Bài tổng quan
Phúc từ Thiên Tướng đến Phá Quân và bóng cha mẹ trên lá số
Có người sinh ra đã được che chở, có người từ nhỏ phải gửi nhà khác; có người cả đời bận rộn mà vẫn thấy phúc, có người ngày thì đi làm đúng phép, đêm lại tìm vui nơi đèn rượu. Cung Phúc Đức và cung Phụ Mẫu kể chuyện ấy bằng từng sao đứng trong ô. Chỉ cần một sao sát chen vào, bức tranh đã đổi màu…
Mục lục · 5 phần
- 01Thiên Tướng ở cung Phúc Đức: thọ như núi Nam, phúc như biển Đông
- 02Thiên Lương ở cung Phúc Đức: phúc đến từ chữ nghĩa và lòng dạy người
- 03Thất Sát và Phá Quân ở cung Phúc Đức: một đời nhiều sóng, ngã rẽ nằm ở các sao đi cùng
- 04Lục cát, lục sát và các sao nhỏ ở cung Phúc Đức: mỗi sao một sắc phúc
- 05Cung Phụ Mẫu: ai thọ, ai mất trước, ai phải rời nhà từ nhỏ
Thiên Tướng ở cung Phúc Đức: thọ như núi Nam, phúc như biển Đông
Thiên Tướng là sao giữ ấn, thích sự chỉn chu; cái phúc của nó là một đời sống đàng hoàng, đủ đầy, biết hưởng.
Thiên Tướng cùng Liêm Trinh ở Tý, Ngọ thì đọc theo cặp Liêm Trinh – Thiên Tướng.
Thiên Tướng đứng một mình ở Sửu, Mùi: thọ như núi Nam, phúc như biển Đông. Người này chuộng thể diện, ăn ngon mặc đẹp, theo kịp mốt; yêu những thứ đẹp đẽ trên đời. Nói chuyện có trí tuệ, ra lời thành văn; khéo hưởng niềm vui nhân sinh, tính lạc quan. Gặp Văn Khúc thì cả đời không lo chuyện tiền bạc, đời sống dư dả. Gặp bảy cát tinh thì tiền và quan đều đẹp, có quyền uy, có thể đảm nhiệm chức đặc biệt. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật. Gặp sáu sát tinh thì thân tâm bất an.
Thiên Tướng cùng Vũ Khúc ở Dần, Thân thì đọc theo cặp Vũ Khúc – Thiên Tướng.
Thiên Tướng đứng một mình ở Mão, Dậu: phúc khí bình thường. Gặp bảy cát tinh thì cát lợi. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật. Gặp sáu sát tinh thì khéo tay nghề mà mưu sinh. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, hoặc các sao ấy xung chiếu, thì mệnh nữ hợp ở vị trí vợ lẽ.
Thiên Tướng cùng Tử Vi ở Thìn, Tuất thì đọc theo cặp Tử Vi – Thiên Tướng.
Thiên Tướng đứng một mình ở Tỵ, Hợi: có phúc khí. Gặp bảy cát tinh thì làm quan cao nắm quyền. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật. Gặp sáu sát tinh thì thân tâm bất an.
Thiên Lương ở cung Phúc Đức: phúc đến từ chữ nghĩa và lòng dạy người
Thiên Lương che chở người khác trước khi che chở mình; nên phúc của nó đẹp nhất khi gắn với việc dạy dỗ, và chông chênh nhất khi đứng ở nơi lưu lạc.
Thiên Lương đứng một mình ở Tý, Ngọ: thọ như núi Nam, phúc như núi Đông. Người này có thiên phú về văn nghệ, có tạo nghệ; thích tiểu thuyết, văn chương, gửi bài đăng báo, hợp với ngành xuất bản. Vui lòng giúp người, dạy người, nhiệt tâm với giáo dục; hợp làm thầy giáo hoặc người tham mưu. Cả đời thanh nhàn vui vẻ. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì giàu trí tưởng tượng, giàu sức sáng tạo. Gặp bảy cát tinh thì ra tướng vào tướng, phúc thọ song toàn. Gặp sáu sát tinh thì phúc thọ kém đi đôi chút.
Thiên Lương đứng một mình ở Sửu, Mùi: thọ như núi Nam. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì sinh ra trong nhà giàu sang, có thể làm đến chức đứng đầu một tỉnh. Gặp Văn Xương, Lộc Tồn thì thi cử đỗ đầu. Gặp bảy cát tinh thì cả đời phúc thọ song toàn. Gặp sáu sát tinh thì phúc thọ kém đi đôi chút.
Thiên Lương cùng Thiên Đồng ở Dần, Thân thì đọc theo cặp Thiên Đồng – Thiên Lương. Cùng Thái Dương ở Mão, Dậu thì đọc theo cặp Thái Dương – Thiên Lương. Cùng Thiên Cơ ở Thìn, Tuất thì đọc theo cặp Thiên Cơ – Thiên Lương.
Thiên Lương đứng một mình ở Tỵ, Hợi: đi đâu cũng lang bạt, phúc mỏng, vất vả bôn ba. Gặp Kình Dương, Đà La thì làm điều trái đạo đức. Gặp Thiên Mã thì lao nhọc bôn ba. Gặp sáu sát tinh thì cô quả, chết yểu. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Thất Sát và Phá Quân ở cung Phúc Đức: một đời nhiều sóng, ngã rẽ nằm ở các sao đi cùng
Hai sao này không biết nghỉ; cung Phúc Đức có chúng thì tâm cứ động, và người ấy lên hay xuống đều tùy sao nào bước vào cùng.
Thất Sát đứng một mình ở Tý, Ngọ: đời sống chăn gối rất loạn. Ban ngày đi làm đúng khuôn phép, đến tối lại thích tìm kích thích nơi đèn đỏ rượu xanh, rồi phải chịu một phen khổ sở. Mệnh nữ cam tâm sa ngã. Sẽ phát tài. Gặp bảy cát tinh, hoặc các sao ấy củng chiếu, thì giàu sang vượt chúng, làm quan cao nắm quyền. Gặp sáu sát tinh thì chết yểu, chết nơi trận mạc.
Thất Sát cùng Liêm Trinh ở Sửu, Mùi thì đọc theo cặp Liêm Trinh – Thất Sát.
Thất Sát đứng một mình ở Dần, Thân: trải qua gian nan vất vả, có mưu lược. Gặp bảy cát tinh thì có thể thăng lên chức tướng. Gặp sáu sát tinh thì chết nơi trận mạc, chết yểu.
Thất Sát cùng Vũ Khúc ở Mão, Dậu thì đọc theo cặp Vũ Khúc – Thất Sát. Thất Sát đứng một mình ở Thìn, Tuất thì giống như ở Tý, Ngọ. Thất Sát cùng Tử Vi ở Tỵ, Hợi thì đọc theo cặp Tử Vi – Thất Sát.
Phá Quân đứng một mình ở Tý, Ngọ: lo nghĩ nhiều, bận rộn. Đời sống chăn gối quá nghiêm khắc, khô khan, không thoải mái. Gặp sáu sát tinh thì công việc bận rộn, đắm vào rượu chè hoặc cờ bạc. Gặp bảy cát tinh thì cả đời nhiều cay đắng; Văn Xương, Văn Khúc đi cùng thì có nạn nước.
Phá Quân cùng Tử Vi ở Sửu, Mùi thì đọc theo cặp Tử Vi – Phá Quân.
Phá Quân đứng một mình ở Dần, Thân: lo nghĩ nhiều, lại phải ra sức làm lụng. Gặp Thiên Mã thì lang bạt khắp nơi. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì sợ nước, có nạn nước, nghèo khốn. Gặp bảy cát tinh thì cuộc sống rất khổ. Gặp Kình Dương, Đà La thì tàn tật. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì bôn ba lao nhọc.
Phá Quân cùng Liêm Trinh ở Mão, Dậu thì đọc theo cặp Liêm Trinh – Phá Quân. Phá Quân đứng một mình ở Thìn, Tuất thì giống như ở Dần, Thân. Phá Quân cùng Vũ Khúc ở Tỵ, Hợi thì đọc theo cặp Vũ Khúc – Phá Quân.
Lục cát, lục sát và các sao nhỏ ở cung Phúc Đức: mỗi sao một sắc phúc
Khi chính tinh đã định hình bức tranh, các sao nhỏ là những nét cuối: có nét tô thêm phúc, có nét làm phúc rạn.
Tả Phụ, Hữu Bật: có phúc có lộc; gặp cát tinh thì cả đời vui vẻ, gặp sát tinh thì vất vả bôn ba, lao tâm lao lực, không được yên.
Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền: thường ở bên người quý, cả đời hưởng phúc vui vẻ.
Lộc Tồn: cả đời phúc dày; gặp cát tinh càng đẹp, vui mừng nhiều; gặp sát tinh thì thân tâm bất an.
Kình Dương: nhập miếu thì trong cái động có phúc; hãm địa thì vất vả bôn ba. Đà La: nhập miếu thì có phúc; hãm địa thì bôn ba, nhưng gặp cát tinh thì tuổi già hưởng phúc.
Hỏa Tinh: đứng một mình thì thiếu yên, mệnh lao nhọc; gặp cát tinh thì tuổi già hưởng phúc. Linh Tinh: đứng một mình thì lao khổ; gặp cát tinh thì bình hòa.
Văn Khúc, Văn Xương: cả đời vui vẻ.
Địa Không, Địa Kiếp: không có phúc khí.
Thiên Diêu: ham sắc, thân bận lòng loạn, gặp người khác giới là say mê ngay từ cái nhìn đầu.
Hóa Kỵ: cả đời buồn bực không vui.
Cung Phụ Mẫu: ai thọ, ai mất trước, ai phải rời nhà từ nhỏ
Phúc của một người luôn mang bóng của cha mẹ; cung Phụ Mẫu cho biết bóng ấy dày hay mỏng, ai còn ai mất, và có bao giờ phải gửi con sang nhà khác.
Cung Phụ Mẫu mừng nhất là những sao tăng thọ. Miếu địa thủ hoặc chiếu thì cha mẹ thọ cao, và mình cũng được hưởng ơn che chở. Nếu có sao cô khắc tọa thủ, tuy là miếu địa, mình vẫn được ơn che chở nhưng nhiều khi cha mẹ không đủ cả hai. Hoặc chính tinh nhập miếu mà có sát tinh (Kình Dương hung nhất) cũng vậy: được ơn che chở, chỉ cha mẹ không toàn vẹn. Còn ai mất trước thì phải xét nhật nguyệt của người ấy: sao nào vượng, hoặc sao nào gặp sát.
Nếu chính tinh của cung Phụ Mẫu rơi vào đất nhàn hãm, hoặc đất bình hòa, thì hoàn cảnh cha mẹ chỉ ở mức trung bình; không gặp sát xung phá cũng có thể thọ cao, chỉ có điều lấy con trưởng làm chuẩn để nghiệm.
Cung Phụ Mẫu tốt mà cung Tật Ách có Hóa Kỵ, thì nhiều khi cha mẹ giàu sang nhưng đến già không chịu chia tài sản, bởi đối với con cái họ nhiều ngờ vực, bất an. Nếu lại thêm sát tinh, thì cha mẹ không mấy thương yêu mình.
Cự Môn, Phá Quân thủ cung Phụ Mẫu mà gặp không vong, phần nhiều bị cha mẹ bỏ rơi, hoặc bị đem cho người khác làm con nuôi.
Xem cha mẹ khắc hay không còn có thể kiêm xét hai sao Thiên Sát, Địa Sát. Nếu cung Mệnh có Thiên Sát ở tam hợp hoặc đối cung thì nam khắc cha, nữ khắc cha hoặc khắc chồng; nếu không thì phải xem đại hạn, tiểu hạn: thấy Thiên Sát trước thì khắc cha, thấy Địa Sát trước thì khắc mẹ. Phối hợp thêm sao hạng giáp hóa Kỵ ở cung Thái Dương thì khắc cha, hóa Kỵ ở cung Thái Âm thì khắc mẹ.
Cung Phụ Mẫu có Thiên Cơ tọa thủ lại ở đất hãm (Sửu, Mùi), hoặc gặp bốn sát tinh, ắt là làm con nuôi, hoặc bị nhà vợ chiêu làm rể.
Cung Thân có Thái Âm thì nhà có tiếng "hai mẹ": hoặc từ nhỏ đã làm con thừa tự, hoặc theo mẹ đi bước nữa, hoặc mẹ ruột mất sớm rồi cha cưới vợ kế.
Trong cung Phụ Mẫu, tốt nhất là có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt: cho thấy được hưởng ơn của cha mẹ, lại duyên sâu tình dày với cha mẹ.
Cung Phụ Mẫu không có chính tinh, cung Mệnh cũng không có chính tinh, thì thuở nhỏ phải gửi nuôi ở nhà người thân hoặc bạn bè vài năm rồi mới về bên cha mẹ. Nếu cung Thân lại có Thái Âm thì nhà có tiếng "hai mẹ": có thể mẹ ruột mất sớm, đứa trẻ bị gửi nuôi nơi khác, đến khi cha cưới vợ kế thì được đón về.
Cung Phụ Mẫu còn gọi là cung tướng mạo, nên các sao ở cung này cũng có thể dùng để mô tả diện mạo của người ấy.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
