Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Giải phú

Bài tổng quan

Nhật Nguyệt, Tử Phủ và những hạn suy người xưa để lại

Tử Vi Nam Phái - Giải phú30/09/202615 phút đọc3 lượt đọc
Nhật Nguyệt, Tử Phủ và những hạn suy người xưa để lại

Nhan Hồi đức hạnh mà chết non, Hạng Vũ anh hùng mà thắt cổ bên sông Ô Giang, Thạch Sùng giàu nhất một thời cũng có ngày vong gia. Người xưa đã ghi lại những lá số ấy để làm gương. Vì sao một hạn Địa Không lại đủ kéo cả một vương triều xuống…


Bốn sao Cơ Nguyệt Đồng Lương và các cách miếu vượng

Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại.

Như hai sao Sát Phá tọa thủ Thân Mệnh ở hãm địa, chủ người tinh xảo về nghề thủ công, nên xuất ngoại thì được phát đạt. Lấy Sát ở Dần Thân và Phá ở Tị Hợi mới đoán như trên.

Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân.

Bốn sao trên hợp lại ở cung Thân Mệnh là người có công danh về quan trường đao bút; nếu gặp Sát Kỵ là hạ cách. Ở hai cung Dần Thân có bốn sao trên hội lại là người có quan tước; thiếu một sao thì không thành.

Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoán định công hầu khí.

Tử ở cung Ngọ, Phủ ở cung Tuất, Nhật ở cung Mão, Nguyệt ở cung Hợi, lại có Khoa Quyền Lộc tọa thủ Thân Mệnh là cách công hầu, như ngọc tốt sáng ngời. Nếu gặp Sát Kiếp Không Kỵ là thất cách.

Nhật Nguyệt Khoa Lộc Sửu cung trung, định thị phương bá công.

An Mệnh ở cung Sửu Mùi, Nhật Nguyệt Khoa Lộc tọa thủ. Như không có tam hóa mà có Nhật Nguyệt đồng cung cũng không tốt. Nếu không có cát tinh chiếu lại, quyết đoán là phúc không thể sinh ra được. Nếu Ngọ hóa cát thì tốt lắm, uy quyền phúc thọ lại càng tăng.

Thiên Lương Thiên Mã hãm, phóng đãng vô nghi.

Như Mệnh an ở cung Tị Hợi, Thân có Thiên Lương tọa thủ là lạc hãm, lại có Thiên Mã đồng cung. Hoặc lại có Hỏa Đà Không Kiếp ắt là người chỉ ham chơi bời phóng đãng không sai.

Liêm Trinh Sát bất gia, thanh danh viễn bá.

Sát đây là Tứ Sát: Dương, Đà, Hỏa, Linh. Như an Mệnh ở cung Mão có Liêm Trinh tọa thủ thì chủ quý, có cát tinh chiếu hợp lại càng tốt thêm, danh tiếng nổi khắp mọi nơi. Có Sát tinh thì bình thường. Hoặc Mệnh an ở hai cung Mùi Thân có Liêm Trinh tọa thủ, không có Sát tinh thì cũng được vinh hiển.

Nhật chiếu lôi môn, phú quý vinh hoa.

An Mệnh ở cung Mão có Thái Dương tọa thủ, ba phương hợp lại có Tả Hữu Xương Khúc, Khôi Việt thì phú quý vinh hiển vô cùng. Người sinh năm Giáp Ất Canh Tân thì hợp cách. Nếu bị Hình Kỵ Tứ Sát thì chỉ được no ấm. (Cung Mão là quẻ Chấn, Kinh Dịch nói rằng: "Chấn vi lôi", nên gọi cung Mão là lôi môn.)

Nguyệt lãng thiên môn, tiến tước phong hầu.

An Mệnh ở cung Hợi có Thái Âm tọa thủ, ba phương có cát tinh hợp chiếu thì chủ đại phú quý. Nếu không có cát tinh thì chỉ làm chức thường. Người sinh năm Bính Đinh chủ quý, sinh năm Nhâm ắt quý giàu lớn. (Cung Hợi là quẻ Kiền, Dịch nói rằng: "Kiền vi thiên", nên gọi cung Hợi là thiên môn.)

Dần phùng Phủ Tướng, vị đăng nhất phẩm chi vinh.

An Mệnh ở cung Dần, Phủ ở cung Ngọ, Tướng ở cung Tuất cũng chiếu. Người sinh năm Giáp thì đúng cách, làm đến nhất phẩm triều đình; có Sát tinh thì thất cách.

Mộ phùng Tả Hữu, tôn cư bát tọa chi quý.

An Mệnh ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi, hai sao Tả Hữu tọa thủ ở đó là đúng cách, ắt công hầu khanh tướng không sai. Hoặc ba cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch có hai sao trên cũng chủ phúc thọ.

Lương cư Ngọ vị, quan tứ thanh hiển.

Mệnh cư cung Ngọ có Thiên Lương tọa thủ thì đúng cách. Người sinh năm Đinh là thượng cách, làm quan được nhiều tài lộc và quý hiển; năm Kỷ là thứ cách; năm Quý chỉ phú nhưng cũng là thứ cách.

Khúc ngộ Lương tinh, vị chí đài cương.

Mệnh an ở cung Ngọ, hai sao Văn Khúc, Thiên Lương đồng cung là thượng cách, làm đến cận thần. Mệnh an ở cung Dần là thứ cách. Hoặc Lương tại Ngọ, Khúc tại Tý xung lên thì làm quan đến nhị, tam phẩm, là quý cách.

Tam hóa, văn tinh và những gương người xưa

Cung miếu vượng là cái nền; còn khi Tam hóa và Văn tinh chiếu về từ ba phương, người xưa đã có những gương sáng làm chứng.

Khoa Lộc tuần phùng, Chu Bột hân nhiên nhập tướng.

Cung Mệnh có cát tinh tọa thủ, ba phương có tam hóa cũng chiếu. Hay trước cung Mệnh ba vị, như Mệnh tại cung Hợi, trước ba cung là cung Dần, gặp Khoa Quyền Lộc đều chủ phú quý. Như Chu Bột hân nhiên được lên làm tướng.

Văn tinh ám củng, Mại Nghị duẫn hỷ đăng khoa.

Mệnh cung có cát tinh. Cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch ba phương có Xương Khúc, Khoa chiếu cũng là như Mại Nghị còn nhỏ tuổi đã đỗ cao.

Kình Dương Hỏa Tinh uy quyền xuất chúng, đồng hành Tham Vũ uy chấn biên di.

An Mệnh ở Tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi ngộ Dương Hỏa nhập miếu thì văn võ toàn tài, uy quyền xuất chúng, binh quyền vạn lý. Như Tham Vũ ngộ Hỏa tại vượng địa thì cũng vậy.

Lý Quảng bất phong, Kình Dương phùng ư Lực Sĩ.

Lý Quảng là tướng anh hùng nhà Hán, có công lớn dẹp phiên mà không được phong, vì Kình Dương phùng ư Lực Sĩ. Hai sao đó tọa thủ Mệnh lại có cát tinh nhiều thì được bình thường, thêm Sát tinh nữa thì tốt hung; số đàn bà mà gặp thì khỏi phải luận.

Nhan Hồi yểu triết, Văn Xương hãm ư yểu thương.

Người sinh năm Sửu, an Mệnh ở cung Dần, có Văn Xương ở cung Mùi hãm địa là yểu thương. Lưu niên hạn lại gặp Thất Sát, Kình Đà thì chết non như số Nhan Hồi vậy (Nhan Á Thánh).

Trọng Do mãnh liệt, Liêm Trinh nhập miếu ngộ Tướng Quân.

Trọng Do là học trò Tử Lộ. Mệnh cư Thân có Liêm Trinh ngộ Tướng Quân tọa thủ thành ra người rất dũng mãnh, tuy là bậc hiền sĩ vậy.

Tử Vũ tài năng, Cự Đồng Lương xung thả hợp.

Mệnh có Tử Vũ lập ở cung Thân, cung Tý có Thiên Đồng, cung Dần có Cự Môn, cung Thìn có Thiên Lương, lại có Khoa Quyền Lộc Tả Hữu cùng xung hợp là cách tài ba quán thế.

Dần Thân tối hỉ Đồng Lương hội.

An Mệnh ở cung Dần có hai sao tọa thủ lại có hóa cát (Khoa Quyền Lộc). Người sinh năm Giáp, Canh, Thân thì phú quý. Như an Mệnh ở cung Thân có hai sao trên tọa thủ gia cát tinh, người sinh như trên cũng phú quý.

Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn.

An Mệnh ở cung Thìn Tuất có sao Cự Môn thất hãm, chủ người làm việc điên đảo; gia Sát là chủ khẩu thiệt thị phi, hình thương khắc hại.

Lộc đảo, Mã đảo kỵ Thái Tuế chi hợp Kiếp Không.

Như Lộc Mã lâm vào Bại Tuyệt không vong chi địa mà lưu niên Thái Tuế hội với Kiếp Không, chủ lẫn lộn tai nạn hối lẫn; phát mà không giữ được tiền.

Vận suy hạn suy và những số phận nghiêng ngả

Lộc Mã đảo điên thì hạn suy, hạn ác kéo tới, nơi người xưa đã ngã xuống.

Vận suy, hạn suy, hỉ Tử Vi chi giải hung ác.

Như đại tiểu hạn gặp hung Sát tinh mà Thân Mệnh có Tử Vi thủ chiếu, hạn tuy hung cũng chủ bình thường, ẩn tránh đi được là nhờ Thân Mệnh vậy.

Cô bần đa hữu thọ, phú quý tức yểu vong.

Như Mệnh Thân có những sao hãm nhược, và Tài Quan Tử Tức ở nơi hãm địa thì nghèo hèn mới được sống lâu. Lại như Thái Tuế tọa Mệnh, chủ tinh hại nhược, hoặc Tài Quan Thiên Di hóa cát tinh, hoặc lại được hạn tốt ắt được hoạnh phát nhưng không lâu, được mười hay hai mươi năm quá vọng yểu vong.

Điếu Khách Tang Môn, Lục Châu hữu trụy lâu chi nguy.

Đại tiểu hạn ngộ đằng trước có Tang Môn, đằng sau có Điếu Khách và Thái Tuế phùng hung tinh, ắt bị kinh sợ hiểm nghèo, như Lục Châu bị ngã trên lầu cao xuống.

Quan Phủ Thái Tuế, công dã huy tụy tiết chi ưu.

Hai sao tọa thủ Thân Mệnh cung, trong nhị hạn lại gặp thì ắt bị trọng hình xiềng xích, như anh thợ rèn nhà nước cũng có sự ưu sầu về xiềng xích.

Hạn chí Thiên La, Địa Võng, Khuất Nguyên nịch thủy như vong.

Nhị hạn đi đến hai cung Thìn Tuất phùng Tham Vũ, lại có Tang Môn, Điếu Khách, Bạch Hổ hội với Kiếp Không Tứ Sát xung chiếu ắt rất hung, như Khuất Nguyên bị chết đuối.

Vận ngộ Địa Kiếp Thiên Không, Nguyễn Tịch hữu bần cùng chi khổ.

Họ Nguyễn ở đời nhà Tấn, chú cháu Nguyễn Hàm đều có tiếng là tài giỏi. Vận gặp Không Kiếp nên bị bần hàn. Hai hạn nếu gặp Không Kiếp và nhiều cát tinh thì cũng có nhiều tài và tài ra. Như thấy lưu niên có Sát tinh ắt chủ bần khổ.

Văn Xương Văn Khúc hội Liêm, chỉ táng mệnh thiên niên.

An Mệnh ở hai cung Tị Hợi có Liêm Trinh tọa thủ gia Xương Khúc ắt chết; người sinh năm Tân thì tối kỵ. Nếu có Vũ Khúc, Thiên Tướng là Tài tinh chiếu lại cứu cho thì lại phản lại là giàu có và có chủ quyền.

Mệnh không, hạn không, vô cát tấu công danh thăng đắng.

Như Mệnh và hạn phùng Không gia Sát tinh thì công danh không thành tựu; hoặc có chính tinh cát tinh cát hóa phùng Không Kiếp cũng làm được chức nhỏ, khó nhọc cũng không lên cao được.

Sinh phùng Thiên Không, do như bán thiên chiết sí.

Cung Mệnh có Thiên Không tọa thủ thì bình thường, sợ nhất trung niên bị nghiêng nghèo, nửa đời đức loạn, như con chim bay lưng chừng trời gãy cánh. Nếu hoạnh phát ắt bị hung vong. Người sinh giờ Tị, Hợi, Tý, Ngọ ắt bị như trên.

Mệnh trung ngộ Kiếp, khác như lãng lý hành thuyền.

Cung Mệnh phùng Địa Kiếp là người bình thường, chủ không có tiền tài; nếu gia Sát Kỵ thì thậm hung, đời lênh đênh như con thuyền trên nước.

Hạng Vũ anh hùng, hạn chí Địa Không nhi táng quốc.

Số Hạng Vũ, tiểu hạn gặp Địa Không ở cung Thân, Mệnh an tại Ngọ có Quyền Lộc gia hội, ngộ Long Phượng, là số cực phú quý. Nhưng Lộc Tồn thủ Mệnh bị đối cung có Kỵ tinh xung phá, thế là cát xứ phùng hung. Ba mươi hai tuổi đại hạn đến cung Mão có Vũ Sát, có Thái Tuế gia Hỏa, và Tham Liêm cư Hợi, nên chết ở hạn đó; ba mươi hai tuổi tiểu hạn ở cung Thân ngộ Không, cho nên thắt cổ chết ở Ô Giang mà mất nước vậy.

Thạch Sùng hào phú, hạn hành Địa Kiếp dĩ vong gia.

Đại tiểu nhị hạn có hai sao Địa Kiếp, Địa Không lâm vào nơi hãm địa lại gặp lưu niên Dương Đà Sát tinh thì rất hung. Giàu có lớn lao như Thạch Sùng cũng bị vong gia.

Số Lã Hậu, Dương Phi và các cách Xương Khúc, Lộc Mã

Có người gặp hạn xấu mà mất cả nhà, có người nữ mệnh lại nhờ cái thế của mình mà nắm cả quyền hành.

Lã Hậu chuyên quyền, lưỡng trùng Thiên Lộc Thiên Mã.

Mệnh của bà Lã Hậu có Lộc Tồn phùng Hóa Lộc cùng với Thiên Mã đồng thủ Mệnh, nên mới chuyên quyền.

Dương Phi hiếu sắc, tam hợp Văn Khúc Văn Xương.

Cung Mệnh, Tài, Quan và Thiên Di có Xương Khúc chiếu lại hội với Thái Âm, Thiên Cơ, tất chủ dâm dật như số bà Dương Phi.

Thiên Lương ngộ Mã, nữ mệnh tiện nhi thả dâm.

Như an Mệnh ở bốn cung Dần Thân Tị Hợi có Thiên Lương tọa thủ mà tam hợp có Thiên Mã, đàn bà là kẻ bần tiện dâm dật.

Xương Khúc giáp trì, nam mệnh quý nhi thả hiển.

Thái Dương là đan trì (thềm điện nhà vua), Thái Âm là quế phụ. Như Thái Âm, Thái Dương ở cung Sửu Mùi an Mệnh, trước sau có Tả Hữu, Xương Khúc lại giáp, số đàn ông thì ắt quý hiển.

Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục tăng nhân.

Cực đây là Thái cực, chỉ sao Tử Vi. Như Tử Vi thủ Mệnh an ở cung Mão Dậu gia Sát tinh chủ tăng đạo; không có Sát tinh, lại có cát hóa, Tả Hữu Khôi Việt, lại là quý cách.

Trinh cư Mão Dậu, định thị công tứ lại bối.

An Mệnh ở hai cung Mão Dậu có Liêm Trinh tọa thủ gia cát tinh định là người làm quan lại có lương.

Tả Phủ đồng cung, tôn cư vạn thừa.

An Mệnh ở hai cung Thìn Tuất có Thiên Phủ hội với Tả Phụ, gia cát tinh và cát hóa củng xung, là cực phẩm chi quý.

Liêm Trinh Thất Sát, lưu đãng thiên nhai.

An Mệnh ở hai cung Tị Hợi có hai sao Liêm Trinh và Thất Sát, lại có Sát Kỵ phùng Không Kiếp, là người lang thang, hoặc phải bị đầu quân hay buôn bán gian lao khổ cực ở xa.

Đặng Thông ngã tử, vận phùng Đại Hao chi hương.

Mệnh của Đặng Thông an ở cung Tý, nhị hạn đi đến cung giáp hạn thì gặp Đại Hao gia ác Sát, cho nên chết đói.

Phu Tử tuyệt lương, hạn đáo Thiên Thương chi hội.

Đức Khổng Phu Tử hết lương ở nước Trần vì hạn đến chỗ gặp Đại Hao và nhiều hung tinh.

Linh Xương La Vũ, hạn chí đầu hà.

Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc hội ở hai cung Thìn Tuất, người sinh năm Tân, Nhâm, Kỷ, hai hạn đi đến cung Thìn Tuất ắt định sự nguy hiểm về nước, nếu không có cát tinh cứu ắt chết đuối. Nếu Mệnh an ở hai cung Thìn Tuất có bốn sao trên lại gia ác tinh nữa thì ắt chết đường không sai.

Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử.

Ba sao Cự Môn, Hỏa Tinh, Kình Dương tọa thủ Thân Mệnh, đại tiểu nhị hạn lại phùng ác Sát thì thắt cổ tự tử.

Kim lý phùng Không, bất phiêu lưu tất chủ tật khổ.

Như cung Mệnh vô chính diệu có một Không, tam hợp lại có Sát tinh, tam hóa, ắt là người không lưu lạc giang hồ thì bị tật khổ. Nếu gặp cát tinh ắt giảm bớt được.

Mã đầu đới kiếm, phi yểu triết tắc chủ hình thương.

Cách này đã giải ở câu phú trên, là cách bổ túc thêm cho rõ cách Mã đầu đới kiếm ở trên. Tuy được một thời oanh liệt nhưng sau ắt yểu triết.

Tý Ngọ Phá Quân, gia quan tiến lộc.

Mệnh an ở hai cung Tý Ngọ có Phá Quân tọa thủ, thêm có cát tinh hội chiếu thì vị đến Tam công, gia quan tiến lộc.

Xương Tham cư Mệnh, phấn cốt toái thi.

Như Thân Mệnh an ở hai cung Tị Hợi có Văn Xương và Tham Lang tọa thủ ắt yểu vong, thân sát tan tành; hoặc hai sao cư cung Quan Lộc thì cũng vậy.

Chiếu đẩu ngưỡng đẩu, tước lộc vinh xương.

Sao Thất Sát thủ Mệnh ở vượng địa như ở bốn cung Tý Ngọ Dần Thân là cách chiếu đẩu. Ở ba phương chiếu lại, ngưỡng đẩu (ngẩng nhìn sao Đẩu) là nhập cát, ắt được phú quý; nếu gặp ở cung Quan Lộc lại không đoán như trên.

Văn quế văn hoa, cửu trùng quý hiển.

Sao Văn Xương gọi là Văn quế, Văn Khúc là Văn hoa. Như an Thân Mệnh ở cung Sửu Mùi có hai sao trên lại gặp tam hóa và Lộc Tồn hợp với cát tinh cũng giáp thì được cực kỳ quý hiển; nếu không có cát hóa (tam hóa) lại là vô dụng.

Đan trì, tảo toại thanh vân chi chí.

Đan trì là chỉ Nhật cư cung Mão Thìn Tị. Quế trì là chỉ Nguyệt cư cung Dậu Tuất Hợi. Như an Mệnh trong sáu cung trên và cung Quan Lộc có Xương Khúc hợp chiếu thì nhỏ tuổi đã xuất chinh, ra làm quan một cách dễ dàng.

Hợp Lộc củng Lộc, định vi thần phách chi thần.

Hai sao Lộc Tồn và Hóa Lộc cư ở hai cung Tài và Quan hợp Mệnh, hoặc cung Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ, cung Thiên Di có Hóa Lộc chiếu lên, không bị ác Sát tinh thì chắc chắn phú quý không sai. Quyết đoán là: hợp Lộc và củng Lộc ở miếu vượng địa là chôn kim tích ngọc, tức vị cao thiên, ngộ Thiên Mã làm đến tể tướng chuyên quyền chi số (như số bà Lã Hậu).

Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Giải phú