Bài tổng quan
Sáu cách đại phúc và cách cục của năm chính tinh
Giàu to là do Trời định, còn giàu nhỏ do mình cần kiệm mà nên. Sáu cách đại phúc đều chỉ chờ một điều kiện: không bị Sát tinh phá. Vậy chỉ một lần Tứ Sát ghé lại, phúc ấy còn được mấy phần…
Mục lục · 8 phần
- 01Định phú cuộc: sáu cách đại phúc
- 02Định quý cuộc
- 03Định bần tiện cách cuộc và tạp cuộc
- 04Tử Vi: miếu hãm và các cách phú quý bần tiện
- 05Thiên Phủ: kho tàng và cách quân thần khánh hội
- 06Thiên Tướng: cái ấn và chuyện hình trượng
- 07Thiên Lương: cách Ấm phúc, quan thanh hiển và nữ dâm tham
- 08Thiên Đồng: thọ nguyên, hiền đức và tính hay đổi thay
Định phú cuộc: sáu cách đại phúc
Tài ám giáp Ấn.
Thiên Tướng thủ Mệnh, có Vũ Khúc và Thiên Lương giáp; cung Điền Trạch cũng vậy (Thiên Tướng là Ấn).
Nhật Nguyệt giáp Tài.
Vũ Khúc thủ Mệnh có Nhật Nguyệt giáp cung Tài Bạch cũng vậy (Vũ Khúc là Tài tinh).
Tài Lộc giáp Mã.
Thiên Mã, Lộc Tồn: Thiên Mã thủ Mệnh giáp Vũ Khúc, Lộc Tồn hay Hóa Lộc, lại gặp Trường Sinh hay Đế Vượng lại càng hay hơn nữa.
Phủ Ấn củng Thân.
Phủ là Thiên Phủ, Ấn là Thiên Tướng, là cách Phủ Tướng triều viên; ở cung Điền Trạch cũng vậy.
Nhật Nguyệt chiếu Bích.
Nhật Nguyệt làm cung Điền Trạch, cư ở Mộ khố thì tốt hơn.
Kim xán quang huy.
Một mình Thái Dương cư Ngọ thủ Mệnh.
Sáu cách trên đây là đại phúc cuộc. Nếu được một cách trên, ba phương xung hợp lại có hóa cát, không có Sát tinh, ắt là số những nhà triệu phú. Nếu bị Tứ Sát, Phá Hao thì bị giảm đi nhiều lắm. Ta thường nói:
Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần.
Sự giàu có tức là cái lộc của Trời, giàu to là do thiên mệnh định đoạt, nhưng sự cần kiệm cũng có thể cho người mát mặt được.
Định quý cuộc
Phúc có sáu cách, quý cũng có cách riêng của nó, ở nơi Nhật Nguyệt, Phụ Bật và Khôi Việt.
Nhật Nguyệt giáp Mệnh.
Nhật Nguyệt giáp Mệnh không gặp Không vong, gia cát tinh hội chiếu.
Nhật xuất Phù Tang.
Nhật ở cung Mão thủ Mệnh; ở cung Quan Lộc cũng vậy.
Nguyệt lãng Thiên Môn.
Nguyệt ở cung Hợi thủ Mệnh (quẻ Kiền vi Thiên ở giữa cung Tuất Hợi, nên gọi cung Hợi là Thiên Môn).
Nguyệt sinh Thương Hải.
Nguyệt tại cung Tý thủ Mệnh; cung Quan Lộc cũng vậy. (Cung Tý là quẻ Khảm, Khảm vi Thủy, nên gọi cung Tý là Thương Hải, bể rộng mênh mông.)
Phụ Bật củng chủ.
Tử Vi thủ Mệnh có Phụ Bật cũng chiếu hay giáp cũng vậy.
Quân Thần khánh hội.
Tử Vi và Tả Hữu đồng Mệnh, nếu được gia hội Phủ Tướng Vũ càng hay hơn nữa.
Tài Ấn giáp Lộc.
Lộc thủ Mệnh có Lương Tướng giáp; ở cung Tài hay Quan cũng vậy.
Cung đằng trước sao Thiên Mã có Lộc Ấn (Lộc Tồn hay Hóa Lộc và Thiên Tướng). Ở đồng cung cũng vậy.
Tọa quý hướng quý.
Khôi Việt tại Mệnh cung hay đối chiếu cũng vậy.
Mã đầu đới kiếm.
Thiên Mã hội Kình Dương cư Ngọ tại cung Mệnh; còn các cung khác không phải.
Hình Tù giáp Ấn.
Kình Dương và Liêm Trinh giáp Thân Mệnh có Thiên Tướng tọa thủ, chủ người võ dũng.
Tham Hỏa tương phùng.
Sao Tham Lang và Hỏa Tinh tọa thủ Mệnh ở cung miếu vượng.
Vũ Khúc thủ viên.
Vũ Khúc thủ Mệnh ở cung Mão; còn ra không phải.
Tử Phủ triều viên.
Mệnh Thân có sao Tử Vi tọa thủ và Thiên Phủ hội chiếu, hay Phủ thủ Mệnh, Tử Vi hội chiếu.
Văn tinh ám củng.
Văn Xương thủ Mệnh có Văn Khúc xung hợp chiếu, hay ở cung hợp Mệnh; hay Văn Khúc thủ Mệnh, Văn Xương xung hợp chiếu.
Quyền Lộc sinh phùng.
Quyền Lộc thủ Mệnh ngộ Trường Sinh miếu vượng địa. Hãm thì kém đi nhiều.
Kình Dương nhập miếu.
Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi an Mệnh có Kình Dương tọa thủ, ngộ cát hóa, hung tinh đắc địa, phát dã như lôi.
Khoa minh Lộc ám.
Khoa thủ Mệnh, miếu vượng địa; hợp cung có Thiên Lộc củng chiếu cũng vậy.
Kim dư phù giá.
Tử Vi thủ Mệnh có Nhật Nguyệt giáp, như cái xe phò Vua.
Định bần tiện cách cuộc và tạp cuộc
Một bên là cửa quý, một bên là cửa nghèo hèn lận đận, nơi Mệnh gặp Không vong, gặp Sát, gặp sao Hao.
Sinh bất phùng thời.
Mệnh có Không vong gặp Liêm Trinh (Thiên Tù).
Lộc phùng lưỡng Sát.
Lộc tọa thủ Mệnh ngộ Không vong lại phùng Không Kiếp Sát.
Mã lạc Không vong.
Mã đã lạc Không vong, nếu có Lộc xung hội cũng vô dụng, chủ bôn ba.
Nhật Nguyệt tàng hung.
Nhật Nguyệt phản bối (lạc hãm địa) lại gặp Cự Môn (hóa Ám).
Tài dữ Tù cừu.
Vũ Khúc và Liêm Trinh đồng thủ Thân Mệnh.
Nhất sinh cô bần.
Phá Quân thủ Mệnh cư hãm địa.
Quân tử tại dã.
Tứ Sát thủ Thân Mệnh ở hãm địa. Là người lấy đạo thường làm lý tưởng, dẹp bỏ được tài lợi ra ngoài, vui thú cảnh thiên nhiên, nên nói là tại dã.
Lưỡng trùng hoa cái.
Lộc Tồn Hóa Lộc thủ Mệnh ngộ Không Kiếp là cách đó.
Định tạp cuộc
Phong Vân tế hội.
Thân Mệnh tuy nhược, hai hạn gặp được Lộc Mã như gió mây gặp hội, ắt được nhẹ bước thang mây.
Cẩm thượng thiêm hoa.
Hạn có cát tinh mà Mệnh lại được ở cát địa, như gấm thêm hoa.
Lộc xung Mã khốn.
Hạn gặp Thất Sát, Lộc Mã ngộ Không vong.
Bộ số vô y.
Tiếp hạn trước đến hạn sau xấu không ra xấu, tốt không ra tốt, liên miên không phân rõ ràng, như có bệnh ở nhà đi bộ đã lâu mà không gặp thầy thuốc.
Thủy thương giá tính.
Một năm tốt lại một năm xấu.
Cát hung tương bạn.
Mệnh có chủ tinh, hạn trước thì phát là cát, hạn sau bí tắc là hung, là cách trên vậy.
Khô mộc phùng xuân.
Mệnh an ở nơi suy địa gặp được hạn tốt như cây gặp mùa xuân.
Tử Vi: miếu hãm và các cách phú quý bần tiện
Từ cái khung chung ấy, mỗi vì sao chính đứng ở cung nào thì miếu, cung nào thì hãm; trước hết là sao Tử Vi.
- Miếu: Dần Ngọ Sửu Mùi.
- Vượng: Thân Hợi Mão Tị Dậu.
- Đắc địa: Thìn Tuất.
- Bình: Tý.
- Không hãm.
Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ Mệnh chí công khanh.
Hình là sao Kình Dương, Kỵ là Hóa Kỵ. Tử Vi cư Ngọ thủ Mệnh, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ thì hợp cách, vị đến công khanh. Nếu gia Hình Kỵ Kiếp Không ắt chỉ bình thường.
Tử Vi cư Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ.
Khoa Quyền Lộc ở ba cung xung hợp chiếu Mệnh có Tử Vi tọa thủ Tý Ngọ gọi là cách "ngưỡng diện chầu Đẩu" (ngẩng mặt chầu sao Đẩu).
Tử Vi nam Hợi, nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh nhân phú quý đồng.
Nam an Mệnh ở cung Hợi, nữ ở cung Dần có Tử Vi tọa thủ, người sinh năm Nhâm Giáp thì được phú quý song toàn.
Tử Vi Mão Dậu Kiếp Không, Tứ Sát đa vi thoát tục chi tăng.
Tứ Sát là Dương Đà Linh Hỏa. Tử Vi ở cung Mão Dậu thủ Mệnh lại gặp Kiếp Không, Tứ Sát là người tăng đạo thoát tục.
Tử Vi Thiên Phủ toàn y Phụ Bật chi công.
Tử Phủ tọa thủ Mệnh lại có Phụ Bật củng chiếu gia hội thì chung thân phú quý.
Tử Phủ đồng cung vô Sát thấu, Giáp nhân hưởng phúc chung thân.
Tử Phủ đồng cung ở Dần Thân thủ Mệnh, người sinh năm Giáp thì chung thân phú quý.
Tử Phủ triều viên hoạt Lộc phùng, chung thân phúc hậu chí Tam công.
Mệnh tọa cung Dần Thân có Tử Phủ gia Lộc Tồn và cát tinh thì suốt đời hưởng phú quý, vị đến Tam công.
Tử Phủ đồng tâm Tị Hợi, nhất sinh phú quý song toàn.
Mệnh an ở Tị Hợi có Tử Phủ thủ Mệnh thì suốt đời một mực phú quý song toàn, không lúc nào bị gián đoạn.
Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, tất định xuất giai công khanh khí.
Tử Vi cư Ngọ, Phủ cư Tuất thủ Mệnh, Nhật Nguyệt cư Sửu không bị Sát tinh, gia cát hóa thì được tuyệt mỹ, làm đến công khanh dễ dàng.
Tử Phủ Vũ Khúc lâm Tài Trạch, cánh kiêm Quyền Lộc phú xa ông.
Như cung Tài, cung Điền Trạch có Tử Phủ Vũ thủ chiếu lại có Quyền Lộc hội chiếu là số đại phúc (được Tả Hữu gia Lộc Tồn cũng vậy).
Tử Vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bá nặc cư thượng phẩm.
Tử Vi Phụ Bật cùng tọa thủ Mệnh là cách thượng phẩm, gọi một tiếng trăm người thưa; hoặc được ba phương chiếu lại là thứ cách; thủ cung Tài Bạch thì làm chức quan về tài chánh.
Tử Phủ Kình Dương tại cự thương.
Được Vũ Khúc cư Thiên Di thì tốt lắm. Tử Phủ ngộ Kình Dương ở Thân Mệnh là nhà buôn bán lớn.
Tử Phủ giáp Mệnh vi quý cách.
Như Mệnh an ở cung Dần Thân, có Tử Phủ giáp là quý cách.
Tử Lộc đồng cung, Phụ Bật chiếu, quý bất khả ngôn.
Tử Vi Lộc Tồn đồng cung thủ Mệnh lại có Phụ Bật cũng chiếu thì quý không nói được.
Tử Vi Xương Khúc phú quý khả kỳ.
Mệnh có Tử Vi tọa thủ gia Xương Khúc ắt phú quý.
Tử Vi Thất Sát Hóa Quyền, phản tác trinh tường.
Mệnh Thân có Tử Vi Thất Sát tọa thủ gia Hóa Quyền thì trở lại thành tốt lắm (Thất Sát ngộ Tử Vi Hóa Quyền).
Tử Vi Vũ Khúc Sát diệu phùng, nhất sinh tăng lại sính anh hùng.
Tử Vi Vũ Khúc tọa thủ Thân Mệnh gặp Sát tinh là hạng văn nhân sính anh hùng.
Tử Vi Phá Quân vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác hôn lại chi đồ.
Mệnh Thân có Tử Phá tọa thủ, không có Tả Hữu và cát tinh, là bọn quan liêu ngu dốt hung ác.
Tử Vi Vũ Khúc Phá Quân hội Dương Đà, khi công họa loạn.
Mệnh Thân có Tử Vũ Phá hội lại gia Dương Đà là hạng người không ưa thích quan quyền, nên đi buôn bán.
Tử Vi Quyền Lộc quá Dương Đà, tuy hoạch cát nhi vô đạo.
Mệnh Thân có Tử Quyền Lộc gia Dương Đà, tuy cũng được phú quý nhưng là người vô đạo, bất chính.
Tử Vi Thất Sát gia Không vong, hư danh thụ ám.
Mệnh có Tử Vi ngộ Thất Sát gặp Không vong thành là bị hư danh che lấp.
Tử Phá Mệnh lâm ư Thìn Tuất Sửu Mùi, tái gia cát diệu, phú quý kham kỳ.
Mệnh có Tử Phá tọa thủ ở Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ Khố) lại thêm cát tinh hợp chiếu, vận đến thì phú quý lớn lao.
Tử Phá Thìn Tuất, Quân Thần bất nghĩa.
Mệnh có Tử Phá cư ở Thìn Tuất gia thêm Tứ Sát và hung tinh là số bị phản phúc, là Quân Thần bất nghĩa như số An Lộc Sơn, Triệu Cao vậy.
Tử Phá Tham Lang vi chí dâm, nam nữ tà dâm.
Mệnh có Tử Vi ngộ Phá Tham là người dâm dật, số nam hay nữ cũng vậy.
Nữ Mệnh Tử Vi, Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tín khả bằng.
Nữ Mệnh có Tử Vi ở cung Dần Ngọ Thân thì cát và quý lắm (như Thái Dương), vượng phu ích tử, sớm đã gặp được đấng trượng phu quân tử vinh hiển; ở các cung khác thì bình thường. Duy chỉ ở cung Tý Dậu và Tị Hợi gặp Tứ Sát thì như ngọc quý có tỳ, về sau không tốt.
Thiên Phủ: kho tàng và cách quân thần khánh hội
Bên Tử Vi có Thiên Phủ, tài tinh, nên cách cục của Phủ thiên về của cải.
- Miếu: Sửu Mùi Mão Thìn Tuất.
- Vượng: Tý Ngọ.
- Đắc địa: Tị Hợi, Dần Thân Dậu.
- Vô hãm.
Thiên Phủ Tuất cung vô Sát thấu, Giáp Kỷ nhân yếu kim hựu thả phú.
Thiên Phủ an ở cung Tuất cư Mệnh không có Tứ Sát hợp chiếu, người sinh năm Giáp Kỷ giàu có lớn. Nếu gia Tứ Sát ắt không được chân như có tỳ vết.
Thiên Phủ Thiên Tướng Thiên Lương đồng, Quân Thần khánh hội.
Mệnh có Thiên Phủ tọa thủ, Thân có Thiên Tướng, cung đằng trước có Thiên Lương gia cát hóa là Quân Thần khánh hội, ắt được phú quý không sai.
Thiên Phủ cư Ngọ Tuất, Thiên Tướng lai chiếu, Giáp nhân nhất phẩm chi quý.
Mệnh có Thiên Phủ cư Tuất Ngọ, có Thiên Tướng hợp chiếu, người sinh năm Giáp là quý đến tột bậc, hàng Thái sư, Thủ tướng, Tể tướng.
Phủ Tướng triều viên, thiên cung chung thực lộc.
Mệnh an ở Dần Thân có Phủ Tướng ở cung Tài, Quan chiếu lại là thượng cách; các cung khác là thứ cách.
Thiên Phủ Lộc Tồn Xương Khúc, cự vạn chi tư.
Mệnh có Thiên Phủ tọa thủ gia Lộc Tồn Xương Khúc là số triệu triệu phú.
Thiên Phủ Xương Khúc Tả Hữu, cao đệ ân vinh.
Mệnh có Thiên Phủ gia Xương Khúc Tả Hữu là người đỗ cao vinh hiển, được ân tứ.
Thiên Phủ Vũ Khúc cư Tài Bạch, cánh kiêm Quyền Lộc phú xa ông.
Thiên Phủ Vũ Khúc cư hai cung Tài Bạch và Điền Trạch lại có cả Quyền Lộc chiếu thì giàu có lớn.
Thiên Tướng: cái ấn và chuyện hình trượng
Bên cạnh Thiên Phủ là Thiên Tướng, như cái ấn của quan, mà ấn cũng có thể trở thành gông cùm.
- Miếu: Dần Thân Tý Ngọ Sửu Mùi.
- Đắc địa: Tị Hợi.
- Hãm: Mão Dậu.
Thiên Tướng Liêm Trinh Kình Dương giáp, đa chiêu hình trượng cập nan đào.
Mệnh có Thiên Tướng có Liêm Kình giáp thì suốt đời chịu tội, không tránh được.
Thiên Tướng chi tinh nữ Mệnh triền, tất dưỡng tử quý cập phu hiền.
Số đàn bà có Thiên Tướng thủ Mệnh ắt chồng hiền con quý; người sinh năm Kỷ an tại Mệnh cung Tý, sinh năm Giáp an Mệnh cung Ngọ, sinh năm Canh an Mệnh cung Thìn là quý cách.
Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm.
Đàn bà sinh năm Quý, Mệnh an cung Tý có Thiên Tướng và Tả Hữu chiếu; người sinh năm Kỷ Mệnh an ở cung Dần, sinh năm Canh Mệnh an ở cung Thân là quý cách. Thiên Tướng an ở cung Sửu Mùi Hợi thì không quý; ở cung Tý Ngọ Mão Dậu thì phúc ít.
Thiên Lương: cách Ấm phúc, quan thanh hiển và nữ dâm tham
Thiên Lương là sao Ấm phúc, tùy cung đứng mà có khi nhân từ, có khi lãng đãng.
- Miếu: Dần Thìn Tý Ngọ.
- Vượng: Sửu Mùi.
- Đắc địa: Tuất Mão.
- Hãm: Tị Hợi Thân.
Thiên Lương Nguyệt diệu nữ dâm tham.
Lương cư Tị Hợi thủ Mệnh có Thái Âm cư hãm địa chiếu. Số đàn bà là dâm dật tham lam. Nếu được ở cung miếu vượng địa thì y lộc toại lòng; nếu hãm là hạ tiện.
Thiên Lương cư Ngọ vị, quan tứ thanh hiển triều đường.
Thiên Lương cư Ngọ thủ Mệnh ắt làm quan được hưởng lộc thanh hiển. Người sinh năm Đinh Kỷ Quý là hợp cách.
Thiên Lương thủ chiếu cát tương phùng, bình sinh phúc thọ.
Thiên Lương cư Ngọ thủ Mệnh thì cực tốt, được phúc thọ.
Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị, nhất sinh lợi nghiệp thông minh.
Mệnh Thân cư Dần Thân có Đồng Lương tọa thủ gia Thiên Cơ Thái Âm hợp chiếu thì thông minh, suốt đời phú quý danh tiếng vang lừng.
Lương Đồng Tị Hợi, nam đa lãng đãng nữ đa dâm.
Lương Đồng cung Tị Hợi thủ Mệnh, trai làm hạng lười biếng thất thểu, gái thì đa dâm; gia thêm Hình Kỵ Sát là hạ tiện.
Thiên Lương Thái Dương Xương Lộc hội, Lư truyền đệ nhất danh.
Thiên Lương thủ Mệnh cư miếu vượng địa gia Thái Dương Xương Lộc hội chiếu, là người rất thông minh, đỗ đến trạng nguyên danh giá.
Thiên Lương Văn Xương cư miếu vượng, vị chí đài cương.
Mệnh có Thiên Lương tọa thủ gia Văn Xương ở miếu vượng địa thì làm đến Tể tướng.
Lương Vũ Âm Linh, nghĩ tác đống lương chi khách.
Mệnh có Lương Vũ Âm Linh hội, cư miếu vượng địa là làm đến Tứ trụ, là đường cột trong nước.
Lương tú Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách.
Lương cư Dậu, Nguyệt cư Tị là người tang bồng hồ thỉ, nay đây mai đó, lang thang vui cùng gió mây.
Thiên Lương Thiên Mã vi nhân phóng đãng phong lưu.
Thiên Lương hội với Thiên Mã cư Mệnh là người phong lưu, thích đi chơi bời giao du.
Thiên Lương gia cát tọa Thiên Di.
Số Thiên Lương cư Thiên Di ở miếu vượng địa gia cát hóa là người buôn bán lớn lắm; nếu gia Hình Kỵ lại thường thôi.
Thiên Đồng: thọ nguyên, hiền đức và tính hay đổi thay
Thiên Đồng, sao phúc tinh, tính nết hay đổi thay mà thọ nguyên thì dài.
- Miếu: Tị Hợi.
- Vượng: Tị Thân.
- Bình: Mão Dậu Thìn Tuất.
- Lợi: Dần.
- Hãm: Sửu Mùi Ngọ.
Thiên Đồng hội cát, thọ nguyên thời.
Mệnh có Thiên Đồng tọa thủ cư miếu vượng địa gia cát tinh là số thọ lắm.
Đồng Nguyệt hãm cung gia Sát, trọng kỵ nghệ hoa hoàng.
Thiên Đồng hội với Thái Âm ở hãm địa gia Sát tinh là người thích về kỹ nghệ.
Thiên Đồng Tham Dương Đà cư Ngọ vị, Bính Mậu trấn ngự biên cương.
Nếu Đồng Tham Dương Đà cư cung Ngọ là cách mã đầu đới kiếm, được cả phú quý; người sinh năm Bính Dậu là võ tướng trấn ải biên thùy.
Thiên Đồng Tuất cung Hóa Kỵ, Đinh nhân Mệnh ngộ phản vi giai.
Mệnh có Thiên Đồng Hóa Kỵ tọa thủ cư Tuất, người sinh năm Đinh là xấu hóa ra tốt.
Nữ Mệnh Thiên Đồng tất thị hiền.
Đàn bà Mệnh có Thiên Đồng ắt là người hiền lành đức độ. Người sinh năm Tý Mệnh an ở cung Dần, sinh năm Tân Mệnh an ở cung Mão, sinh năm Đinh Mệnh an ở cung Tuất là nhập cách. Người sinh năm Bính Tân Mệnh có cát tinh, người tuổi Tị Hợi gặp thì hóa tốt nhưng dâm dật.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
