thị phi lại đến trước.

Thiên Lương thủ cung Tài Bạch thông thường không hợp tự kinh doanh làm ăn (trái ngược với trường hợp Thiên Lương ở cung Thiên Di có thể trở thành giàu có nhờ buôn bán); làm việc trong ngành thương nghiệp cũng nên làm việc hưởng lương, nếu không ắt sẽ xảy ra khó khăn nghiêm trọng, có lúc còn gây ra nguy cơ.

Thiên Lương không nên Hóa Lộc; nếu Hóa Lộc sẽ chủ bất hòa, tranh chấp, rối rắm khó xử; nếu có các sao sát, kị hội hợp thì thường do đó mà dẫn đến phạm pháp, kiện tụng. Nếu đồng thời hội sao cát thì tình huống rối rắm khó xử ít hơn, mà cũng dễ hóa giải hơn.

Thiên Lương có tính chất quản lí, giám sát, kiểm tra; lúc ở cung Tài Bạch cũng có những tính chất này. Nếu có Thiên Nguyệt đồng độ thì biến thành tra xét bệnh tình, cho nên có thể kiếm tiền trong ngành y dược. Nếu có Thiên Hình đồng độ thì thành người trông coi về "hình pháp, kỉ luật", nên có thể kiếm sống trong ngành tư pháp, quân đội, cảnh sát, bảo an.

Thiên Lương là "ấm tinh", nên chủ có phúc ấm của ông bà cha mẹ; nhưng có lúc chẳng chủ thừa kế di sản, mà là nhờ tiếng tăm của bậc trưởng bối nên được trợ lực, kiếm được tiền; có lúc lại chủ nhờ quan hệ với bậc trưởng bối mà kiếm được tiền, hoặc chủ kiếm tiền nhờ sự nghiệp có sẵn.

Thiên Lương thủ cung Tài Bạch cũng chủ có danh trước có lợi sau. Cho nên Thiên Lương Hóa Khoa ưu hơn Thiên Lương Hóa Lộc.

Thiên Lương thủ cung Tài Bạch nên lấy phục vụ làm mục đích, không nên lấy kiếm tiền làm mục đích. Khi có tâm chí phục vụ, tài lộc đương nhiên sung túc; nếu tâm chí chỉ lo kiếm tiền thì dễ không làm tròn chức trách, dễ gây ra rối rắm, thị phi.

Thiên Lương Hóa Lộc ở cung Tài Bạch có "Lộc trùng điệp" cũng chỉ chủ giàu có nhất thời, nhưng sau lưng bị người ta bàn tán. Đến vận hạn không tốt lập tức xảy ra thị phi, rối rắm. Vì vậy nên kết giao rộng, cần lấy phương châm "không tổn hại lợi ích của người khác" để kiếm tiền, còn phải công chính, mới có thể dùng hậu thiên để bổ cứu. Đạo "xu cát tị hung" không gì bằng để tâm chí vào mục đích phục vụ.

Thiên Lương hội Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì danh lợi đều kém hơn Thiên Lương Hóa Lộc.

Thiên Lương có Thiên Mã đồng độ ở cung Tài Bạch thì tiền bạc khó tụ, còn chủ thường bị thay đổi hoàn cảnh công tác.

Thiên Lương thủ cung Tài Bạch, dù gặp sao hung cũng không đến nỗi nghèo.

Thiên Lương ở Tí, Ngọ

Thiên Lương ở Tí hoặc Ngọ thì ở Tí ưu hơn ở Ngọ. Trường hợp ở Tí, Thiên Lương được Thái Dương ở Ngọ chiếu thẳng, tính chất chuốc thị phi đố kị giảm bớt nhiều, nhất là trường hợp Thái Dương Hóa Lộc thì càng đúng.

Thiên Lương ở Tí, cuộc đời gặp nhiều cơ hội kiếm tiền, nhưng "tán tài" cũng không ít. Bản thân Thiên Lương không được Hóa Lộc, mà hội chiếu Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, mới thành "phú cục".

Thiên Lương ở Ngọ, cơ hội kiếm tiền ít hơn, cơ hội "tán tài" cũng ít hơn. Có điều một khi giàu có sung túc, hoặc hưởng thụ xa hoa, thì liền bị người ta đố kị.

Thiên Lương ở Tí, Ngọ cũng có thể thành cục "Dương Lương Xương Lộc"; nếu lại gặp các sao khoa văn (ưa nhất là Văn Xương Hóa Khoa, hoặc Văn Khúc Hóa Khoa) thì danh cao lợi lớn. Ở thời hiện đại cũng có thể chuyển về phát minh mà trở nên giàu có.

Nếu có Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa cùng hội hợp, đây là biểu trưng cho nghệ thuật hay quảng bá, nên chọn nghề nghiệp có tính chất này để kiếm tiền.

Người kinh doanh làm ăn phần nhiều là thừa kế sự nghiệp có sẵn, nên xem trọng thương hiệu. Nếu sau khi tạo dựng được thương nghiệp mà tự tôn tự đại, lập tức sinh phá tán, thất bại, hoặc gây ra sóng gió nghiêm trọng.

Thiên Lương ở Sửu, Mùi

Thiên Lương độc tọa ở Sửu hoặc Mùi đối nhau với Thiên Cơ, chủ tiền bạc không ổn định. Có Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung mới chủ có thể tích lũy. Trường hợp gặp Văn Xương, Văn Khúc giáp cung thì danh lớn hơn lợi. Cho nên cầu lợi không bằng cầu danh.

Thiên Lương ở Sửu, Mùi thì ở Sửu ưu hơn ở Mùi, cùng ý nghĩa với trường hợp Thiên Lương ở Tí, Ngọ. Trường hợp hội Thái Âm Hóa Lộc thì chủ hưởng được sự nghiệp có sẵn hoặc thừa kế di sản. Thiên Lương đồng cung với Thiên Vu, hoặc đồng cung với Thái Âm, thì càng đúng.

Thiên Lương ở Sửu, Mùi không thành cách "Dương Lương Xương Lộc" thì cũng thành cách cục "Nhật Nguyệt tịnh chiếu". Ở Mùi là "Nhật Nguyệt phản bối", cần được cát hóa mới có thể bổ cứu, nhưng vẫn chủ kiếm tiền trong tình hình thị phi, bất hòa, tranh chấp rối rắm; mà sau khi kiếm được tiền ắt sẽ bị hao tài, phá tán.

Thiên Lương ở Sửu gặp Thái Âm Hóa Khoa thì Thiên Cơ ắt Hóa Kị, chủ vì tiền mà bị phỉ báng; ở Mùi thì càng nặng. Vì vậy kiếm được tiền cũng không nên khoe khoang.

Thiên Lương ở Tị, Hợi

Thiên Lương ở Tị hoặc Hợi đối nhau với Thiên Đồng, chủ tay trắng làm nên. Nếu được "Lộc Mã giao trì" thì nguồn tiền của cuộc đời ở nơi xa, hay ở nước khác.

Do ảnh hưởng của Thiên Đồng, nên từ thanh niên cho đến trung niên tiền bạc khó tụ, dù có tổ nghiệp cũng không được hưởng. Có điều, nếu Tả Phụ, Hữu Bật một sao ở cung mệnh, một sao ở cung Tài Bạch, thì được thừa kế tổ nghiệp, hoặc có cơ hội quản lí sự nghiệp có sẵn.

Thiên Lương lạc hãm ở Tị, Hợi thì nguồn tiền không rộng, cũng hơi khó tích tụ. Tình hình này là do bản thân chẳng xem trọng tiền bạc mà xem trọng sự hưởng thụ tinh thần; nhưng hễ kiếm được tiền ắt phải lao tâm tổn thần, gây ra mâu thuẫn. Đây cũng là khuyết điểm lớn nhất của Thiên Lương ở cung Tài Bạch. Nếu cầu danh trước cầu lợi sau thì có thể bổ cứu khuyết điểm trên. Vì vậy rất nên gặp Văn Xương, Văn Khúc giao hội; Văn Xương, Văn Khúc cũng nên Hóa Khoa.

Nếu hội Thiên Đồng Hóa Kị thì chỉ hợp làm công việc chuyên nghiệp, hoặc nghề bán lẻ cũng được.

Thất Sát ở cung Tài Bạch

Thiên Lương giữ tiền bằng tấm lòng phục vụ; Thất Sát thì nắm quyền tài chính bằng thế công, là vị tướng đi mở cõi chứ không phải người canh kho.

Thất Sát thủ cung Tài Bạch chủ nắm quyền tài chính. Tính chất nắm quyền tài chính của Thất Sát khác với Thiên Phủ. Đại khái, Thiên Phủ chủ thủ, Thất Sát chủ công. Thiên Phủ chủ phát triển trên cục diện có sẵn, Thất Sát thì chủ sáng lập cục diện mới. Do Thiên Phủ và Thất Sát vĩnh viễn đối nhau, nên tuy có tính chất khác nhau nhưng vẫn ảnh hưởng lẫn nhau. Cho nên chủ thủ nhưng cũng có thể công, chủ công nhưng cũng có thể thủ. Hai bên có quan hệ hỗ tương, vì vậy không thoát khỏi tính chất của nhau. Cho nên lúc hội hợp với một số sao khác, Thiên Phủ có thể biến thủ thành công, Thất Sát cũng có thể biến công thành thủ. Lúc luận đoán cần phải cẩn thận phân biệt một cách tỉ mỉ.

Liên quan đến trường hợp Thất Sát thủ cung Tài Bạch, phái Trung Châu Vương Đình Chi có bí truyền một bài ca quyết:

Dần Thân Tí Ngọ năng hoạnh phát, Mão Dậu đắc tài diệc hao ma, Thìn Tuất nhị cung vi phú cục, Sửu Mùi tích tài Tị Hợi đa.

Ý rằng Dần, Thân, Tí, Ngọ có thể hoạnh phát; ở Mão, Dậu kiếm được tiền cũng hao mòn; hai cung Thìn, Tuất là phú cục; Sửu, Mùi thì có ích lợi tích lũy được tiền; hai cung Tị, Hợi thì có nhiều tiền. Do đây có thể thấy, hễ Thất Sát thủ cung Tài Bạch, tính chất đều là "phú cục"; chỉ trường hợp ở Mão hoặc Dậu là hãm địa, sau khi hoạnh phát tiền bạc dễ tiêu hết, nhưng cũng đã một lần giàu có. Các sách khác thường không ưa Thất Sát tọa cung Tài Bạch, ít nhất cũng không cho là "phú cục"; theo Vương Đình Chi, đây là quan điểm sai lầm.

Thất Sát thành "phú cục", điều kiện đầu tiên là phải có sao lộc (điểm này tương đồng với Thiên Phủ). Có Lộc Tồn hoặc hội hợp Hóa Lộc đều được, nhưng cần phải có sao lộc mới thành cục diện nắm quyền tài chính. Nếu không, tuy nắm được tiền cũng chỉ trong phạm vi cực nhỏ.

Thất Sát ưa gặp sao lộc, Quyền, Khoa hội; nếu có thêm các sao phụ, tá, cát thì nắm đại quyền về tài phú. Nhưng Thất Sát thủ cung Tài Bạch cũng giống như thủ cung mệnh, trong cuộc đời ắt phải có một lần gặp sóng gió, trắc trở. Cho nên cần phải trải qua phong ba mới thành giàu có; nhưng nếu đầu cơ thất bại thì rất khó vượt qua bão táp. Nếu Thất Sát có sao lộc, còn gặp cát tinh mà không có sát tinh, sau khi trải qua phong ba sẽ bình an, có thể được bạn bè trợ giúp gây dựng lại cơ nghiệp. Nhưng nếu không có cát tinh mà có sát tinh, hoặc cát tinh ít mà sát tinh nhiều, thì sau khi trải qua sóng gió rất khó khôi phục nguyên khí, còn chủ một khi đầu cơ sai lầm thì khó mà gượng dậy nổi.

Thất Sát gặp "Lộc Mã giao trì", lại gặp các sao phụ, tá, cát và Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, ở thời hiện đại thường là nhân vật nắm quyền tài chính cấp quốc gia; ở cục diện nhỏ thì cũng được nắm giữ tài phú ở phương xa.

Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đồng độ tương hội thì mưu toan kiếm tiền chỉ phí sức, nếu kiếm được tiền cũng sinh hao tài, phá tán. Nếu gặp thêm Thiên Hình thì không nên làm nghề không chính đáng, nếu không sẽ dễ phạm pháp, có họa lao ngục.

Thất Sát đồng cung với Kình Dương chủ tranh đoạt; đồng cung với Đà La chủ chuốc đố kị; đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì hoạnh phát hoạnh phá.

Thất Sát hội sát tinh trùng trùng, còn gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, hoặc Văn Khúc Hóa Kị, chủ cuộc đời dễ bị trộm cướp.

Hễ Thất Sát ở cung Tài Bạch thì cung Điền Trạch ắt sẽ là Thái Âm; nếu Thái Âm lạc hãm, mà Thất Sát lại gặp các sao sát, hao, thì cần đề phòng hỏa tai hoặc chiến họa.

Thất Sát theo từng vị trí

Thất Sát độc tọa ở Tí hoặc Ngọ, đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Phủ", được cát hóa hoặc có Lộc Tồn đồng cung, thường được tiền của bất ngờ. Có điều tiền bất ngờ này không phải là tiền phi pháp. Trường hợp đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ tiền mạo hiểm, nạn tai, khó tích tụ.

Thất Sát ở Tí, Ngọ không có cát hóa và sao cát, cuộc đời ít nhất cũng một lần được tiền bất ngờ. Cần chú ý bảo tồn nguyên khí, bởi vì cơ hội khó có lại lần nữa. Vũ Khúc Hóa Kị thì sau khi phá tán, thất bại chỉ có từ từ bồi dưỡng nguyên khí; hơi nóng nảy, hấp tấp thì hoàn cảnh càng tệ thêm.

Thất Sát độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ", cũng chủ hoạnh phát; tính chất có thể tham khảo trường hợp Thất Sát ở Tí, Ngọ. Nhưng nếu Tử Vi Hóa Quyền thì vì lộng quyền mà dẫn đến thất bại.

Thất Sát độc tọa ở Dần, Thân ưa tụ hội với Tử Vi Hóa Khoa, Thiên Phủ Hóa Khoa, thì tuy không hoạnh phát nhưng sóng gió cũng nhỏ; hơn nữa về phương pháp kinh doanh làm ăn, người này thường có khuynh hướng lấy thủ làm công. Gặp "Lộc Mã giao trì" chủ cuộc đời ít nhất cũng có một lần thay đổi nghiêm trọng về sự nghiệp, mà thay đổi theo hướng tốt.

Thất Sát độc tọa ở Thìn hoặc Tuất, đối cung là "Liêm Trinh, Thiên Phủ", nếu được cát hóa và có sao cát cũng chủ dư giả; nhưng không nên đầu cơ hay cờ bạc, nếu không ắt sẽ phá tán, thất bại. Trường hợp hội Liêm Trinh Hóa Kị thì tiền bạc không ổn định, thu nhập nhiều thì chi tiêu cũng lớn, dễ bị trộm cướp; không có sát tinh mà có cát tinh hội hợp thì mức độ không nặng. Nếu gặp Liêm Trinh Hóa Lộc, trong đời dễ có tiền bất ngờ. Gặp Phá Quân Hóa Lộc thì sự nghiệp không chỉ một mối, nguồn tiền đến từ nhiều phương diện.

Thất Sát ở Thìn, Tuất hội Tham Lang Hóa Lộc, lúc ở vận hạn cát thường có tiền bất ngờ, nhưng khi vận hạn qua rồi lập tức tình hình xấu đi; lúc này chỉ nên cố gắng duy trì thành tựu đã đạt được, không nên vọng động muốn phát vượt lên, nếu không sẽ phá tán, thất bại.

Phá Quân ở cung Tài Bạch

Thất Sát mở cục diện bằng thế công; Phá Quân còn đi xa hơn, tự mình tìm ra những nguồn tiền mà người thường chưa từng nghĩ tới.

Phá Quân thủ cung Tài Bạch không giỏi quản lí tài chính, mà có tính chất tìm ra nguồn tiền mới. Phương thức tìm ra nguồn tiền mới của nó cũng khác với người bình thường. Nhưng sau khi tìm ra nguồn tiền mới thì người đi theo cũng rất nhiều. Có sát tinh thì dễ gây ra tranh chấp cực lớn; không có sát tinh thì tuy có người đi theo nhưng ảnh hưởng cũng không lớn. Thiên Cơ thủ cung Tài Bạch cũng có tính chất tương tự, chỗ khác nhau là cái Thiên Cơ được là cơ hội có sẵn, nhưng không có người hỏi tới, một khi hỏi tới thì xảy ra tranh chấp; khác với Phá Quân là tự tìm ra cơ hội.

Phá Quân thủ cung Tài Bạch thì nguồn tiền đến từ nhiều phương diện. Đồng cung với Hỏa Tinh cũng chủ hoạnh phát, nhưng tính chất hoạnh phát này khác với cục "Hỏa Tham", "Linh Tham". Tiền của Tham Lang có được là tiền bất ngờ, có tính chất bất kì; còn tiền của Phá Quân có được là nhờ tự tìm ra nguồn tiền mới mà có.

Phá Quân ưa đồng cung với Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Nếu bản thân Phá Quân Hóa Lộc ắt sẽ làm kiêm nghề, kiêm chức vụ để kiếm tiền; có sao lộc, đương nhiên chủ thu nhập dồi dào, cũng chủ nguồn tiền khá ổn định.

Phá Quân thủ cung Tài Bạch phần nhiều chủ nghề nghiệp chuyển biến rồi mới có thể giàu có. Dù gặp các sao sát, kị, sau khi chuyển nghề cũng có thể cải thiện hoàn cảnh. Nếu gặp "Lộc Quyền Khoa hội" thì sự chuyển biến sẽ xảy ra đột ngột. Cho nên lúc Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có "Lộc Quyền Khoa hội", rất ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, chủ cuộc đời gặp nhiều cơ hội.

Phá Quân có Kình Dương đồng cung cũng chủ hoạnh phát, nhưng hoạnh phát có ý vị tranh đoạt rất lớn, tức do tranh đoạt mà có. Vì vậy gây ra bất hòa, tranh chấp rất lớn; nếu có các sao không, kiếp, hình, hao, sẽ chủ được mau mất mau.

Phá Quân thủ cung Tài Bạch chủ phá tan trước hưng phát sau. Nhưng nếu không có cát hóa và sao cát hội, mà còn gặp sát tinh, thì sau khi phá tán, thất bại, muốn hưng phát trở lại cũng rất khó.

Phá Quân đồng cung với Vũ Khúc Hóa Kị thường cảm thấy thiếu năng lực tài chính. Nếu gắng gượng xoay sở, không những lấy đầu này đắp đầu kia, mà càng muốn cải sửa càng phá tán nhanh hơn.

Phá Quân theo từng vị trí

Phá Quân ở Tí hoặc Ngọ, đối cung là "Liêm Trinh, Thiên Tướng", rất ưa Liêm Trinh Hóa Lộc; lúc này Phá Quân ắt sẽ Hóa Quyền, chủ quyền lực và tiền bạc đều tăng, danh lợi song thu. Nhưng nếu Phá Quân không có sao lộc, chỉ gặp các sao phụ, tá, cát, mà sát tinh cũng không nặng, thì một khi nắm quyền lập tức hao tài, phá tán; cần chỉnh lí nghiệp vụ mới có thể khôi phục như cũ. Nếu có các sao sát, kị, không, kiếp, thì phá tài cực lớn, thường thường việc sắp thành lại hỏng. Trường hợp có cát hóa và sao cát thì có danh trước có lợi sau, tuy danh lớn hơn lợi nhưng cũng sẽ giàu có.

Phá Quân ở Dần hoặc Thân, đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Tướng", nếu Vũ Khúc Hóa Kị thì chủ "cọp mà ăn thức ăn của mèo", thường sẽ phá sạch tổ nghiệp rồi mới tạo dựng sự nghiệp mới, dù "Lộc Quyền Khoa hội" cũng vậy.

Phá Quân ở Dần, Thân, đối cung là Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", ắt sẽ có phúc ấm của cha ông, nhưng sẽ không giữ được. Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn" thì trái lại, chủ có vốn ít. Cả hai trường hợp đều sẽ phát triển, nhưng trường hợp trước phát triển lớn hơn. Gặp Hóa Kị (Tham Lang Hóa Kị là ngoại lệ) thì sau khi phát tài ắt sẽ hao tài, phá tán liền.

Phá Quân ở Dần, Thân thường thay đổi theo chiều hướng xấu. Dù có sao cát, nếu không có Lộc Tồn hay Hóa Lộc, cũng thường chủ vừa phát lên là bị thất bại.

Phá Quân ở Thìn hoặc Tuất là rơi vào "Thiên La, Địa Võng", đối cung là "Tử Vi, Thiên Tướng", cần phải có một lần đột phá mới thành công; dù hội cát hóa và sao cát cũng vậy. Rất ưa Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung, hoặc đối cung được Thiên Khôi, Thiên Việt giáp, thì cuộc đời gặp nhiều cơ hội phát triển hoặc sáng lập nên sự nghiệp mới.

Phá Quân ở Thìn, Tuất gặp các sao sát, kị, hình, thì tình hình càng lúc càng xuống thấp, cho nên cần phải xem xét kĩ đại vận hoặc lưu niên mà định thời cơ tiến thoái. Rất ngại có Đà La đồng độ, chủ có cơ hội đột phá nhưng cũng dễ thất bại. Đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì tiền bạc xoay chuyển rất khó khăn, cho nên rất không nên tự kinh doanh làm ăn; nhiều lúc trả tiền mua sắm cũng cần phải suy tính cẩn thận, có thể do đó mà thâm hụt tiền bạc.

Phá Quân ở ba cung Hợi, Tí, Sửu đều không nên có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, chủ nảy sinh phá tán, thất bại nghiêm trọng. Nếu gặp thêm các sao sát, hình, hao xung hội, sẽ chủ vỡ nợ, phá sản.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái