Bài tổng quan
Nhân tướng phú bàn lo mừng hiện ra ở khí sắc dung mạo
Chuyện chưa tới, lòng người chưa hay, vậy mà sắc khí đã kịp hiện lên trên nét mặt. Sắc vàng như tơ tằm mới nhả là điềm vui đang lên, sắc trắng như tro tàn bị que khêu dậy lại báo chuyện khóc than. Cổ nhân xem khí sắc tinh tế đến từng chặng sinh, vượng, tan…
Từ xưa đến nay, lo lắng và vui vẻ đều biểu hiện ở dung mạo.
Ưu hỉ kiến ư hình dung
Chuyện chưa tới, lòng người chưa hay, vậy mà sắc khí đã kịp hiện lên trên nét mặt.
ƯU HỈ KIẾN Ư HÌNH DUNG
Lo lắng, vui mừng về chuyện chưa xảy ra là điều con người không thể làm. Nhưng khi những điều lo mừng kia chưa đến, thì khí sắc có thể đã xuất hiện trên nét mặt. Điều tốt, khí sắc vui mừng, điều xấu, khí sắc u ám. Có thể hiểu những biểu hiện của khí sắc như thế này:
Màu sắc xanh, dự liệu cho những chuyện lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ.
Màu đỏ, những chuyện đôi co về lời nói, miệng lưỡi.
Màu trắng, có chuyện khóc lóc.
Màu đen, chuyện chết chóc, tang ma.
Màu vàng, có chuyện vui mừng.
Bàn việc xuất hiện những sắc khí khác nhau trên nét mặt, thì nhỏ như con tằm nhả tơ, như con ong nhả mật, nhưng với những người có con mắt tinh tường, lợi hại thì tất cả mọi việc đều rõ ràng. Quan sát các phần khác nhau khí sắc bộ mặt, cần nhanh nhạy, nên cần quan sát từ chuẩn đầu trở lên tận thiên đình, ở tất cả các bộ vị, rồi sau đó quan sát nhân trung, địa các, trên dưới mắt, bên phải bên trái lông mày. Một khi trên mặt xuất hiện những màu sắc bất thường, như ở các vùng chuẩn đầu, thiên đình, ấn đường, thì chỉ trong vòng năm ngày, tai họa sẽ đến.
Khí sắc theo bốn mùa
Cùng một sắc trắng, mùa thu thì hợp thời hưng vượng, mùa xuân lại thành sắc tương hình.
Sách Ca viết: Những điều nhất thiết phải biết là sắc xanh thuộc về mộc, hỏa là của sắc tím, sắc hồng, kim là của sắc trắng, thổ thuộc sắc vàng, thủy là sắc đen.
Mùa xuân thì cần có sắc xanh.
Mùa hạ thì cần có sắc hồng.
Mùa đông mà có được sắc trắng, sắc đen thì những điều vui sẽ đến liên tiếp.
Mùa thu mà có sắc trắng thì hợp thời, hưng vượng.
Nếu mà, không có gì thay đổi thì mọi chuyện bình thường. Nhưng:
Mùa xuân mà có sắc trắng, thì đó chính là khí sắc đối nghịch, tương hình chi sắc. Màu vàng là phản nghịch, màu đen là tương sinh, màu xanh là hòa hợp.
Mùa hạ mà có màu đen là màu tương hình, màu trắng là màu phản nghịch, màu xanh là màu tương sinh, màu hồng là màu hòa hợp.
Mùa thu mà có màu đỏ là màu tương hình, màu xanh là màu phản nghịch, màu vàng là màu tương sinh, màu trắng là màu hòa hợp.
Mùa đông mà đi với màu vàng là màu tương hình, màu đỏ là màu phản nghịch, màu trắng là màu tương sinh, màu đen là màu hòa hợp.
Khí sắc sinh ra từ ngũ tạng
Sáng sớm nó hiện lên khuôn mặt, chiều tối lại trở về với ngũ tạng, cứ thế mà đổi thay không đứng yên.
Sách Quy giám viết rằng: Lo mừng khác thường, không thể không hiện lên khí sắc. Khí sắc có to, có nhỏ, có khi căng rộng, có khi co lại. Tùy theo thời gian mà thay đổi. Nó không bao giờ cố định từ đầu đến cuối. Khí sắc tươi tốt, cũng có khi là điềm báo một việc hung hiểm. Hình dung khô xác lại báo một chuyện tốt lành. Điều này phải tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau mà quan sát. Căn cứ vào những thời điểm khác nhau mà xem nó biến hóa như thế nào. Khí sắc lúc sơ khởi, là do ở ngũ tạng mà phát sinh ra. Buổi sáng sớm trong lành thì xuất hiện trên khuôn mặt, đến chiều tối thì nó lại trở về với ngũ tạng.
Khí sắc có khi hiện rõ lên khắp khuôn mặt, nhưng cũng có khi nó như sợi tơ tằm, dài như một sợi dây, nhưng cũng có khi ngắn như một hạt gạo, nhỏ như một hạt bụi. Có lúc thì nó xuất hiện ở chân lông mà ra, có khi biểu hiện ở những mạch máu. Khí sắc có lúc thịnh lúc suy. Tính chất có lúc cát, lúc hung.
Cần phải vận dụng sự biến hóa của ngũ hành mà quan sát. Màu xanh là dự liệu có tang cha mẹ. Màu xanh này càng biếc, càng thắm lại là điềm cha mẹ cùng qua đời. Còn như màu xanh vừa nhạt, nhu hòa, là điềm có nỗi lo hoạn nạn nào đó sẽ tới. Màu xanh nhạt dần rồi tiêu tan, thì cũng là điềm nỗi lo, hoạn nạn đã qua. Còn như màu trắng sáng đẹp, là điềm có chuyện đáng khóc, màu trắng mà lại tươi nhuận là điềm có đại tang. Màu trắng phớt nhẹ, là dự triệu tiểu tang. Màu đen u ám, chủ về bệnh tật, chết chóc, chiến tranh. Màu đen mà càng đậm, là điềm sẽ chịu đánh đập hình trượng, mà chết. Khí sắc đen tối, chính là điềm bệnh trọng mà chết. Màu trắng khí trắng, màu đen, khí đen nhạt dần, tiêu tán là báo hiệu tai họa dần qua, hoặc đã hết.
Màu đỏ, là điềm có chuyện kinh hãi, lo sợ, dự triệu có chuyện kiện tụng, ngôn từ, tranh đoạt, dẫn đến đòn roi, có họa lao ngục, nếu màu đỏ này càng đậm, càng tươi tốt. Màu đỏ mà lại khô xác, là điềm trong gia đình có chuyện tranh chấp, lời qua tiếng lại.
Trong các loại khí sắc, màu đỏ là màu khó chế ngự hơn cả. Có thứ là do quá nóng trong tâm, mà hiện lên thành màu đỏ trên mặt; có thứ là do tinh thần giận dữ, mà khiến cho sắc diện có màu đỏ. Có loại rất nhanh chóng tiêu tan, có thứ kết thành oán giận sâu sắc ngày qua tháng lại không tiêu trừ được. Trong đó, màu sắc của tật bệnh, quan ngục, lại có màu đỏ khác nhau, không thể đánh đồng, mà phải tùy theo thực nghiệm mà nhận xét vậy thôi.
Màu vàng là điềm của vui mừng. Màu vàng càng đậm càng tươi, niềm vui càng lớn. Màu vàng nhạt, nhỏ, là chuyện vui mừng của vợ con, màu vàng khô, là điềm niềm vui chấm dứt.
Mỗi một khi màu khí thay đổi, đột ngột xuất hiện, thì điềm chóng vánh sẽ dẫn đến. Còn như nó hình hiện dần dần, thì sự việc cũng theo nó mà chậm tới. Nói cho cùng ra là: hiện chậm, dần dần từ nhỏ tới lớn, công việc sẽ tới. Khí sắc đậm, thì điềm ứng với nó càng mãnh liệt. Khí sắc nông nhạt thì điều tới sẽ nhẹ nhàng, vừa phải. Khí sắc dần tiêu tán, thì dự triệu không thành, không có kết quả.
Năm màu khi sinh, khi vượng, khi tan
Màu vàng lúc mới lên như tơ tằm mới nhả, lúc tàn lại như lá liễu úa, mỗi màu đều có ba chặng như thế.
Màu vàng lúc mới xuất hiện, giống như màu tơ tằm mới nhả, càng ngày càng hưng vượng đã là màu của kén, hoặc giả như màu lông đuôi ngựa đến thời kỳ tiêu tán, nó sẽ như màu vàng của lá liễu lúc tan lúc hợp.
Màu đỏ lúc mới xuất hiện, giống như ngọn lửa mới nhen lên, đến lúc hưng khởi chẳng khác gì màu đỏ của lụa điều, của gấm đoạn. Và đến lúc tiêu tán, như những hạt châu hồng, lúc tụ lúc tán, để rồi mất hẳn.
Màu trắng lúc mới hình thành, chẳng khác gì tro tàn bị cái que khêu dậy, đến lúc hưng vượng, nó như là một lớp phấn trắng được bôi trang điểm trên mặt. Hoặc giả, như một tờ giấy trắng vậy, đến khi phát tán, chẳng khác gì tro đất bụi bị nước thấm ướt.
Còn màu đen khi mới hình thành chẳng khác gì cái lông đuôi của con quạ, nó không khác gì những lông ở đầu quạ mượt mà. Đến khi tan biến, nó như đám bọt nước đen.
Màu xanh khi mới xuất hiện, chẳng khác gì màu đông xanh, đến khi phát triển, như màu xanh của lá non mới nhú. Đến khi tiêu trừ, không khác gì đám mây xanh xa xôi.
Phàm khí sắc, tuy tụ nhỏ, nhưng vẫn rất rõ ràng nhất là lúc mới xuất hiện, càng tinh tế. Cho đến khi đã thành rõ rệt, to lớn, thì sự việc đã phát triển tới mức độ cao rồi. Khí sắc nhạt dần, công việc đến thời kết thúc. Khí sắc lúc mới, nó cũng mờ ảo như màu mây khói. Lúc nổi lúc chìm, lúc đậm lúc nhạt như năm sắc mây trời. Cần phải phối hợp với bốn mùa và quan sát tinh tế:
Với ba tháng của mùa xuân thì màu xanh là màu thịnh vượng, màu đỏ là màu tương hòa, màu trắng là màu chết chóc, màu vàng là màu tù tội, màu đen là màu nghỉ ngơi.
Với ba tháng của mùa hạ thì màu đỏ là màu thịnh vượng, màu vàng là màu tương hòa, màu đen là màu chết chóc, màu trắng là màu tù tội, màu xanh là màu nghỉ ngơi.
Với ba tháng của mùa thu thì màu trắng là màu thịnh vượng, màu đen là màu tương hòa, màu đỏ là màu chết chóc, màu xanh là màu tù tội, màu vàng là màu nghỉ ngơi.
Với ba tháng của mùa đông thì màu đen là màu thịnh vượng, màu xanh là màu tương hòa, màu vàng là màu chết chóc, màu đỏ là màu tù tội, màu trắng là màu nghỉ ngơi.
Đại ý thì là: màu vàng là màu của thổ, của đất; cho nên cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đều thịnh vượng. Đó cũng là sinh khí để nuôi dưỡng mầm thai. Vì vậy, màu vàng đa số là điềm triệu tốt lành. Mùa xuân, khí sắc cần phải rộng rãi, mùa hạ thì cần phải phát triển, mùa thu thì trời như hạ xuống, mùa đông cần phải ẩn dấu. Làm thế nào để trong bốn mùa khí sắc đừng tương phản, mới là điều cát tường. Khí mạch cần phải phù hợp. Khởi, bước đầu là ở ý nghĩ, sau là động tác tay chân. Mở mang, rộng rãi, đàng hoàng, nhưng phải ngay thẳng. Hạ, là thấp xuống. Hình tranh của sắc có lúc dài, lúc tròn, phải căn cứ vào khí mà đoán định.
Năm loại đái sát và chín loại thiên la
Tiếng như đánh thanh la, mắt đầy hỏa khí — người xưa gọi đó là mang theo tính chết chóc.
Sách Ngọc quản chiếu thần luận chép: Luận về hình, có năm loại đái sát, mang theo tính chết chóc: hỏa khí bốc đầy con mắt, đó chính là nhãn đái sát. Mạch nhỏ mà dài, đỏ như lửa thần sắc hôn mê, khi trầm, khi say, đấy chính là thần đái sát. Tiếng như đánh thanh la, chính là thanh đái sát. Thích giết đánh người hại vật chính là tính đái sát. Tứ chi cùng các cơ quan có chỗ thương tật, chính là thể đái sát. Nếu thuộc năm loại đái sát này, tính tình thường hiểm ác. Điềm triệu khó mà tránh khỏi cái chết bất thường. Còn như làm các không đến nỗi lớn, thì cũng phải chịu cảnh trói buộc đổ vỡ khốn khổ.
Có bài luận thiên la như sau: mặt nổi bốn phía sắc đen, đấy chính là tử khí thiên la. Khắp mặt hiện sắc trắng, đó là tang khốc thiên la. Khắp mặt xanh một màu, đấy là lo buồn thiên la. Cả mặt một màu vàng, đó chính thị tật bệnh thiên la. Khắp mặt giống như bôi dầu bôi mỡ, đấy là tửu thực thiên la. Mặt mày như say, như ngủ, đấy là mặt của lao ngục thiên la. Ánh mắt láo liên không định, chớp nháy liên hồi, đấy chính là gian dâm thiên la. Thần sắc khô xác, như hơ trên lửa, là phá bại thiên la. Cười nói không thích hợp, không lễ phép, chính là quỷ yểm thiên la.
Xem sắc theo mùa, xem bệnh, xem điềm vui
Chỉ một điểm vàng như sợi tơ hiện ở ấn đường, cổ nhân đã dám đoán chuyện nêu danh chốn triều trung.
Sách Biện ngũ sắc sở thuộc ca viết: Mùa xuân quan sát màu xanh trên sắc mặt thì cần để ý tới thái dương, trung dương, thiếu dương bộ vị. Đấy chính là tam dương bộ vị. Mùa hạ, quan sát sắc đỏ thì tất phải để ý tới ấn đường. Mùa thu, quan sát sắc trắng, thì phải để ý niên thượng, thọ thượng bộ vị. Mùa đông quan sát học đường bộ vị thì sẽ thấy được sự thay đổi của sắc đen.
Sách Chiếm Hanh đạt ca viết rằng: Thượng dương bộ vị mà có màu hồng, màu tím, âm vị có màu vàng nhạt, chuẩn đầu sáng bình, đó chính là điềm sống lâu, là triệu chứng tốt lành.
Sách Chiêm tật quyết chép: Ở chuẩn đầu có điểm nhỏ như máu, đó là điểm của bệnh phổi. Hai bên tai như có khói sương, là điềm của bệnh thận. Vùng niên thượng có màu đỏ, là dấu hiệu của bệnh tim. Mắt có màu xanh, dấu hiệu của bệnh gan.
Sách Chiêm hỉ bách nhất ca viết: Một người mà khắp mặt màu vàng bốc đầy, thì là điềm kiếm được tước lộc cao ở triều đình. Còn như ở vùng nhật giác, khí bốc mây lên, thì chỉ trong vòng một tuần (một tháng chia làm ba tuần, mỗi tuần mười ngày), sẽ được bái nhận chức khanh tướng. Còn những vùng chuẩn đầu có một màu vàng sáng sủa thì là dự triệu của việc vinh hoa cát tường, không vinh hoa thì cũng phát tài lộc. Ấn đường mà có màu vàng nhạt, có màu tím sáng ở thiên trung, long đầu liền với phượng vĩ, sẽ được thăng quan cao. Chỉ cần một điểm sắc vàng như tơ xuất hiện ở ấn đường, nam ly, cũng sáng sủa tương ứng, thì là điềm dương danh ở chốn triều trung. Tỏ trạch, tôn trạch cùng với huyền bích có màu vàng thì bản thân vinh quý đã dành mà con cháu cũng được hưởng. Dịch mã mà có màu vàng, thì có thể đương chức thượng thư. Biên địa xuất sắc vàng thì có thể lập được võ công.
Chuẩn đầu, màu lo âu xuất hiện, tương lai sẽ gặp rắc rối ở cửa công. Màu xanh mà đi vào vùng khẩu giác, thì bệnh tật mà qua đời. Loại người có cái chết như thế gọi là vong hồn. Ở đuôi mắt có sắc xanh nối tiếp với sắc đen, nếu là đàn bà thì sẽ có chuyện lo buồn, hoạn nạn. Màu xanh đen này mà lại thêm tà khí nữa thì chỉ dẫn đến cái chết. Trong vùng ấy, lại xen cả sắc đỏ thì thật khó còn là người nhân thế. Trên mặt mà sắc xanh ngày càng đậm, tai họa sẽ tới vào mùa hạ, mùa thu. Sắc xanh bỗng quy tụ về vùng khẩu giác, thì thân sẽ mắc bệnh trọng mà qua đời. Trên mặt xuất hiện sắc trắng rõ rệt, nếu vào mùa thu thì tương ứng với thời tiết. Nhưng nếu nó quy tụ ở vùng lông mày, vùng trán, chạy về vùng thượng phát, thì sợ rằng sẽ có chuyện buồn đau dồn dập. Lại thêm sắc diện buồn lo còn đi kèm với tai nạn. Những biểu hiện này cứ ngưng tụ mà không tiêu tán thì không thể nào tai họa lại không đến vậy.
Còn cái mà mắt thường nhìn thấy trước nhất là: dáng đi, dáng ngồi, dáng ăn nói. Ấy là chỗ hối hận sinh ư động tác.
Nguồn: Nhân tướng phú — Trần Khang Ninh biên soạn, theo Nhân luận đại thống phú của Trương Hành Giản.
