Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Nhận xét Tây phương và công dụng của Âm Dương Ngũ Hành trong lá số

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202626 phút đọc4 lượt đọc
Nhận xét Tây phương và công dụng của Âm Dương Ngũ Hành trong lá số

Người Trung Hoa nói Âm Dương là hai khí; nhà vật lý Tây phương lại tìm thấy ba hạt trong một nguyên tử. Đem hai cách nhìn ấy đối chiếu nhau, hiện ra cả cái đơn sơ lẫn cái mơ hồ của một lý thuyết đã năm nghìn năm tuổi — rồi tự hỏi: còn giữ lại được gì cho một lá số Tử Vi...


Nhận xét Âm Dương Ngũ Hành trong khuôn khổ tư tưởng Tây phương

Trước những dị biệt sâu xa nêu trên, việc phê bình Triết Đông bằng khảo hướng Tây phương cũng là một việc làm táo bạo, dẫy đầy bất trắc, sai lầm. Đông học và Tây học khác nhau sâu sắc về nội dung các ý niệm, chưa kể đến sự khác biệt về thế đứng siêu hình hay vật chất của mỗi ngành học.

Về phương diện định đề, các ý niệm về vũ trụ của Trung Hoa có tính cách tiên thiên (a priori), điều mà Tây phương chỉ chấp nhận sau khi được chứng nghiệm bằng phương pháp riêng của Tây phương, dựa trên thí nghiệm và ứng dụng, do đó chỉ xem các ý niệm tiên thiên như các giả thuyết.

Về mặt khảo hướng, Trung Hoa tìm hiểu vũ trụ bằng trực giác và sự quan sát đơn sơ các hiện tượng. Mặt khác, tri thức về vũ trụ của Trung Hoa không duy thức, tức là không nhằm đào sâu sự hiểu biết cặn kẽ, mà chính là duy đạo đức, dùng vũ trụ quan để hướng dẫn nhân sinh quan, lấy việc của vũ trụ mà dạy phép khu xử cho người đời. Trong khi đó, Tây phương phân biệt rõ rệt vũ trụ với đạo đức con người, các việc khảo sát vũ trụ chỉ nhằm mục đích chế ngự vũ trụ. Khảo hướng Tây phương, tuy có dùng đến quan sát và suy luận, song chủ điểm của phương pháp là thí nghiệm, phân tích lý, hóa, sinh để tìm quy tắc cấu tạo hay chi phối. Do đó, cái nhìn vũ trụ của Tây phương là cái nhìn có tính chất vật lý, hóa học chứ không phải hoàn toàn cái nhìn siêu hình, phi lý hóa của Đông phương.

Trong khi đi tìm các ý niệm, Tây phương và Trung Hoa theo hai khảo hướng khác nhau. Ví dụ như Âm Dương là hai ý niệm mà đa số triết gia Đông phương hiểu là hiện tượng, tức là nguyên lý bao trùm các biểu thị rải rác khác, thì Tây phương chỉ nghiên cứu từng biểu thị của cái hiện tượng lớn để tìm hiểu sự cấu tạo hay quy luật chi phối biểu tượng, ngõ hầu tìm cách hình dung hiện tượng trên mức độ và hệ cấp tổng quát hơn. Chỉ khi nào Đông phương cũng xem Âm Dương Ngũ Hành như những yếu tố vật chất thì Tây phương và Trung Hoa mới có thể cùng đứng trên một địa hạt tương đồng để tìm hiểu sự vật đó. Ví dụ như khi nào Trung Hoa tìm hiểu chữ "Kim" là chất kim khí (thay vì là khí, hay thế lực) thì Tây phương mới nói chuyện được với Trung Hoa về địa hạt kim khí.

Thật sự, người ta cũng thấy nhiều triết gia duy vật Trung Hoa có lối hiểu như thế khi nói khí Âm Dương là 2 trạng thái của muôn vật thuộc hình nhi hạ, ngũ hành là 5 chất của vạn vật. Hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê nhận xét rằng "cho tới nay, theo ý kiến đa số, trong cổ triết Trung Hoa, học thuyết về bản căn tương đối chú trọng đến vật chất hơn cả vẫn là khí luận... Khí luận coi khí là bản căn mà khí thì là vật chất. Khí tức là chất hơi". Phái duy khí ở Trung Hoa thật sự không phải ít. Nó tập hợp Hà Hưu, Trịnh Huyền (đời Hậu Hán), Lưu Thiệu (đời Tam Quốc), Trương Hoành Cừ (đời Bắc Tống), Chu Hi (đời Nam Tống). Đến thời nhà Thanh trở đi, phái duy khí được phục hưng trong đó có những kiện tướng như Vương Thuyền Sơn, Nhan Tập Trai và học trò ông là Lý Thứ Cốc (cùng thời với đời Khang Hy), Đái Đông Nguyên (đời Càn Long), Đàm Tự Đồng (đời Mục Tông). Riêng Đàm Tự Đồng đã căn cứ vào khoa học Tây phương để thuyết minh duy khí luận của Trương Hoành Cừ: ông cho rằng bản căn vũ trụ là éther (dịch âm là dĩ thái), mọi vật đều do các nguyên chất cấu thành, và dĩ thái là nguyên chất của các nguyên chất.

Còn nếu xét lập luận của phái duy tâm Trung Hoa, thì các tác giả thống thuộc vẫn cho rằng giữa lý và khí thì khí là cơ bản, rằng "khí không ngoài được tâm", rằng nếu gác tâm ra thì có thể nói được rằng vũ trụ này chỉ có cái khí mà thôi. Do đó, duy tâm luận nhích dần lên mãi đến chủ trương duy khí. Đó là nhận định của hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Hai cụ còn cho rằng các tư tưởng gia lỗi lạc đầu đời Thanh đều quay lại với khí luận của Trương Hoành Cừ, khiến cho khí luận trở thành chủ trào của thời đại và như vậy là học thuyết về bản căn từ sơ diệp đời Tống đến cuối đời Minh, đầu đời Thanh đã diễn biến theo hình vòng tròn, bắt đầu từ chủ trương duy khí chuyển qua duy lý, duy tâm và quay trở lại duy khí.

(Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Đại cương Triết Học Trung Quốc, quyển thượng, Cảo Thơm xuất bản 1964, trang 190. Họ Lý cho sự vật là bản căn, nguồn gốc của vũ trụ, sách dẫn trên, trang 282.)

Tóm lại, nhãn quan duy vật của vũ trụ quan Trung Hoa đã có hai thời đại thịnh hành vào thời Tống và thời Thanh. Nhãn quan này tương hợp với nhãn quan vật lý của Tây phương, khiến cho những ai muốn đối chiếu và nhận xét hai nguồn học, có thể căn cứ vào địa hạt kiến thức tương đồng này để phê phán. Trên địa hạt này, ta có thể có hai nhận xét về cách cấu tạo và cách biến hóa của vũ trụ duy khí Trung Hoa: đó là tính cách đơn sơ và tính cách mơ hồ của nó.

Tính cách đơn sơ của sự cấu tạo vũ trụ duy khí

Cổ nhân phái duy khí cho rằng vũ trụ có hai khí Âm và Dương tác hóa lẫn nhau để sinh ra vạn vật. Hầu hết các tác giả không mô tả lý tính và hóa tính của Âm Dương. Vì thế, điều này không làm thỏa mãn những người có ý thức khoa học Tây phương.

Sự phát triển của nguyên tử học ngày nay cho thấy trong nguyên tử có hạt âm tử (électron) chứa âm điện. Âm tử này có thể ví như một khí (trong ý niệm khí Âm của duy khí luận Trung Hoa). Khí này không có hình chất (dépourvu de support matériel) và là một thành tố đại đồng của vật chất (un constituant de la matière). Còn đối với các nguyên tử khác, cũng theo Larousse Encyclopédique, sau các cuộc thí nghiệm từ 1911 của Rutherford, nguyên tử được hình thành như một tinh hệ trong đó có 3 thành phần chính: trung hòa tử (neutron), dương tử (proton), cả 2 nằm trong hạt nhân; âm tử (électron) tức là các hạt bụi điện âm, kết thành một đám mây bao quanh hạt nhân. Dương tử có dương điện, âm tử có âm điện, còn trung hòa tử thì phi điện.

Như vậy, nếu tính về khí thì trong nguyên tử có 2 khí Âm Dương thật, đúng như đa số triết gia Trung Hoa đồng thanh xác nhận. Nhưng, tính về số lượng thành tố cấu tạo, thì nguyên tử ít ra cũng có đến 3, thay vì 2 như Trung Hoa nói. Trong triết học, chỉ có một mình Lão Tử nói đến thành phần thứ ba trong Hạ Thiên: "Đạo sinh ra Một, Một sinh ra Hai, Hai sinh ra Ba, Ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều cõng âm và ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư". Nhưng, Lão Tử không mô tả khí trùng hư là cái gì, cho nên rất khó mà nói rằng Lão Tử đã ý niệm 3 kết tố trong vũ trụ, thể hiện trong "nguyên tử".

Theo nguyên tử học Tây phương, Âm Dương chỉ là 2 trong 3 thành tố của 1 nguyên tử, ba thành tố này bất khả phân trên mặt hóa học. Sự hiện diện của trung hòa tử gắn liền với dương tử và âm tử. Vậy Âm Dương duy khí luận Trung Hoa không có nói đến thành tố cấu tạo thứ 3, mà chỉ nói về 2 khí Âm Dương.

Còn về sự cấu tạo Ngũ Hành, quan niệm duy khí Trung Hoa cũng quá đơn sơ vì nhiều lý do: chỉ chấp nhận có 5 chất trong vũ trụ mà thôi; cho rằng 5 chất này là 5 chất đơn, chớ không phải là 5 hợp chất; không thấy nói đến tổ hợp mới giữa các đơn chất, chất vẫn giữ y đặc tính, nếu có kết hợp thì sự kết hợp đó có trong lúc giải đoán các sao, chớ không có kết hợp theo nghĩa hóa học.

Việc mô tả đặc tính 5 chất cũng đơn sơ, vì hình dung theo hiện tượng hoặc theo chỗ dụng. Thuyết ngũ hành nói: nước ngấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ có cong có thẳng, vàng đổi theo hình... mô tả như vậy rất sơ sài: phái duy khí Trung Hoa đã giản lược quá mức sự cấu tạo vạn vật. Một là cách mô tả đó không giúp được bao nhiêu nghĩa lý. Hai là số lượng 5 chất đó xét ra không tương hợp với khám phá của khoa học. Ai học lý hóa ngày nay đều biết rằng có đến hàng trăm đơn chất, chớ không phải chỉ có 5. Trong quan niệm đơn giản đó, người Trung Hoa đứng trong thế tổng hợp hơn là phân tích. Ví dụ như nếu phân tích, thì chất Thổ thật sự là hợp chất của nhiều chất hữu cơ, trong đó phải kể ít ra oxy, hydro và carbone. Còn chất Kim chỉ còn là một khái niệm quy tụ hàng trăm từ sắt (Fe), chì (Pb) cho đến vàng (Au), đồng (Cu), v.v... Cho nên cái gọi là chất Kim của Trung Hoa đã tổng hợp vàng thau lẫn lộn, được gọi chung là kim khí. Cái gọi là hỏa cũng vậy: Trung Hoa không phân biệt hỏa của oxy với hỏa của hydro, hay hỏa của carbone. Còn Mộc chính là hợp chất hữu cơ chứ không phải đơn chất thuần túy. Ý niệm Thủy chỉ dùng để chỉ chất lỏng, không phân biệt chất lỏng của nước với chất lỏng của dầu, của thủy ngân.

Tóm lại, về mặt cấu tạo vũ trụ, quan niệm Âm Dương Ngũ Hành quá giản dị, dù không hẳn là sai.

(Có một số sao được gán là hợp chất như Kình Dương, Đà La là Kim đội Hỏa; Văn Xương là Kim đội Thổ; Văn Khúc là Thủy đội Hỏa... Nhưng, số sao hợp chất quá ít, không phản ảnh được trạng thái hợp chất của vật thể và số lượng các chất hợp nói chung quanh trong vũ trụ vạn vật.)

Tính cách mơ hồ của sự cấu tạo vũ trụ duy khí

Những ý niệm Âm Dương, Ngũ Hành của Trung Hoa sở dĩ gọi là mơ hồ vì không được tác giả nào mô tả cho cặn kẽ theo sự đòi hỏi tinh vi của nhu cầu thâm cứu của bộ óc nhân loại.

Độc giả ngày nay rất khó tính khi thấy nói Âm Dương mà thiếu giảng giải lý, hóa, nhiệt tính, hoặc khi nói đến Ngũ Hành mà thiếu đề ra quy luật tác hợp khúc chiết. Đành rằng, khoa Tử Vi có chịu khó đi sâu để phân biệt trong mỗi hành 6 loại (ví dụ hành Thủy có phân biệt thành Thiên hà Thủy, Đại khê Thủy, Đại hải Thủy, Giản hạ Thủy, Tuyền trung Thủy và Trường lưu Thủy) vị chi có 30 loại cho 5 hành. Nhưng, với nhu cầu hiểu biết của độc giả ngày nay, 30 loại đó xem ra không đủ và không rõ để luận đoán. Ai cũng chờ đợi Tử Vi giải rõ đặc tính của Thiên hà Thủy với Trường lưu Thủy mà không thấy. Điều này làm cho sự luận đoán không có tiêu chuẩn cụ thể, chính xác, khiến cho mỗi người hiểu đặc tính của thể tài đó một cách khác biệt. Các học giả, các thầy số, các người đi xem không nói cùng một ngôn ngữ, không hát cùng một giọng, gây ra nhiều giải thích chủ quan hỗn hợp, tương phản về một sự việc, đâm ra rắc rối, cãi cọ, tranh chấp triền miên.

Tính cách đơn sơ và mơ hồ của quy tắc chi phối duy khí

Trong tư tưởng các triết gia duy khí, quy tắc biến hóa hầu như không được giải thích cặn kẽ. Cái cách sinh, từ Thái cực ra Âm Dương rồi từ Âm Dương ra Ngũ Hành, Tứ Tượng, Bát Quái chỉ thấy có vài tác giả đề cập lác đác vài mơ hồ. Vấn đề sinh hóa được ngụ ý rất đơn sơ. Chu Hi có nói đến động từ "khí hóa" để hiểu là do khí biến hóa mà ra, và động từ "hình sinh" để hiểu là sinh ra thành hình. Về khí hóa, ông nói: "Lúc trời đất sơ khai, kiểm thế nào cho ra một mầm giống người? Chỉ là khí "kết" mà tự thành ra 2 con người". Về hình sinh, ông nói: "Khí hóa là lúc ban đầu con người chưa có mầm giống mà rồi tự sinh; hình sinh là con người đã hình thành rồi mà sau sinh sôi mãi mãi". Về biến sinh của Âm Dương, Chu Hi nói: "Thái cực đem phân ra, chỉ là Âm Dương". Hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê hiểu "phân" là phân biệt chớ không phải phân cắt ra. Dù sao, các động từ khí hóa, hình sinh, hay phân biệt không nói rõ thể cách sinh bao nhiêu.

Còn Trương Hoành Cừ thì tìm cách đào sâu hơn động lực biến dịch. Ông cho rằng khí tụ thành vật, vật hoại lại thành khí, đó tức là đạo trời, và viết: "Muốn diễn tả đột ngột khôn lường của sự biến dịch đó thì nói là thần. Còn khi nhận định cái hiện tượng vì khí biến dạng mà muôn vật sinh rồi lại sinh thì nói là dịch. Cho nên đạo, thần và dịch chỉ là 3 cái danh để trỏ cùng một sự vật". Ông còn phân biệt lúc tụ, lúc tán của khí để định hình thể và danh hiệu của khí: khi nào khí tụ thì thành vật có hình, mắt thấy được, bấy giờ gọi là Thái hòa; khi nào khí tán thì vật hủy, khí lại vô hình, bấy giờ gọi là Thái hư.

Về ngũ hành, Chu Hi là tác giả nói khá rõ cách sinh và thứ tự sinh, chỉ tiếc là có hơi bất nhất. Ông cho rằng Âm Dương là khí, sinh ra các chất của Ngũ Hành. Trời đất sinh ra vật, Ngũ Hành sinh đầu tiên là Thổ. Ngũ hành và Âm Dương, 7 cái đó hợp lại bèn sinh ra tài liệu cấu thành sinh vật. Ở đoạn khác, ông viết: "Trời đất lúc thoạt đầu còn lẫn lộn chưa chia, tưởng như chỉ có 2 thứ nước và lửa. Cặn bã của nước mà thành ra đất."

Vì đơn sơ, nên quy tắc chi phối rất mơ hồ. Sở dĩ như vậy chính cũng vì tác giả xưa và nay không giải thích thỏa đáng đặc tính và kỹ thuật chi phối của các yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành.

Mặt khác, sự mơ hồ còn bắt nguồn ở chỗ có quá nhiều yếu tố can dự mà có quá ít quy tắc chi phối, cho nên không tìm ra được kết luận cho 3 yếu tố trở lên. Ví dụ: một cung có 3 sao thuộc 3 hành khác nhau, chẳng hạn như Mộc, Hỏa và Thổ. Theo quy tắc thì Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, và Mộc khắc Thổ. Sao Thổ vừa được Hỏa sinh, vừa bị Mộc khắc. Vậy sức mạnh của sao Thổ còn lại bao nhiêu, có phải mạnh thêm vì nhờ Hỏa sinh, có phải yếu đi vì bị Mộc khắc, có phải là trung hòa vì đồng thời bị 2 yếu tố tương phản chi phối? Nếu có một sao Kim can dự nữa, thế trận sẽ ra sao? Bấy giờ Mộc hết là chủ tể rồi vì bị sao Kim khắc, vô hình chung sao Kim được coi như chủ tể. Nhưng, vì có sao Hỏa ở đó sẵn sàng khắc sao Kim, cho nên sao Kim có còn đủ công lực, và đủ bao nhiêu để khắc sao Mộc? Cách tính về lượng đã khó, cách tính về chất cũng không ổn. Quy tắc sinh khắc chỉ có giữa 2 hành đứng riêng, hoàn toàn không có giữa 3 hành trở lên.

Những khuyết điểm của khoa Tử Vi vốn đã dẫn chứa từ căn bản lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành cho nên khi mang các quy tắc lý thuyết này vào lá số, việc giải đoán thường gặp phải bế tắc vô cùng nan giải.

Vấn đề đặt ra là trong lý thuyết, cái gì còn chấp nhận được? Chúng ta phải quan niệm như thế nào về Âm Dương Ngũ Hành trong khoa số?

Đơn sơ và mơ hồ là vậy, vậy đâu là phần còn dùng được của Âm Dương Ngũ Hành trong một lá số?

Công dụng của Âm Dương Ngũ Hành trong lá số

Công dụng thứ nhất của 7 yếu tố này là để nói lên thành phần cấu tạo và động lực thúc đẩy con người. Phỏng theo hình ảnh của vũ trụ, người xưa đã Âm Dương hóa và ngũ hành hóa con người cùng với các yếu tố chi phối đó. Lá số vì vậy cũng được mô tả phỏng theo sự cấu tạo tương tự: từ Bản Mệnh, Cục, đến cung, sao, ngày, tháng, năm, giờ sinh đều mang 7 đặc tính trên. Với phương cách đó, cổ nhân có dụng ý nói lên sự phức tạp của con người và của đời người.

Tuy nhiên, điều cần lưu ý là dường như cổ nhân chưa có ý thức sự phức tạp một cách đúng mức. Sự phức tạp chỉ thể hiện qua 7 yếu tố với mức độ mười quy tắc chi phối. Thực tế cho thấy bấy nhiêu yếu tố và quy tắc chưa đủ để mô tả một sự kiện, một người, một đời. Cổ nhân Trung Hoa đã đơn giản hóa bài toán nhân sự, nên các đáp số nhiều khi chỉ tổng quát, không ăn khớp với sự phồn tạp của sự kiện, của kiếp sống.

Vì vậy, chung cuộc, công dụng của 7 yếu tố và 10 quy tắc bị giảm thiểu. Người ta chỉ còn xem đó như những định danh các thực tiễn đối nghịch hay tương hợp trong con người, không còn bao hàm ý nghĩa siêu hình hay ý nghĩa lý hóa của nguyên lý cấu tạo và quy tắc biến sinh nguyên thủy.

Công dụng thứ hai là diễn đạt ý niệm động trong con người và kiếp sống. Tinh thần dịch lý bao giờ cũng được xem là linh hồn của khoa Tử Vi, của lá số Tử Vi, của con người và đời người. Các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành thể hiện cái động đó qua các quy tắc sinh khắc. Nhưng có điều đáng lưu ý là cổ nhân không dùng sự sinh khắc để nói lên sự phức tạp, mà dùng lý lẽ sinh khắc để nói lên căn do của nó, tức là sự biến sinh, dịch tính của con người. Cũng cần lưu ý thêm là sự biến sinh đó không phải hỗn độn, mà trái lại, có quy tắc chi phối không dời đổi. Con người biến dịch, nhưng biến dịch theo quy tắc.

Công dụng thứ ba của công trình Âm Dương hóa và ngũ hành hóa lá số là trắc nghiệm cho con người quy luật chi phối của vũ trụ. Phải nói rằng đây là một nỗ lực chính yếu của Trần Đoàn để thực hiện quan niệm "Thiên Nhân Tương Dữ" của triết học Trung Quốc. Đây là một quan niệm căn bản, hãy còn được triết gia Trung Hoa cận đại chia sẻ. Theo ý niệm này, giữa Trời (gọi khác đi là vũ trụ) và Người, vừa có sự giống nhau về thành tố cấu tạo, vừa có sự tương thông về quy luật chi phối. Cái gì định cho Vũ Trụ đều thể hiện trên Con Người, từ sự kết khí, sự hợp khí, cho đến sự biến sinh và hậu quả của biến sinh. Những tương hợp và những mâu thuẫn đều có trong hai đối tượng này. Âm Dương hóa và Ngũ Hành hóa con người là mang định luật cấu tạo và biến sinh của vũ trụ quan vào nhân sinh quan. Vũ trụ quan gắn liền với nhân sinh quan. Các triết gia, khi luận về vũ trụ, bao giờ cũng luận đến con người. Như hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê đã từng nhận xét, các triết gia Trung Hoa "không tách rời vũ trụ, tri thức và nhân sinh và ta thường thấy trong các tác phẩm của họ, câu trên nói về vũ trụ hoặc tri thức, câu dưới nói về nhân sinh". Quan môn Tử Vi, Trần Đoàn đã nỗ lực thể hiện ý niệm Thiên Nhân Tương Dữ đó và đã cóp nhặt toàn bộ quan niệm và quy tắc vũ trụ vào số kiếp con người mà không hề gượng ép chút nào.

Theo thiển nghĩ, công dụng của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong lá số chỉ có tính cách tổng quát như thế. Còn sự ứng dụng cụ thể thì vấp phải các nhược điểm cố hữu của lý thuyết đã kể ở đoạn trên. Rút lại, chúng ta cần có quan niệm như thế nào về các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành?

Quan niệm khả chấp về các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành

Trước hết, ý niệm Âm, Dương, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy được xem như 7 yếu tố chi phối con người mà thôi. Chúng ta chỉ nên xem đó như là yếu tố sao, yếu tố cung, yếu tố độ số. Nói như thế có nghĩa là chúng ta không nên hiểu một cách cứng rắn chất Mộc, chất Hỏa, chất Thổ, chất Kim, chất Thủy theo nhãn quan vật lý hay hóa học. Hai khí âm dương cũng thế. Lý do là vì kiến thức lý hóa của Trung Hoa về vũ trụ quá sơ khoáng, cho nên 7 yếu tố trên không thể xem như ý niệm lý hóa.

Vả chăng, khoa Tử Vi là một bộ môn nhân văn, cho nên, lúc được sáng lập, có thể Trần Đoàn không xem nó như một sự ứng dụng của lý hóa vào con người. Hơn nữa, khoa lý hóa Trung Hoa thời Tống hầu như không có. Đến đời Tống, chỉ có nhân văn (sciences humaines) là kho tàng kiến thức duy nhất thời đại. Thành thử, hiểu 7 ý niệm trên theo lý hóa học là vô tình bóp méo quan niệm tiến khởi cũng chưa biết chừng. Đành rằng ngày nay, người ta cho rằng con người là một tổng hợp các chức năng tâm lý, vật lý học và hóa học (synthèse des facultés psycho-physico-chimiques), nhưng có thể kết luận này chưa có vào thời đại nhà Tống. Ta không thể đi trước thời đại mà phải tự đặt mình vào kiến văn của thời đại để hiểu trình độ văn minh của thời đại. 7 ý niệm Âm Dương Ngũ Hành chỉ nên được coi là 7 yếu tố chi phối con người mà thôi.

Kế đến, ta cũng không nên xem 7 yếu tố đó là 7 yếu tố duy nhất của khoa số. Khoa này còn dùng nhiều yếu tố khác nữa, như cung, sao, Bản Mệnh, Cục, cách để tìm hiểu kiếp người. Trong bối cảnh đó, 7 ý niệm trên chỉ là 7 yếu tố bổ túc vào những yếu tố khác của con người mà thôi.

Sau cùng, ta có thể duy trì được một số hệ luận liên quan đến sự mạnh yếu của 7 yếu tố trên, rút tỉa từ quy tắc sinh khắc. Đó là những hệ luận sau:

Về tương quan âm dương và ngũ hành — Triết lý thì cho rằng âm dương tác động nhau phát sinh ngũ hành. Quy tắc chính là quy tắc âm dương. Quy tắc thứ hai là quy tắc ngũ hành. Vậy giữa âm dương và ngũ hành, âm dương phải được coi nặng cân hơn. Hệ quả là cái gì lợi về mặt âm dương thì tốt hơn lợi về mặt ngũ hành, vì cái nghịch lý âm dương thì bất lợi căn bản hơn là đối khắc ngũ hành.

Về ngũ hành chính tinh và phụ tinh — Chính tinh đóng vai trò quyết định bản chất sự việc, phụ tinh chỉ gia giảm bổ túc vào bản chất đó. Chính tinh có thể xem như định tính trung tâm, phụ tinh có thể xem như hệ tinh tùy thuộc. Vậy, về mặt hiệu lực, hành của chính tinh có thể xem như mạnh hơn hành của phụ tinh. Nếu hành phụ tinh khắc hành chính tinh, sự đối khắc này tuy bất lợi, nhưng không nặng lắm.

Về tương quan giữa hành khắc và hành bị khắc — Lẽ dĩ nhiên, cái gì bị khắc phải thiệt thòi nhiều hơn, còn cái gì chủ khắc thì vô nhiễm, Kim khắc Mộc bị thiệt, còn Kim thì không việc gì.

Về tương quan giữa hành sinh và hành được sinh — Hành nào sinh thì phù trợ cho hành được sinh. Kim sinh Thủy thì Thủy lợi. Trong trường hợp này không có nghĩa là Kim bất lợi, mà chỉ là không đắc lợi bằng sao Thủy mà thôi.

Về tương quan giữa hành cung và hành sao — Cung là môi trường sống của sao, hành của cung quyết định sự hay dở của hành sao. Nếu hành cung phù sinh cho hành sao thì sao đó tăng giá trị, coi như có giá trị gia tăng cho sao. Nếu hành cung khắc hành sao, thì sao bị suy giảm giá trị đi nhiều. Nếu hành sao sinh hành cung thì sao không tốt bằng trường hợp được hành cung phù sinh. Nếu hành sao khắc hành cung thì cái xấu của sao không nặng bằng trường hợp sao bị cung khắc.

Về tương quan giữa hành Bản Mệnh và hành Cục — Như đã dẫn trong quyển Tử Vi Hàm Số, Bản Mệnh phải được Cục phù sinh mới tốt, theo quy tắc nói trong hệ luận về hành sinh và hành được sinh.

Trên đây là những hệ luận mà soạn giả mạn phép rút tỉa từ quy tắc sinh và khắc của âm dương ngũ hành để cố gắng gỡ thêm vài cái gút của chỗ rối trong lý thuyết. Vì triết lý âm dương ngũ hành sơ khoáng và mơ hồ, cho nên việc ứng dụng cũng không tránh khỏi hai nhược điểm cơ bản đó.

Quan niệm của chúng ta là chỉ nên hiểu nguyên lý âm dương ngũ hành theo một ý nghĩa thực tiễn, linh hoạt, gạt bỏ phần siêu hình, không nên tìm hiểu thêm về lý hóa tính của 2 khí và 5 chất này.

Về âm dương, chỉ nên xem đó như 2 mâu thuẫn nội tại căn bản trong con người, dưới nhiều ngoại biểu khác nhau. Quy tắc âm dương thuận lý hay nghịch lý chỉ nên hiểu như những yếu tố điều hòa hay bất quân bình trong con người và sự việc.

Về ngũ hành cũng vậy. Lối hiểu thực tiễn cũng nên được ứng dụng. Nói như vậy không có nghĩa là những luật sinh khắc của ngũ hành với các ý nghĩa nguyên thủy bị mất hẳn. Duy chỉ nên giải thích theo một hướng rộng rãi và thực tiễn. Ví dụ ta chỉ nên xem Thủy để ngụ ý sự linh hoạt, sinh động, xem Hỏa như bao hàm sự nóng nảy, hăng say, bạo dạn, xem Kim như yếu tố cứng cỏi, bền chặt... còn quy tắc sinh khắc chưa hẳn là tốt hoàn toàn, còn tùy mức độ vừa phải. Quy tắc không bắt buộc phải xấu đương nhiên. Sinh, khắc chỉ xét riêng rẽ thì không thực tế vì chúng ta tách nó ra khỏi môi trường sống cố hữu. Có nhiều trường hợp nghịch cảnh (biểu tượng của đối khắc ngũ hành) đối với nhiều người lại là động lực tốt thúc đẩy sự đấu tranh, đưa đến sự thành đạt nhờ kinh nghiệm thực tiễn. Trong khi đó, có nhiều thuận cảnh (biểu tượng của tương sinh ngũ hành) chỉ có lợi cho kiếp sống cá nhân trong môi trường nào đó, trong thời hạn nào đó, nhưng bất lợi trong hoàn cảnh và thời hạn khác. Phương trình nhân sinh vì các quy tắc nên bao hàm nhiều ngoại lệ và những giới hạn áp dụng. Việc đồ biểu hóa vận số con người trong một lá số nhiều khi chỉ là một khảo hướng tiên đoán có tính cách máy móc, vì lá số, dù tinh vi đến đâu cũng không thể giải đoán một cách độc lập và biệt lập với những yếu tố ngoại lai như hoàn cảnh, giai cấp, môi trường sinh hoạt, huyết thống văn hóa. Chính vì có sự dự phần của nhiều yếu tố ngoại lai này vào kiếp sống con người cho nên triết lý Tử Vi tự nó không mấy gì có giá trị toàn vẹn. Sự giải đoán Tử Vi dựa vào các quy tắc sinh khắc âm dương ngũ hành vẫn còn phải được bổ túc bởi những yếu tố khác, trong đó có những yếu tố ngoại lai vừa kể. Khoa Tử Vi hàm chứa một số quy luật giúp tiên đoán một phần vận số. Nhưng sự chính xác của lời giải còn lệ thuộc vào nghệ thuật vận dụng các quy luật trong bối cảnh các yếu tố ngoại lai nữa.

Vì lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành xuất phát từ Kinh Dịch cho nên thiết tưởng cần tìm hiểu về bộ Kinh này. Có như thế, kiến thức của ta mới hoàn thiện hơn.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn