Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Phúc Đức, niềm vui tinh thần từ Vũ Khúc đến Phá Quân

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202629 phút đọc3 lượt đọc
Cung Phúc Đức, niềm vui tinh thần từ Vũ Khúc đến Phá Quân

Có người lấy chuyện kiếm tiền làm niềm vui, có người say mê âm nhạc, cầm kỳ thư hoạ, có người hôm nay có rượu thì hôm nay say. Cũng có người quyết định thật nhanh rồi day dứt mãi không thôi. Mỗi kiểu hưởng thụ ấy đều đã được báo trước bằng ngôi sao đóng ở cung Phúc Đức…


CÓ NGƯỜI SỐNG ĐỦ ĐẦY VẬT CHẤT MÀ LÒNG VẪN TRỐNG RỖNG, CÓ NGƯỜI CHẲNG LƯU TÂM ĐIỀU GÌ MÀ LẠI AN LẠC SUỐT ĐỜI. Ở cung Phúc Đức, mỗi chính tinh mang đến một kiểu niềm vui riêng: có kiểu vui trong tiền bạc, có kiểu vui trong âm nhạc, có kiểu vui trong những thú chơi phong nhã, và cũng có kiểu vui đi kèm day dứt khôn nguôi.

Vũ Khúc ở cung Phúc Đức

Vũ Khúc là sao tiền tài, nên khi thủ cung Phúc Đức thì sự hưởng thụ tinh thần ắt cũng lấy vật chất làm cơ sở; Vũ Khúc Hoá Lộc thì càng nặng; Tham Lang đồng độ cũng càng nặng.

Nếu Vũ Khúc Hoá Kỵ ở cung Phúc Đức thì kiếm tiền cũng là một sự hưởng thụ tinh thần; gặp sát tinh lại chủ về bủn xỉn, keo kiệt, tham lam. Nếu gặp các sao Thiên Nguyệt, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Đại Hao, thì có thể thân mang bệnh tật, hoặc đặc biệt nghiện một thứ gì đó ảnh hưởng đến sự hưởng thụ tinh thần. Phải phối hợp cung Tật Ách và cung Mệnh mà luận đoán.

Do theo đuổi vật chất, nên lúc Vũ Khúc ở cung Phúc Đức thường chủ về lao tâm tổn thần; dù bề ngoài sinh hoạt vật chất rất sung túc, nhưng về tinh thần thì trống rỗng. Nhất là tổ hợp “Vũ Khúc, Phá Quân”, chủ về cuộc đời không có lý tưởng, không có mục tiêu; gặp sát tinh thì càng thiếu hưởng thụ tinh thần, còn không chịu yên tĩnh, lấy bôn ba bận rộn làm niềm vui.

Vũ Khúc ưa gặp Liêm Trinh Hoá Lộc hay Tham Lang Hoá Lộc tương hội hoặc đồng độ. Trường hợp trước chủ về tinh thần vui vẻ, trường hợp sau chủ về lấy thù tạc làm niềm vui. Vì vậy trường hợp trước thiên về tinh thần hơn; trường hợp sau thì thiên nặng về vật chất.

Vũ Khúc gặp Liêm Trinh Hoá Kỵ tương hội thì thường cảm thấy tinh thần trống rỗng; gặp sát tinh thì có trục trặc về tâm trạng.

Vũ Khúc gặp Liêm Trinh Hoá Kỵ hội hợp thì suốt ngày cập rập không yên, tuy giàu có mà vẫn sợ bị túng thiếu.

Vũ Khúc có các sao đào hoa đồng độ, nếu đồng thời gặp thêm các sao khoa văn thì ưa quyến luyến chuyện trăng gió, lấy đó làm sự hưởng thụ tinh thần; Vũ Khúc gặp Tham Lang đồng độ thì càng đúng.

Vũ Khúc đồng cung với Thiên Trù, Hoả Tinh ở cung Phúc Đức thì giỏi bình phẩm về ẩm thực. Có Kình Dương, Đà La đồng độ là người thích ăn uống; tinh hệ “Vũ Khúc, Phá Quân” đồng độ ở cung Phúc Đức thì càng đúng.

Vũ Khúc, Thiên Phủ và Vũ Khúc, Phá Quân

“Vũ Khúc, Thiên Phủ” gặp các sao sát, kỵ thì có tính chủ quan; gặp các sao phụ tá cát thì hứng thú về thương nghiệp, giỏi quản lý.

Tính chất cơ bản của “Vũ Khúc, Thiên Phủ” là thân nhàn nhưng lao tâm. Nhưng nếu có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ thì không những nội tâm hay lo lắng, buồn rầu, mà còn vất vả.

“Vũ Khúc, Phá Quân” chủ về nội tâm bối rối, lại còn bôn ba bất an; gặp sát tinh thì càng nặng, cuộc đời khốn khó.

Nhưng nếu “Vũ Khúc, Phá Quân” đồng cung với các sao khoa văn thì đương số là người có kiến giải đặc biệt, sở trường nhất là phá bỏ nguyên tắc khô cứng.

Vũ Khúc, Thất Sát, Thiên Tướng, Tham Lang

“Vũ Khúc, Thất Sát” đồng độ ở cung Phúc Đức thì bôn ba bận rộn; gặp sát tinh thì thân tâm đều vất vả; gặp Thiên Mã thì tông chỉ bất định, làm việc trồi sụt thất thường.

“Vũ Khúc, Thất Sát” có Thiên Trù đồng độ thì nghiên cứu ẩm thực ắt có sở trường.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” ở cung Phúc Đức chủ về dễ xuôi theo dòng nước; gặp cát tinh mới có thể thừa thế, khéo lợi dụng cơ hội.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” rất ngại đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, chủ về quá không tưởng, có thể ngồi nói mà không chịu làm.

“Vũ Khúc, Tham Lang” chủ về chìm đắm trong vật dục; có các sao đào hoa đồng độ thì ưa quyến luyến chuyện trăng gió, có các sao khoa văn đồng độ cũng vậy. Nếu có các sao đào hoa và các sao khoa văn cùng bay đến, tuy trăng gió nhưng khá cao thượng.

“Vũ Khúc, Tham Lang” gặp Hoả Tinh đồng độ thì chủ về theo đuổi khoái lạc, đúng kiểu hôm nay có rượu thì hôm nay say.

Thiên Đồng ở cung Phúc Đức

Vũ Khúc đo niềm vui bằng vật chất, còn Thiên Đồng lại tìm thấy niềm vui trong tiếng nhạc và những điều thanh nhã.

Cung Phúc Đức ưa gặp Thiên Đồng, chủ về sinh hoạt tinh thần phong phú, lại ưa thích âm nhạc, nhưng có lúc không chủ về sinh hoạt vật chất sung túc.

Thiên Đồng Hoá Lộc có lúc thất thà quá đáng; nhập miếu thì tốt; lạc hãm thì chủ về muốn làm gì là làm.

Thiên Đồng ưa gặp các sao khoa văn hội hợp, chủ về sự hưởng thụ tinh thần có ý vị thanh nhã.

Nếu gặp các sao sát, hình, thì sự hưởng thụ tinh thần chỉ là tự thoả mãn, có thể thành nghiện, thậm chí có lúc chìm đắm trong thú vui không lành mạnh.

Thiên Đồng Hoá Kỵ thường chủ về thị phi rối rắm, nhưng phải có tính chất tự tìm phiền não. Vì vậy rất kỵ có Đà La, Linh Tinh cùng bay đến.

Thiên Đồng Hoá Kỵ, lại gặp các tạp diệu Thiên Hình, Thiên Nguyệt, Thiên Diêu, sao không, Âm Sát, Thiên Hư đồng độ hoặc hội hợp, lại có thêm Thiên Đức, Nguyệt Đức, có lúc là biểu trưng cho tình trạng thiểu năng trí tuệ hoặc chứng tự kỷ.

Thiên Đồng Hoá Quyền thì tâm trạng ổn định, còn có thể chủ động nắm vững khuynh hướng hưởng thụ tinh thần của mình; gặp các sao khoa văn thì tính chất rất cao thượng, thanh nhã.

Trường hợp Thiên Đồng Hoá Kỵ tuy có nguy cơ bị thiểu năng trí tuệ, nhưng nếu không có các sao sát, hình đồng độ, mà còn gặp các sao phụ tá cát, hoặc gặp Thiên Lương vây chiếu, lại gặp thêm các sao khoa văn, thì chủ về người này thông minh mẫn tiệp.

Thiên Đồng có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì tâm trạng không ổn định. Dù có sao cát hội hợp thì cũng thường không tưởng, hay nhiều ảo tưởng; nếu có Đà La, Linh Tinh hội hợp thì thường chìm đắm trong ảo tưởng, thành một thói tật kỳ lạ, khiến người ta khó mà hiểu được.

Thiên Đồng, Cự Môn

Tổ hợp “Thiên Đồng, Cự Môn”, Cự Môn có thể “che ám” tinh thần của Thiên Đồng, nên sự hưởng thụ tinh thần thường có khía cạnh u ám, đặc biệt dễ luỵ vì tình, hoặc có tình yêu không bình thường, khiến đau khổ nội tâm.

“Thiên Đồng, Cự Môn” thủ cung Phúc Đức mà Cự Môn Hoá Kỵ thì đau khổ nội tâm càng nặng. Trường hợp Thiên Đồng Hoá Kỵ, tuy đau khổ nhưng lại lấy đau khổ làm niềm vui. Nếu Thiên Đồng Hoá Lộc thì vì nỗi khổ đau thầm kín mà phiền não; Cự Môn Hoá Lộc thì tính chất đau khổ nội tâm khá ôn hoà.

Thiên Đồng, Thiên Lương

Tổ hợp “Thiên Đồng, Thiên Lương” trong các tình hình thông thường đều chủ về an lạc. Nhưng nếu gặp Thiên Mã, Hoả Tinh, thì niềm an lạc này là do chẳng lưu tâm điều gì, nên có thể biến thành tính lười biếng.

“Thiên Đồng, Thiên Lương” thủ cung Phúc Đức mà Thiên Lương Hoá Khoa thì thông minh, quyết đoán, còn chủ về ngoài mềm trong cứng.

Tổ hợp “Thiên Đồng, Thiên Lương” không nên gặp quá nhiều sao phụ tá; nếu không sẽ thiếu năng lực quyết đoán, thiếu tính độc lập.

“Thiên Đồng, Thiên Lương” thủ cung Phúc Đức mà Thiên Lương Hoá Lộc thường chủ về do dự, hay phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.

Thiên Đồng, Thái Âm

Tổ hợp “Thiên Đồng, Thái Âm” trong các tình hình thông thường cũng chủ về an lạc. Có điều, nếu Thiên Đồng Hoá Kỵ, hoặc Thái Âm Hoá Kỵ, lại gặp sao không, Hoả Tinh, Linh Tinh, Thiên Nguyệt, thì chủ về thiểu năng trí tuệ.

“Thiên Đồng, Thái Âm” đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh thường vì không lưu tâm mà chuốc phiền não, có “điểm mù” về tư tưởng, dễ vì tình cảm mà mất sáng suốt, hoặc có khuynh hướng đồng tính luyến ái.

“Thiên Đồng, Thái Âm” Hoá Lộc mới chủ về cuộc đời yên ổn.

Liêm Trinh ở cung Phúc Đức

Niềm an lạc của Thiên Đồng đến từ sự buông lỏng, còn Liêm Trinh thì ngay cả lúc vui cũng tự tìm việc cho mình bận rộn.

Liêm Trinh thủ cung Phúc Đức chủ về bận rộn, vất vả; dù có thể tự thoả mãn, nhưng lạc thú vẫn từ sự bận rộn, vất vả mà ra; thường còn có hứng thú với hội hoạ và nhiếp ảnh.

Liêm Trinh có Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao đồng độ thì buồn phiền, nóng nảy, bất an, thân tâm đều vất vả, hoặc không có việc gì đáng mà cứ phải bôn ba bận rộn.

Liêm Trinh Hoá Lộc, không có các sao khoa văn đồng độ, thì tình cảm bình dị, có thì phong thái cao nhã, đều có thể hưởng lạc thú trong cầm kỳ thư hoạ, hoặc có tính dí dỏm.

Liêm Trinh Hoá Lộc đồng cung với các sao đào hoa thì ưa hưởng thụ trăng gió, nhưng khác với ý vị tửu sắc kỳ tình của Tham Lang.

Liêm Trinh Hoá Kỵ chủ về hay lo lắng, buồn rầu, lo nghĩ nhiều, hay thần kinh quá mẫn cảm, có thể biến thành chứng bệnh rối loạn nhịp tim, mất ngủ. Liêm Trinh Hoá Kỵ, nếu có các sao đào hoa hội hợp, thì trong khuê phòng có hành vi biến thái; nếu gặp thêm sao không thì chủ về đồng tính luyến ái; gặp các sao sát, hình thì bị chứng cuồng dâm hay khổ dâm.

Liêm Trinh Hoá Kỵ có các sao khoa văn đồng độ thì cũng có khuynh hướng nghệ thuật, mẫn cảm với cái đẹp, hoặc thành thú nghiện phong nhã một thứ gì đó, nhưng tính hay phê bình, không thể thuận theo hoàn cảnh.

Tinh hệ Liêm Trinh ở cung Phúc Đức có hai tính chất khác nhau hoàn toàn. Các trường hợp “Liêm Trinh, Thiên Phủ”, “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, “Liêm Trinh, Tham Lang” đều chủ về tự thoả mãn; còn các trường hợp “Liêm Trinh, Phá Quân”, “Liêm Trinh, Thất Sát” và Liêm Trinh độc toạ đều chủ về hay lo toan, nghĩ ngợi.

Liêm Trinh, Thiên Phủ

“Liêm Trinh, Thiên Phủ” thủ cung Phúc Đức mà Thiên Phủ là “kho phủ đầy ắp” thì cuộc đời tự thoả mãn, có thể an nhàn trong sự bận rộn, hoặc tuy bận rộn vất vả nhưng vẫn hưởng nhiều lạc thú. Nếu thêm sát tinh thì ưa bận rộn, vất vả mà thực ra chẳng có việc gì đáng.

“Liêm Trinh, Thiên Phủ” thủ cung Phúc Đức mà Thiên Phủ Hoá Khoa thì bề ngoài có vẻ bình dị, nhưng thực ra lòng tự tôn rất nặng.

“Liêm Trinh, Thiên Phủ” thủ cung Phúc Đức mà Thiên Phủ là “kho lộ”, “kho trống” thì có mặc cảm tự ti; lại gặp Thiên Diêu, Thiên Nguyệt thì tham lam.

Liêm Trinh, Thiên Tướng

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ưa “Tài ấm giáp ấn”, khí chất đương nhiên bình hoà; nếu bị “Hình kỵ giáp ấn” thì ý chí bạc nhược.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ưa Văn Xương và Văn Khúc giáp cung, chủ về thông minh; còn ưa đồng cung với các sao khoa văn, chủ về khí chất cao thượng, thanh nhã, cảm tính nghệ thuật cực mạnh, còn ưa đàm luận chính trị, hoặc tham gia chính sự.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” thủ cung Phúc Đức, nếu bị Hoả Tinh và Linh Tinh giáp cung, Kình Dương và Đà La giáp cung, thì tâm lý cảm thấy bị áp bức, do đó có những hành vi không thể hiểu nổi.

Liêm Trinh, Tham Lang

“Liêm Trinh, Tham Lang” gặp các sao khoa văn thì xem trọng sự hưởng thụ tinh thần; Hoả Tinh và Linh Tinh giáp cung, Kình Dương và Đà La giáp cung, hoặc Đà La đồng độ, thì xem trọng sự hưởng thụ vật chất. Nếu tính chất của hai trường hợp này không tốt, như có Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao đồng độ, lại gặp Hoá Kỵ, thì có thể thành thói tật kỳ lạ.

“Liêm Trinh, Tham Lang” có Hoả Tinh đồng độ thì không có việc gì đáng mà cứ phải bôn ba bận rộn, hoặc ưa thù tạc một cách vô vị.

Liêm Trinh, Phá Quân và Liêm Trinh, Thất Sát

“Liêm Trinh, Phá Quân” ở cung Phúc Đức chủ về vất vả. Phá Quân cát hoá thì vất vả mà có thành tựu; nếu Liêm Trinh Hoá Kỵ thì vất vả mà chẳng được gì.

“Liêm Trinh, Phá Quân” có sát tinh thì tính hay thay đổi; không có sát tinh mới có năng lực quyết đoán.

“Liêm Trinh, Thất Sát” chủ về suy nghĩ không được cẩn thận, mà cứ lo toan nghĩ ngợi không ngừng; gặp sát tinh thì càng nặng. Liêm Trinh Hoá Kỵ còn dễ vì những chuyện linh tinh mà lao tâm lo lắng; không có sát tinh mà có các sao khoa văn đồng độ, tinh thần mới dễ quân bình.

“Liêm Trinh, Thất Sát” chủ về tư tưởng tiêu cực, việc gì cũng ưa suy nghĩ từ mặt xấu.

Thiên Phủ ở cung Phúc Đức

Sau những lo toan không dứt của Liêm Trinh, kho lẫm Thiên Phủ đem đến một nếp nghĩ cẩn thận và điềm tĩnh hơn.

Thiên Phủ ở cung Phúc Đức chủ về là người cẩn thận. Có điều, nếu đồng cung với Đà La thì bụng dạ hẹp hòi; đồng cung với Hoả Tinh thì thường lo toan nghĩ ngợi không cần thiết; đồng cung với Kình Dương thì đa nghi; đồng cung với Linh Tinh thì trước khi ra quyết định hay lo lắng; đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì không chịu ngồi yên, lúc nào cũng tìm việc để làm.

Thiên Phủ Hoá Khoa thì trọng lời hứa; gặp thêm sát tinh thì thân an mà tâm vất vả, lao tâm nhiều là do xem trọng vinh dự.

Thiên Phủ ưa hội hợp các sao phụ tá cát, chủ về nội tâm yên tĩnh, còn có năng lực quyết đoán; gặp sao lộc thì sở trường về vạch kế sách.

Thiên Phủ gặp các sao khoa văn thì tâm tính nóng vội, nhưng thông minh mà đôn hậu.

Thiên Phủ có Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp thì cao thượng, độ lượng.

Thiên Phủ có Thiên Diêu đồng độ thì ưa giở thủ đoạn; có Thiên Hình đồng độ thì có tính ưa soi bói, bới móc; có Thiên Nguyệt đồng độ thì chủ về hướng nội.

Thiên Phủ ở hai cung Mão, Dậu thì tính chất thân an nhàn mà lao tâm rất rõ rệt. Nếu có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ hoặc giáp cung, càng chủ về thân tâm đều không yên tĩnh.

Thiên Phủ ở hai cung Mão, Dậu, có các sao đào hoa đồng độ, thì hiếu sắc; ưa giấu tính hiếu sắc.

Thiên Phủ ở hai cung Sửu, Mùi thì có tính xung động hơn trường hợp ở hai cung Mão, Dậu. Nhưng nếu có Đà La đồng độ thì dễ sinh lòng thay đổi, vì vậy mà tự chuốc buồn phiền.

Thiên Phủ ở hai cung Sửu, Mùi, nếu là “kho lộ”, “kho trống”, thì thích giở trò.

Thiên Phủ ở hai cung Tỵ, Hợi, nếu là “kho lộ”, “kho trống”, thì tâm chí bạc nhược; có sao lộc thì cao thượng, độ lượng, còn có tài lãnh đạo cực mạnh. Các trường hợp thông thường thì chủ về có chí tiến thủ khá mạnh.

Thái Âm ở cung Phúc Đức

Nếu Thiên Phủ giữ tâm bằng sự cẩn trọng, thì Thái Âm giữ tâm bằng sự tĩnh lặng của ánh trăng.

Thái Âm chủ về “tĩnh”, nên lúc ở cung Phúc Đức thường chủ về ưa yên tĩnh. Dù Thái Âm lạc hãm, có sát tinh, cũng chủ về người này có thể yên tĩnh trong chỗ náo nhiệt, hoặc có thể an nhàn trong lúc bận rộn. Có điều, bất kể nhập miếu hay lạc hãm, đều chủ về lực cạnh tranh không mạnh.

Thái Âm ở cung Phúc Đức, nhập miếu, chủ về có sự hưởng thụ tinh thần, lại còn lạc quan. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hoặc tương hội, thì có thể là lạc quan do chẳng quan tâm chuyện gì, hoặc hay nằm mơ giữa ban ngày, say sưa trong cảnh mộng; gặp thêm sát tinh, Thiên Hư, Đại Hao, Thiên Nguyệt, Thiên Hình, Thiên Diêu thì có thể biến thành chứng tự kỷ. Nếu còn gặp Thiên Đồng Hoá Kỵ đồng độ thì chủ về thiểu năng trí tuệ, hoặc tâm lý không bình thường.

Thái Âm nhập miếu ở cung Hợi, đối nhau với Thiên Cơ, nên sở trường về kế hoạch; có sát tinh thì hay tính toán.

Thái Âm lạc hãm ở cung Mão, cung Thiên Di là Thiên Lương đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, cũng chủ về sở trường về kế hoạch; có sát tinh thì hay dùng kế đắc nhân tâm.

“Thái Dương, Thái Âm” đồng độ thủ cung Phúc Đức, nếu người sinh ban ngày thì chủ về chất phác; người sinh ban đêm thì chủ về hưởng thụ, sinh hoạt có phẩm chất. Thái Dương Hoá Lộc thì cởi mở; Thái Âm Hoá Lộc thì thâm trầm.

Thái Âm lạc hãm, có Hoả Tinh đồng độ, thì tính nóng vội, hay lo lắng; Linh Tinh đồng độ thì tâm trạng không ổn định; Kình Dương đồng độ thì bận rộn, vất vả mà ít thành tựu; Đà La đồng độ thì bụng dạ hẹp hòi; Thái Âm nhập miếu chỉ chủ về không thoả mãn, và vì không thoả mãn mà bận rộn, vất vả.

Thái Âm nhập miếu đồng cung với các sao khoa văn thì tính chất hưởng thụ khá cao thượng thanh nhã. Nếu Thái Âm lạc hãm thì tính tình ưa màu mè, không thực; gặp sao không thì nội tâm cô tịch.

Thái Âm ở hai cung Thìn, Tuất chủ về giỏi quyền biến.

Thái Âm Hoá Kỵ, không gặp sát tinh, cũng chủ về nội tâm bất an; gặp sát tinh thì không những nội tâm bất an mà thân cũng vất vả, không yên ổn.

Tham Lang ở cung Phúc Đức

Ánh trăng ưa tĩnh, còn Tham Lang thì chỉ thấy mình đang sống khi được say sưa trong thú vui.

Tham Lang ở cung Phúc Đức chủ về phóng túng; gặp sát tinh đương nhiên hưởng lạc, phóng túng; dù gặp cát tinh hội hợp cũng chủ về say sưa trong thú vui. Tính chất của thú vui có thể xem các tổ hợp sao cụ thể mà định. Gặp các sao khoa văn thì cao thượng, thanh nhã; gặp các sao đào hoa thì đam mê tửu sắc, cờ bạc; gặp sao không và Hoa Cái thì ưa thích triết học, tôn giáo.

Tham Lang Hoá Lộc làm tăng sắc thái ham muốn hưởng thụ vật chất. Tham Lang Hoá Kỵ thì không có việc gì đáng mà cứ phải bôn ba bận rộn, hay giao tế thù tạc một cách vô vị, do bận rộn thù tạc làm hao tổn tâm lực, khiến việc sắp thành lại hỏng.

Tham Lang Hoá Lộc hay Hoá Quyền thì ưa đấu cơ; nhất là cách “Hoả Tham”, “Linh Tham” thì càng đúng.

Cung Phúc Đức gặp cách cục “Phiếm thuỷ các sao đào hoa” hay “Phong lưu thái trượng” thì chủ về hiếu sắc. Nhưng nếu có Hoả Tinh, Thiên Hình tụ hội thì chủ về thích kinh doanh những nghề nghiệp có sắc thái đào hoa, hoặc có sắc thái mạo hiểm để cầu bạo phát bạo lợi; Tham Lang Hoá Lộc thì càng đúng.

Tham Lang hội các sao đào hoa thì cuộc đời phong lưu, có tài nghệ đặc biệt khiến người khác giới chao đảo.

Tham Lang ở cung Ngọ thì hiếu danh. Tham Lang ở cung Thân thì hám lợi. Tham Lang ở hai cung Thìn, Tuất thì thích đấu cơ; gặp cát tinh càng đúng.

Tham Lang đồng cung với Kình Dương, Đà La thì cuộc đời gặp nhiều tình huống rối rắm, bất hoà, tranh chấp, ưa giao du, nhưng vì giao du mà chuốc thị phi, buồn phiền.

Tham Lang đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh thì tính nóng vội; gặp sao lộc thì thích hào nhoáng bề ngoài; nếu đồng thời gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, sau trung niên sẽ trở lại cuộc sống bình đạm.

Tham Lang đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc thì có khuynh hướng về nghệ thuật, nhưng thiên về động thái.

Cự Môn ở cung Phúc Đức

Tham Lang tiêu hao mình trong thú vui, còn Cự Môn lại tiêu hao mình trong những lần hối hận.

Cự Môn đến cung Phúc Đức, ý nghĩa cơ bản là tổn thần. Nguyên nhân là vì thường đưa ra quyết định một cách dễ dàng, sau đó lại hối hận, hoặc việc gì cũng thích đích thân làm, bất kể việc lớn hay nhỏ cũng đều hỏi tới.

Cự Môn là ám tinh, vì vậy bất kể đồng độ hay đối nhau với sao nào cũng sẽ biểu hiện mặt “u ám” của nó. Cho nên lúc Thiên Cơ bị Cự Môn ảnh hưởng thì hay thay đổi quyết định giữa đường, hoặc thường bỏ dở nửa chừng, sau đó hối tiếc. Lúc Thái Dương bị Cự Môn ảnh hưởng thì biểu hiện ở chỗ việc gì cũng muốn đích thân làm, hoặc vì chuyện nhỏ mà lãng phí tinh thần. Lúc Thiên Đồng bị Cự Môn ảnh hưởng thì biểu hiện ở chỗ gặp chuyện chẳng lưu tâm, nhưng sau đó hối hận.

Cự Môn Hoá Lộc hay Hoá Quyền thì việc lớn việc nhỏ đều hỏi tới, lại rất khó tiếp nhận ý kiến của người khác, việc gì cũng theo chủ kiến của mình; Cự Môn Hoá Kỵ thì thường hay hối tiếc, lại còn theo đuổi lý tưởng một cách quá đáng.

Cự Môn gặp Thái Dương Hoá Kỵ đồng độ hoặc đối nhau, do chuyện gì cũng đích thân làm nên chuốc oán hận. Nếu Thái Dương Hoá Lộc, Hoá Quyền hay Hoá Khoa, tuy lao tâm khổ tứ, hao tổn tinh thần, mà vẫn có thể hưởng thụ tinh thần.

Cự Môn gặp Thiên Cơ Hoá Kỵ đồng độ hoặc đối nhau thì tính hay hối tiếc cực nặng, khiến quan hệ nhân tế không được tốt. Thiên Cơ Hoá Lộc, Hoá Quyền hay Hoá Khoa thì hay bộc lộ sự hối tiếc về trách nhiệm.

Cự Môn gặp Thiên Đồng Hoá Kỵ đồng độ hoặc đối nhau thì nội tâm thường cảm thấy sầu khổ, hoặc dễ rơi vào lưới tình mà đau khổ. Thiên Đồng Hoá Lộc thì chủ về theo đuổi sự hưởng thụ tinh thần.

Cự Môn gặp sát tinh thì lao tâm khổ tứ, vất vả, tiến thoái do dự, còn tự chuốc áp lực thị phi. Gặp cát tinh cũng chủ về theo đuổi vật dục, và về mặt tinh thần thì không vui vẻ. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì phần nhiều là không tưởng.

Thiên Tướng ở cung Phúc Đức

Cự Môn dằn vặt với chính mình, còn Thiên Tướng thì chịu tác động mạnh từ những ngôi sao vây quanh.

Thiên Tướng thủ cung Phúc Đức bị ảnh hưởng của các sao hội hợp rất nặng, cũng bị ảnh hưởng của các sao giáp cung.

Thiên Tướng đối nhau với “Liêm Trinh, Phá Quân” thì rất có lòng chính nghĩa và lòng cảm thông. Không gặp sát tinh thì khó bị kích động; không gặp Văn Xương, Văn Khúc thì tình cảm và lý trí quân bình.

Nếu Liêm Trinh được cát hoá thì tình cảm nặng hơn lý trí; nếu Phá Quân được cát hoá thì lý trí nặng hơn tình cảm. Liêm Trinh Hoá Kỵ thì tình cảm bị tổn thương.

Thiên Tướng đối nhau với “Tử Vi, Phá Quân” là người rất hay phản đối; gặp sát tinh thì dễ kích động, mà còn không gánh vác trách nhiệm; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì biểu hiện ôn hoà, mà còn có tinh thần trách nhiệm. Nếu Tử Vi Hoá Quyền thì khá kích động, nhưng tinh thần trách nhiệm rất cao; Tử Vi Hoá Khoa thì cực kỳ xem trọng danh dự; Phá Quân cát hoá càng chủ về lý trí.

Thiên Tướng đối nhau với “Vũ Khúc, Phá Quân” thì rất có tinh thần trách nhiệm, nhưng gặp việc lại thiếu chủ trương, vì vậy dễ bị người ta xúi giục; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì tình hình này càng nặng; gặp sát tinh ít thì có thể kích phát ý chí của bản thân đương số; gặp sát tinh nặng thì dễ vì người khác mà xả thân; gặp Vũ Khúc được cát hoá thì thiên về hưởng thụ vật chất hơn là hưởng thụ tinh thần, năng lực quyết đoán cũng khá tốt; Vũ Khúc Hoá Kỵ thì vì tiền mà mất nghĩa.

Thiên Tướng được “Tài ấm giáp ấn” thì hay có tính ỷ lại; bị “Hình kỵ giáp ấn” thì hay buồn rầu, lo nghĩ nhiều.

Thiên Tướng có tứ sát tinh hội hợp thì việc gì cũng sinh nhiều phiền phức, chướng ngại; có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp thì không tưởng, ngồi nói mà không làm.

Thiên Tướng hội Thiên Phủ thuộc loại “kho lộ”, “kho trống” thì cuộc đời hay bị người ta đả kích; nếu hội Thiên Phủ có sao lộc thì tự cảm thấy đủ. Thiên Tướng có sao lộc thì sinh hoạt tinh thần phong phú.

Thiên Lương ở cung Phúc Đức

Thiên Tướng sống bằng trách nhiệm với người khác, còn Thiên Lương hướng về sự thanh cao của chính mình.

Thiên Lương chủ về sang quý thanh cao, vì vậy lúc ở cung Phúc Đức thì chủ về xem trọng sự hưởng thụ tinh thần. Hội hợp Thái Dương nhập miếu thì Thái Dương có thể giải tính “cô kỵ” của Thiên Lương, đương nhiên sinh hoạt tinh thần sẽ phong phú.

Thiên Lương Hoá Lộc thì tự chuốc đố kỵ; Thiên Lương Hoá Quyền thì lòng tự tôn cực nặng; Thiên Lương Hoá Khoa thì thông minh, mẫn tiệp, hợp nghiên cứu học thuật. Có Thiên Vu đồng độ thì tư tưởng siêu thoát; có Hoa Cái đồng độ thì có khuynh hướng triết lý; hai trường hợp vừa kể nếu gặp thêm sao không thì khó mà hiểu được tư tưởng của người này.

Thái Dương lạc hãm hội hợp với Thiên Lương thì không thích nhàn rỗi, thường tự chuốc bận rộn, vất vả; gặp cát tinh thì hay bận rộn làm việc công ích. Nếu cát hung lẫn lộn, Thiên Lương không được cát hoá mà hội Cự Môn Hoá Kỵ thì lại là đạo đức giả.

Thiên Lương gặp Thiên Đồng đồng cung hay vây chiếu thì chủ về lạc thiên tri mệnh. Thiên Đồng Hoá Kỵ thì thiếu chủ trương, cuộc đời trôi nổi, không ổn định.

Thiên Lương ở ba cung Tỵ, Hợi, Thân, gặp Thiên Mã, Địa Không, Địa Kiếp, thì cuộc đời trôi nổi, bất an, không ổn định một nghề, thường sinh lòng thay đổi, gây ảnh hưởng đến sự nghiệp; gặp các sao sát, kỵ thì lại chủ về thiếu thực tế.

Thiên Lương gặp Thiên Cơ đồng độ hoặc vây chiếu thì lao tâm tổn thần. Thiên Cơ Hoá Kỵ thì phần nhiều có cuộc sống bất an, gặp việc thì thiếu chủ trương.

Thiên Lương nhập miếu thì cuộc đời an nhàn, lại có phong thái danh sĩ, không ưa làm chuyện tầm thường. Nếu Thiên Lương ở hãm địa thì sự an nhàn ấy nhuyễn hoá thành lười biếng; gặp các sao khoa văn thì càng nặng.

Thiên Lương đồng cung với Hoả Tinh thì hay buồn phiền, nóng nảy, bất an; có Linh Tinh đồng độ thì tư tưởng có nhiều mặt u ám; có Đà La đồng độ thì thường tự chuốc buồn phiền; có Kình Dương đồng độ, không có sao cát thì chuốc tranh chấp thị phi, có sao cát thì hiếu học, suy nghĩ thận trọng; có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì lý tưởng quá cao.

“Thái Dương, Thiên Lương” có các sao sát, kỵ, hình, hao và Thiên Nguyệt hội hợp thì dễ có thú vui không lành mạnh.

Thất Sát ở cung Phúc Đức

Thiên Lương tìm sự thanh cao, còn Thất Sát thì mang trong lòng một lý tưởng lớn luôn chờ thời.

Thất Sát ở cung Phúc Đức, nhập miếu, tuy có lý tưởng nhưng lại bất lợi về hôn nhân, vì vậy nên kết hôn muộn. Thất Sát lạc hãm thì tư tưởng có khuynh hướng tiêu cực.

Thất Sát có lý tưởng thiên nặng lợi ích cá nhân, do đó thường mang tâm trạng có tài mà không gặp thời. Nếu gặp các sao sát, kỵ thì lòng đầy oán trách, có thể biến thành kích động.

Thất Sát không ưa Liêm Trinh Hoá Kỵ, chủ về gặp trắc trở, bất an trong tình cảm, lại còn có nhiều hành vi vô vị; gặp Vũ Khúc Hoá Kỵ thì nội tâm hay lo lắng.

Nữ mệnh có Thất Sát ở cung Phúc Đức cũng bất lợi về hôn nhân, nên kết hôn muộn, hoặc làm nhị phòng hay kế thất; gặp các sao sát, kỵ thì càng nặng.

Thất Sát gặp Vũ Khúc Hoá Kỵ đồng độ hoặc đối nhau thì hôn nhân cũng bất lợi, thường bị hình khắc, sinh ly, hoặc người phối ngẫu cơ thể hư nhược, nhiều bệnh; gặp sát tinh thì càng nặng.

Thất Sát ở cung Phúc Đức thường mạo muội đưa ra quyết định; gặp Vũ Khúc đồng độ hoặc vây chiếu thì suy nghĩ nông cạn; có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ thì càng nặng, sau khi đưa ra quyết định thì lo lắng, hồ nghi.

Thất Sát thủ cung Phúc Đức thì ưa bận rộn, vất vả, không được hưởng phúc thanh nhàn; gặp Tử Vi đồng cung hay vây chiếu thì càng nặng. Nếu đối cung là “Tử Vi, Thiên Phủ” mà Tử Vi Hoá Quyền thì việc gì cũng ưa đích thân làm, nhưng thường là đầu voi đuôi chuột; nếu Thiên Phủ Hoá Khoa thì hay do dự, thiếu quyết đoán, lại chủ về lý tưởng quá cao, không thể thực hiện.

Thất Sát đối nhau với “Liêm Trinh, Thiên Phủ” thì bận rộn, vất vả, mà còn ưa tính toán, lo toan cho người khác; Liêm Trinh Hoá Lộc thì càng nặng. Thất Sát đối nhau với Thiên Phủ thuộc loại “kho lộ”, “kho trống” thì nội tâm hay lo lắng, buồn rầu; nếu là “kho phủ đầy ắp” thì chủ về phúc hậu.

Phá Quân ở cung Phúc Đức

Cuối cùng là Phá Quân, ngôi sao muốn đạp đổ hiện trạng, và tâm hồn của nó cũng vì thế mà ít khi được yên.

Phá Quân thủ cung Phúc Đức, nhập miếu thì rất quyết đoán; lạc hãm thì nhiều thành kiến, thiếu quyết đoán. Cả hai trường hợp đều chủ về ưa đích thân làm, lao tâm lao lực nhưng không từ chối, nhưng dễ sinh lòng thay đổi.

Phá Quân đồng cung với các sao sát, kỵ, lại gặp Thiên Hình, Âm Sát, Đại Hao, Thiên Nguyệt, thì dễ mắc bệnh mạn tính, dây dưa khó lành, làm ảnh hưởng đến sự hưởng thụ tinh thần.

Phá Quân đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh thì nội tâm luôn cảm thấy bồn chồn, lo lắng; gặp Kình Dương, Đà La đồng độ thì hay hối tiếc, thường thay đổi chủ ý; gặp Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì nhiều không tưởng mà ít thực hiện.

Phá Quân không ưa Văn Xương, Văn Khúc đồng độ; nếu gặp thêm sát tinh thì giả dối; không gặp sát tinh thì hay do dự, hồ nghi.

Phá Quân đối nhau với “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, trong các tình hình thông thường thì ít lo nghĩ; chỉ trường hợp Liêm Trinh Hoá Kỵ thì suốt ngày lo lắng, bất an.

Phá Quân đối nhau với “Vũ Khúc, Thiên Tướng” thì việc gì cũng lao tâm lao lực, không tin tưởng giao cho người khác; nếu Vũ Khúc Hoá Kỵ thì lo nghĩ buồn phiền, mà việc gì cũng hay tráo trở.

Phá Quân đối nhau với “Tử Vi, Thiên Tướng”, trong các tình hình thông thường đều chủ về ái ngã. Nếu Tử Vi Hoá Khoa thì tính tự tin cực mạnh; Tử Vi Hoá Quyền thì xem mình là trung tâm một cách quá đáng.

Phá Quân gặp các sao phụ tá cát thì nhiều sáng kiến.

Phá Quân Hoá Lộc hay Hoá Quyền, lại gặp Hoả Tinh, Kình Dương, thì quá tham vọng.

Phá Quân đối nhau với Thiên Tướng được “Tài ấm giáp ấn” thì khí chất cao thượng, thanh nhã. Phá Quân đối nhau với Thiên Tướng bị “Hình kỵ giáp ấn” thì hay lo nghĩ một cách vô vị, có cảm giác bị áp bức, thường muốn đột phá hiện trạng nhưng không thể thực hiện.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái