Bài tổng quan
Sáu chữ Giáp và kiếp người như một vở kịch lớn
Từ Giáp Tí sơ khai đến Giáp Dần rực rỡ, sáu chữ Giáp xoay vần dựng nên cả lịch sử loài người, khắc chế rồi lại tương sinh, không dứt. Còn đời riêng mỗi người, dẫu tài như Khổng Minh sáu lần ra Kỳ Sơn cũng đành lỡ vận, thì hoá ra cả càn khôn chỉ là một sân khấu lớn, và ai cũng chỉ đang đóng một vai kịch…
Những trạng thái diễn biến của 6 chữ Giáp
Khổng Phu Tử xưa kia đã nói: "Ngũ thập nhi tri thiên Mệnh". Ý nghĩa là đến tuổi 50 mới rõ được chân lý của Trời. Với bộ óc sáng suốt của một vị Thánh có thể thừa thời gian để tìm biết. Còn người trần thế với cái thông minh bình thường, thiết tưởng phải đến tuổi tròm trèm 70 mới rõ được lẽ huyền diệu việc đời. Tiếc thay mấy ai đã sống đến thời gian đó (nhân sinh thất thập cổ lai hi).
Người ta nhập thế cuộc 10 năm đầu còn là tiểu nhi. Bắt đầu từ 11 đến 70 mới đủ 60 tuổi (10 năm chót bù qua 10 đầu, Can và Chi y hệt) ngắm lại đời người những đổi thay biến dịch dễ mấy ai có thể tự hào là tri thiên mệnh.
Chuỗi thời gian 60 năm cổ nhân đặt ra 2 bộ phận (10 thiên Can và 12 địa Chi) sắp xếp theo thứ lớp phân tách ra âm dương đầy đủ ý nghĩa và riêng biệt.
Âm dương là không gian, ngũ hành là thời gian. Từ cái bất dịch đến cái giao dịch thành biến dịch. Sinh khắc chế hoá là guồng máy tinh vi của lý học.
Thiên Can là gốc, Địa Chi là ngọn. Can là Phúc Đức, Chi là thân thế. Từ Giáp Tí đến Quý Hợi biết bao bình diện nhân sinh nối tiếp tuần tự lớp lang, khiến cuộc sống nhân thế khác gì thuỷ triều sáng tối.
Mười thiên can chia làm hai phái Âm Dương thành 5 cặp. Mỗi cặp có 1 thế chất riêng là ngũ hành: dương Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; âm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý; hành Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.
Mộc là sơ bản tính vốn thiện chủ nhân từ. Mộc sinh hoả là Nhân sẵn có thì dễ học để biết lễ (Hoả). Hoả sinh Thổ là Lễ đã biết thì Tín thực (Thổ) phát sinh. Thổ sinh Kim, Tín đã giữ được thì đương nhiên có nghĩa khí (Kim), hành động theo lẽ phải. Kim sinh Thuỷ là Trí suy nghĩ hiểu biết sự lý tức là trọn vẹn ngũ thường.
Từ Mộc (Giáp Ất) tuần tự xuống Hoả (Bính Đinh) Thổ (Mậu Kỷ) Kim (Canh Tân) Thuỷ (Nhâm Quý) là cả một hệ thống tương sinh, người trên chịu đựng hi sinh cho người dưới. Cuộc đời nếu biết kính người trên hy sinh cho mình và tự chịu đựng hy sinh cho người dưới, như Mộc được sinh nhập của Thuỷ và sinh xuất cho Hoả là cả một cuộc diện tương sinh thái bình Long Hoa. Nếu vội nhẩy cách bước muốn khắc phục người là khắc xuất (Mộc vượt qua Hoả khắc Thổ) bằng như quá trớn đuổi sức thì đương nhiên bị khắc nhập, như Giáp Ất nhảy cách Bính Đinh uy hiếp Mậu Kỷ rồi qua Canh Tân bị khắc nhập lại. Phải chăng là thế chiến quốc, còn gì là hạnh phúc nhân sinh.
Những dương hành Giáp Bính Mậu Canh Nhâm đáo hạn gặp nhau sự sinh khắc phải là tuyệt đối, còn so với âm hành chỉ còn là tương đối. Những âm hành Ất Tân Đinh Kỷ Quý cũng vậy khi đụng chạm nhau sự khắc chế cũng mạnh mẽ hơn khi gặp dương hành: Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý.
Trong địa bàn Tử Vi sự sắp xếp thấy tinh vi từng vị trí chính yếu. Từ Mão đến Thân thuộc về Dương, từ Dậu đến Dần là tư thế của âm. Tí Ngọ là 2 thế chính (lưỡng nghi) của Thái Dương và Thái Âm. Thêm Mão Dậu (tứ tượng) là Thiếu Âm và Thiếu Dương lập thành 2 thế khai sinh. Thìn Tuất là 2 thế nguồn chuyển biến.
Bánh xe 60 hoa giáp là một vòng kín gắn liền 6 con giáp Can Chi tuần tự phối hiệp âm dương riêng biệt ràng rẽ luân chuyển, khiến đời sống vạn vật phải chịu ảnh hưởng từ cái sáng đến cái tối, từ mối thịnh vượng đến lẽ suy vong.
Thường tình mà nói khi bắt đầu từ Tí phải tuần tự đến Dần, Thìn, Ngọ, Thân rồi đến Tuất. Nhưng khi tính ra thấy cái tinh hoa của 10 Can là tuyệt lý. Từ Giáp Tí đến Quý Dậu rồi nhảy qua Giáp Tuất chứ không thể là Quý Sửu nối Giáp Dần:
- Giáp Tí, một trong hai thế chính của lưỡng nghi, là sơ khai trong cảnh tối âm u minh (Thái Âm). Chi sanh Can, gốc chưa bén rễ nhờ ngọn nuôi. Cuộc sống phải đơn sơ giản dị, gặp nhiều may do ngọn thu hút ở cõi hư vô đầy hơi nước (Tí Thuỷ). Đa số nằm trong thời gian này được Chi sanh Can.
- Bước qua Giáp Tuất (Can khắc chi), một trong 2 thế nguồn gốc chuyển biến. Gốc dành lấy sống, ngọn phải héo tàn, thời gian tranh sống gò ép, nguồn gốc phát sinh ra Giáp Thân.
- Giáp Thân (Chi khắc Can) là thời gian quật khởi nhờ ánh sáng Thái Dương, tuy là chiều tà (20 năm từ Giáp Tuất đến Quý Tỵ là một chuỗi Can Chi tương khắc, triền miên tang thương diễn chuyển).
- Giáp Ngọ là thế chính của Thái Dương, gốc tự hiểu lẽ sống phải nuôi ngọn để trường tồn (đa số năm Can Chi tương hợp).
- Nhảy đến Giáp Thìn (Can lại khắc Chi). Ở đây không giống như Giáp Tuất là vì thuộc phạm vi của Thái Dương (Giáp Tuất thuộc Thái Âm). Đa số năm Can Chi tương sinh nhưng có nhiều dồn ép (Can Giáp khắc chi Thìn). Đây chỉ là nguyên lý để chuyển dần đến Giáp Dần.
- Can Chi đồng hành là biểu tượng của Giáp Dần, một cảnh bình đẳng bằng liên hiệp, một thế huy hoàng hạnh phúc.
Bánh xe luân lưu lại đến Giáp Tí, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ thời gian, bình dị may mắn vẫn là biểu tượng của Giáp Tí, tuyệt không một khắc chế, rồi Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần tuần tự nối nhau bất tuyệt.
Ngắm nhìn sự chuyển dịch giữa 6 con Giáp, nhận thấy có 2 đường lối riêng biệt: từ Giáp Tí bước qua Giáp Tuất, từ Giáp Tuất sang Giáp Thân, từ Giáp Ngọ nhảy tới Giáp Thìn, từ Giáp Thìn biến thành Giáp Dần, tất cả là những khắc chế ghê gớm. Còn từ Giáp Thân sang Giáp Ngọ, Giáp Dần sang Giáp Tí là tình tương sinh đằm thắm.
Nguyên tắc: Giáp Tuất (Hỏa) khắc Giáp Tí (Kim); Giáp Thân (Thủy) khắc Giáp Tuất (Hỏa); Giáp Ngọ (Kim) sinh Giáp Thân (Thủy); Giáp Thìn (Hỏa) khắc Giáp Ngọ (Kim); Giáp Dần (Thủy) khắc Giáp Thìn (Hỏa); Giáp Tí (Kim) sinh Giáp Dần (Thủy).
Ngày nay đời sống vật chất nhờ được khoa học tiến bộ, tuy có bỏ cách xa ngàn xưa muôn vạn dặm, thiết tưởng phần tinh thần không thể không giống nhau ở mỗi hoàn cảnh phải ưu tư hay đắc ý.
Trên địa bàn Tử Vi chia làm 12 cung âm dương xen kẽ nhau. Sáu cung dương là 6 chữ Giáp. Mỗi chữ Giáp là hiện tượng của mỗi thời đại. Giáp Tí là Thái Cổ. Giáp Tuất là thượng cổ. Hai thời đại này thuộc về ảnh hưởng của Thái Âm nên mọi sự đều ở trong vòng sơ khai bí hiểm. Phục Hy là vị Thánh thời Thái cổ phát minh ra dịch lý cũng phải chờ đến Khổng Tử ở thời Trung cổ mới san định được ra manh mối một phần lớn. Giáp Thân là Trung cổ, đây là thời gian đã thuộc Thái dương nên đã sản xuất là những Thích Ca, Khổng Tử ra đời trước 500 năm dương lịch. Giáp Ngọ là Cận Cổ là thời đại khoa học dồn dập phát minh (chữ Giáp sinh chữ Ngọ). Giáp Thìn là hiện thế rồi đến Giáp Dần là Hậu thế.
Mỗi thời đại là 1080 năm tức là gồm 6 đại nguyên. Mỗi đại nguyên có 1080 năm chia làm thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên, nghĩa là mỗi đại nguyên phải đi hết 1 vòng 6 Giáp mới là một thời đại.
Sáu chữ Giáp xoay vần đã dựng nên cả lịch sử loài người — còn phận riêng của một đời người, liệu có thoát khỏi bàn tay Tạo Hoá hay không?
Càn khôn nhất hí trường, nhân sinh thị bi kịch
Trời đất bao la bị thu hẹp coi như một sản phẩm của diễn đài trò chơi hỉ nộ ái ố. Kiếp nhân sinh hẳn là một bản tuồng vui ít buồn nhiều. Kịch sĩ, tùy theo nghệ thuật và vai trò thủ diễn chỉ còn hứng chịu tất cả những lời bình phẩm khen chê người đời yêu hay ghét. Mấy ai thấu đáo được tình hình tư cách diễn viên mà xét đến nghệ thuật phải đóng trò: trung, nịnh. Sự thật oan hay ưng, đáng hay không chính đáng, định mệnh đã dự thảo sắp xếp do quyết định của tay thầy tuồng đạo diễn: Tạo Hóa.
Biết bao nhân thế cổ kim, đã thấm thía tủi hờn, trước cảnh éo le cuộc sống, không phân trần minh chứng nổi sự việc. Thành tích khi đã bị hiểu lầm vì một uẩn khúc nào đó, một khi được trình bày chính xác, tất sẽ hài lòng. Lịch sử phải trung thực, ghi rõ trắng đen.
Công việc soi tỏ được nỗi niềm, phần lớn trông cậy vào những bậc có thực tài thấu hiểu lẽ huyền vi vũ trụ.
Những dị nhân như thế không phải là nhiều, dễ kiếm. Hàng trăm năm ngày tháng mới xuất hiện được một Gia Cát Lượng ở Hậu Hán Trung Hoa, một Nguyễn Bỉnh Khiêm của Hậu Lê Việt Nam chỉ đường ngay, vạch lối thẳng đường cho người, đồng thời soi tỏ nỗi uất hận của những vai trò có liên hệ mật thiết đến cuộc sống chung.
Nhưng đã là người, sự khắt khe không chừa ai. Người trước cố sức mình quyết ý phá định mệnh mà rồi công 6 lần xuất phát Kỳ Sơn cũng chẳng nên cơm cháo gì. Hồn cũng đành lìa khỏi xác trên đàn phương tinh, không hy vọng cầu cho tuổi thọ thêm một giáp. Người sau chịu bó gối, tự biết đời sống đã lỗi thời, đành lang thang đây đó, tìm cái vui tai với tiếng chim hót ríu rít nơi cây cao bóng mát, hoặc mượn thú vui ngâm thơ bình phú làm khoái chí dưới mái Bạch Vân Am.
Sự thật những cao nhân siêu thặng đó đã giúp ích rất nhiều cho hậu lai biết đâu vàng thau, mắt cá hạt châu bằng những lời bóng bẩy sấm ký tiên liệu xa vời.
Tử vi từ ngàn xưa để lại, bị cỏ lau bao phủ mất vị trí, lại thêm cây dại mọc chia cành ngang làm mắc lối. Người học chỉ lượng quanh, ngại mất công một phần, không dám xông pha rừng rậm để kiếm đâu là kho tàng quý giá, phần bị nạn mang thư làm lạc hướng. Đã hoang mang trước tinh thần thực học, lại không thấy gì xác đáng bởi thêm dư luận chê bai, đành bỏ ngang quay bước. Tiến thoái lưỡng nan, không kết quả gì khả quan, dầu mất nhiều ngày tháng rèn luyện chỉ được một vài kinh nghiệm chắp nối đơn sơ, phải chăng lữ khách ra khơi thiếu la bàn định hướng.
Tinh thần hiệp sĩ cửu lưu không thể lãng quên mà sa vào tục luỵ.
Càn khôn nhất hí trường
Nhân sinh thị bi kịch
Trước tinh thần lý học cao siêu, dám mong những ai thử phân tích thêm đều chính xác vài bản toán dưới đây từ tư cách đến tình tiết cuộc sống mỗi nhân sinh, gồm ba tuổi: Nhâm Dần sanh 23 tháng 3 giờ Tý, Ất Mão sanh 29 tháng 12 giờ Tý, Đinh Mùi sanh 20 tháng mười giờ Mão.
Tuổi Nhâm Dần, Mệnh Thân đồng cung tại Thìn cho thấy một thế nhân có căn bản mà lắm éo le; người nặng lo mà lo hoài cũng vẫn bất mãn, đi đôi với Tử Tướng Quyền ngộ Tuần (quyền rơm vạn đá). Người này đến lúc tay buông xuôi vẫn không đang nhắm mắt. Hai đại vận 26-35 và 66-75 ở Ngọ Tuất là hai đại vận đắc thiên thời, nhân hòa vẫn không cho phép người có số đắc ý, tuy là đời sống gặp bước cao sang phải chăng Tài Thọ không thi thố đúng mức vì người ở dương cung Tử Tướng ngộ Tuần quá khắt khe. Giai đoạn 66-75 ở Tuất tình trạng Phá Quân lại bị bao hãm trong cái lưới Địa Võng (có Đà La), nếu được trách vụ giao phó thì cũng sôi hỏng bỏng không, càng thêm gánh hận vào mình. Phải công nhận Tử Tướng dầu không trúng cách của Mệnh nhưng tư cách vẫn không hèn, bị bồi thêm Kình lực không cho hãnh diện là may, cũng như Lý Quảng không được phong Hầu.
Ất Mão được trúng cách Lộc Tồn, nhưng Mệnh Thân đồng cung ở Sửu không khác gì tuổi Nhâm Dần Mệnh Thân đồng cung ở Thìn mà còn kém cả căn bản (tam hợp Tuế Phá không cho phép đương số được hài lòng). Cái khác nhau là người nặng lo (Tang Môn) không nên cơm cháo gì, còn người Ất Mão này ở Điếu Khách ức lòng muốn phân trần mà không nổi. Tử Tướng bị Tuần là tư cách nhân hiệp bị ngăn trở. Tham Vũ bị Tuần là tham vọng thất bại gạt ngang. Cả hai đều Mệnh Thân đồng cung thì cả hai cuộc đời gặp thiên thời chỉ là vơi chút u sầu. Tham Vũ ngộ Tuần không chút hết nỗi lòng tham, trừ phi tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi đắc Phá Toái sẽ giảm Tham Vũ đến mức tối cao. Người có số tự tu tỉnh với Tài Thọ ở cung điền mà an phận không ham trèo cao, ngã đau, chờ đại vận 66-75 Mùi đắc Triệt tháo gỡ Tuần, hoạ chăng thanh minh được lòng mình.
Một lá số dễ làm người học lầm lạc cho là vô chính diệu đắc tam không, có tâm hồn từ bi bác ái.
Mệnh ở cung Thân vô chính diệu có Thiên Không, Địa Không, Thiên Di ở Dần có cả Tuần và Triệt, Thiếu Dương, Hồng Loan, Cô Thần đều ở Mệnh. Sự thật Hồng Không vẫn là sắc sắc không không. Thiếu Dương, Thiên Không, Cô Thần là bác ái, nhưng đây còn ẩn nấp Lưu Hà, Kiếp Sát, nhất là Thủy Mệnh thì Lưu Hà là chủ nhân cùng với Kiếp Sát là một thứ gọng kìm quá bén, phụ tá thêm Không Kiếp dầu đắc địa. Bản mệnh vốn ráo riết (dương cung) thêm cả một hàng sát tinh đâu có phải từ bi.
Đây là vô chính diệu kiến tam không, cuộc đời phú quý (có Khoa Quyền Lộc) như giấc mộng hoàng lương. Mệnh Thủy không bao giờ được vô chính diệu đắc nhất nhị tam không. Chỉ một tuổi Hỏa mà thôi.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
