Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nữ tuổi Thân, tuổi Dậu: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp01/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Người nữ tuổi Thân, tuổi Dậu: thơ đoán vận và phụ giải

Có cô tuổi Nhâm Thân khi giàu thì giàu lớn, khi nghèo cũng nặng, ăn chẳng hết mà đào cũng chẳng ra. Có cô tuổi Đinh Dậu giàu đầu hôm, sớm mai đã hết. Thơ bảo cái khác nhau nằm ở mùa nào và ban nào lúc cô chào đời, nhưng vì sao lại thế?


Nữ mạng tuổi Thân

Tuổi Thân nối theo tuổi Mùi. Mỗi tuổi vẫn mở đầu bằng năm sinh, cung, nạp âm, xương và tướng tinh, kèm vị thần độ mạng, rồi đến thơ đoán vận mạng và đoạn phụ giải tổng quát.

Mậu Thân

Sinh các năm 1908 đến 1968 và 2028. Cung Cấn, mạng Đại trạch Thổ là đất nhà lớn. Xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Mậu Thân cung Cấn, mạng Thổ là đất lớn, nhiều người tài cao. Thuận sinh vào các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; sáu tháng Tỵ, Ngọ cũng được may mắn, thanh nhàn. Thu đông sinh gái, và mùa xuân cũng vậy, đều là lỗi sinh, cực thân. Số cô đôi lần chết hụt; chớ ở gian xảo vì thế cũng chẳng qua được. Hãy lo tích đức tu nhân thì về sau mới an nhàn. Số phải thay đổi nợ duyên, chồng sau mới phỉ nguyền chim yến chim anh. Tuổi nhỏ chẳng yên lành, đến hậu vận mới yên thân. Nếu lòng tin tưởng Phật Trời thì ngày sau con cháu chầu hầu, một đời vinh quang.

Phụ giải: tuổi Mậu Thân nếu sinh thuận ban đêm, vào mùa thu và mùa đông, thì an nhàn phú quý. Tính người vui vẻ, thường gặp những điều may mắn; số chẳng nhờ được anh em họ hàng, phải tự tay làm nên sự nghiệp, phải xa xứ. Số gái có duyên nợ đa đoan, tuổi nhỏ phải cực về sinh kế, về già mới được thanh nhàn. Số này phần đông vất vả, dù có tiền cũng cực thân, con cái chẳng nhờ cậy được. Số thọ đến 69 tuổi; nếu có tu tâm, nên dùng chay lạt một tháng sáu hoặc mười ngày thì mới tốt.

Canh Thân

Sinh các năm 1920 đến 1980 và 2040. Cung Khôn, mạng Thạch lựu Mộc là cây lựu mọc trên đá. Xương con khỉ, tướng tinh con chó sói. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Canh Thân số mạng như vầy: cung Khôn mạng Mộc, là cây lựu đá xanh. Hạ thu là lỗi số, bất thành; thuận mùa thu thì sang, đông xuân mới nhàn. Số cô có lúc bị hàm oan, nhưng nhờ phước trời ban mà yên lành. Thơ khuyên cô tích đức tu thân, về sau mới được an nhàn. Chỉ buồn duyên nợ đa đoan, người sau mới được thỏa nguyền ước mơ. Tuổi nhỏ chẳng yên thân, lớn tuổi mới làm nên. Nếu niệm Phật ăn chay thì ngày sau được hưởng của trời ban cho.

Phụ giải: tuổi Canh Thân nếu sinh thuận vào mùa đông và mùa xuân thì được nhàn hạ, người có cốt cách phong lưu, giàu sang phú quý. Phải sinh ban ngày thì trọn tốt; cô nào sinh ban đêm là lỗi số, phải chịu gian lao khổ cực. Tuổi Canh Thân tính hiền hòa nhưng số gái phải chịu truân chuyên về đường lương duyên. Tiền vận có việc buồn. Số vượng phu ích tử, có tiền cũng cực thân, nặng vì chồng, lo vì con. Số trường thọ, nên ăn chay niệm Phật thì tốt.

Giáp Thân

Sinh các năm 1944 đến 2004 và 2064. Cung Khôn, mạng Tuyền trung Thủy là nước trong giếng. Xương con khỉ, tướng tinh con heo. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Giáp Thân mạng Thủy, nước ở trong giếng, ai cũng đồn như vậy, chẳng sai. Nếu nàng sinh được thu đông thì giàu hay nghèo cũng sướng, bởi sinh thuận mùa. Xuân hạ sinh ra thì cực phần, như cây rụng lá, như cua gãy càng. Lỗi sinh thì vất vả bần hàn, không ai nương tựa, ngó ngàng đến ta. Số cô trắc trở tứ bề, vợ chồng xung khắc mà lại đông con. Lỗi sinh mà ăn ở thẳng ngay thì Phật Trời phò hộ, có ngày vinh quang. Ai ăn ở hai lòng thì Phật Trời chẳng độ, khó lòng làm nên. Số này tiền của có thừa; nếu đức tốt thì cuộc đời giàu sang.

Phụ giải: tuổi Giáp Thân, quý cô nào sinh vào mùa thu và mùa đông, lại nhằm ban đêm, ấy là thuận số, cuộc đời hoàn toàn sung sướng, có chồng giàu sang, địa vị quan trọng trong xã hội. Cô nào sinh nhằm ban ngày, nhất là mùa xuân và mùa hạ, thì xấu số, phải tu tâm tích đức thì Trời Phật độ cho mới khá. Người đàn bà tuổi Giáp Thân thường hay khổ tâm cực trí vì chồng vì con. Cuộc đời lúc nhỏ vất vả; trung vận có của, nhưng phải có đức độ thì mới mong giữ được của.

Bính Thân

Sinh các năm 1956 đến 2016 và 2076. Cung Khôn, mạng Sơn hạ Hỏa là lửa dưới núi. Xương con khỉ, tướng tinh con quạ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Bính Thân mạng Hỏa cung Khôn, lửa ở dưới núi cháy lan đỏ trời. Tuổi sinh xuân hạ gặp thời, giàu nghèo cũng được yên nơi thanh nhàn. Thu đông là lỗi số chẳng an; có của mà chẳng hưởng, số nàng cực thân. Số cô cực khổ quá tay; thuận sinh thì thong thả, giàu sang mấy hồi. Có điều duyên đầu lỡ dở, chồng sau mới hạp, thuận hòa lứa đôi. Số trời đã định, tài ba cho lắm cũng chẳng qua số phần. Cuộc đời có tài, có sắc, có danh; đến vận giữa mới làm nên. Số người có kẻ giúp thương, đắc tài, hữu lộc, nhưng phải qua ba mươi tuổi.

Phụ giải: số các cô tuổi Bính Thân phần đông đều được sung sướng; dù là thuận sinh hay lỗi số cũng chẳng đến nỗi vất vả. Có điều việc chồng con thì khó ở trọn một đời chồng, vợ phải thay đổi thì đời chồng sau mới làm nên danh nghiệp. Tuổi này ít khi gặp tai nạn hay bệnh tật. Giữ được của và tụ tài phải ngoài ba mươi tuổi mới chắc; số lại ít con, có căn tu hành, chịu làm phúc đức, nhờ Trời Phật che chở nên nhiều khi gặp nạn rồi cũng thoát qua. Số thọ đến 67 tuổi; nếu ở ác thì thọ không đến 43 tuổi.

Nhâm Thân

Sinh các năm 1932 đến 1992 và 2052. Cung Khôn, mạng Kiếm phong Kim là vàng trong lưỡi gươm. Xương con khỉ, tướng tinh con dê. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, vàng trong cây kiếm, ít người tìm ra. Sinh nhằm tháng chạp, tháng ba; mùa thu rất tốt, sinh được đúng mùa. Thuận sinh thì kẻ đón người đưa, kẻ hầu người hạ sớm trưa nhộn nhàng. Lỗi sinh thì cực khổ lang thang, tay bùn chân lấm ngoài đường. Nợ tình cũng chẳng thuận đôi, khiến cuộc đời tan rã, quạnh hiu. Số phải chịu cảnh xa quê, lập nghiệp xứ lạ mới nên gia đạo. Ba mươi tuổi có của mà chẳng yên; bốn mươi tuổi mới chắc, mới yên cuộc đời.

Phụ giải: số tuổi Nhâm Thân khi giàu thì giàu lớn, khi nghèo thì cũng nặng; khi ăn chẳng hết, khi đào chẳng ra, ấy là số tuổi Nhâm Thân. Cô nào thuận sinh nhằm mùa thu, nhất là ban ngày, thì được quý tướng, có chồng giàu sang phú quý. Sinh vào ban đêm thì lỗi số, lúc nhỏ khó nuôi, lại có tiểu tật. Tuy vậy, cô nào sinh thuận thì trí sáng suốt, tính tình hiền hậu, liêm sỉ, duyên dáng, ăn nói dịu dàng, được chồng nể nang, ăn nói được nhiều người nghe, hùng biện. Tuổi nhỏ không khá, lớn tuổi mới thành gia.

Nữ mạng tuổi Dậu

Sau tuổi Thân, sách đến tuổi Dậu, vẫn giữ nguyên cách ghi và bốn mùa sinh làm thước đo thuận lỗi của từng cô.

Kỷ Dậu

Sinh các năm 1909 đến 1969 và 2029. Cung Ly, mạng Đại trạch Thổ là đất nhà lớn. Xương con gà, tướng tinh con thỏ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Dậu mạng Thổ cung Ly, đất ở nhà lớn dễ gì tìm ra. Hạp các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; sáu tháng Tỵ, Ngọ hạp mùa, thuận sinh. Thu đông chẳng hạp, chẳng yên; tuy làm giàu có cũng là cực thân. Ban đầu có của kho, thế mà chẳng được vững bền, tiêu hao. Nhà cửa nhiều lớp rã tan, sắm rồi bán, chẳng bền về sau. Nhưng nhờ đức Phật Trời, làm ăn có của ở vận sau. Lỗi sinh thì phần phước xấu, chơi bạn không tốt, nhiều lần bạn hại ta. Vợ chồng chẳng được thuận hòa, thế mà con cái lại đầy đàn, phải lo.

Phụ giải: số tuổi Kỷ Dậu sinh thuận mùa thu và mùa đông, mà lại vào ban ngày, thì được tốt. Số làm ra tiền của nhưng tuổi nhỏ giữ không được của, số giàu đầu hôm, khó sớm mai. Từ 40 tuổi trở đi mới tụ tài. Vợ chồng khắc khẩu, hay cãi vã nhau, nhưng con cái đông đủ. Tính người chân chất thật thà; số có chồng phải là người xa xứ, khác làng, phải lập nghiệp phương xa thì mới khá. Người có tính hiền hậu, hay thương bạn bè, nhưng thường bị bạn phụ. Số này phần đông sống về tình cảm nhiều hơn.

Tân Dậu

Sinh các năm 1921 đến 1981 và 2041. Cung Càn, mạng Thạch lựu Mộc là cây lựu đá. Xương con gà, tướng tinh con chó. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ nói Tân Dậu mạng Mộc cung Càn, tốt thay; cây lựu kề đá, Mộc ẩn mình. Đông xuân sinh được thuận mùa, tốt số cô. Hạ thu sinh gái là lỗi thời; dù giàu có của, số nàng vẫn phải lo. Đàn bà như thế ít có lắm, ra vai gánh vác, đảm đang cho chồng. Nhưng làm sao ở được lâu; duyên đầu chẳng thuận, duyên sau mới hòa. Tân Dậu số đàn bà tính tình cứng cỏi, chẳng chịu lụy ai. Lỗi sinh thì lao khổ tứ bề, nhà cửa dời đổi, xa quê, xa họ hàng. Tuổi già thọ do trời ban, vinh hoa phú quý, một đời ấm no.

Phụ giải: đàn bà tuổi Tân Dậu được tính tình tốt, dù nóng tính nhưng không hề hại ai, giận thì nói dữ, tức khẩu xà tâm Phật. Cô nào sinh nhằm mùa thu và mùa đông mà lại ban ngày thì trọn tốt, cuộc đời giàu sang phú quý; còn sinh nhằm ban đêm là lỗi số, phải chịu nghèo khổ gian lao. Số thân tự lập chứ không nhờ anh em họ hàng. Số cao, trường thọ.

Quý Dậu

Sinh các năm 1933 đến 1993 và 2053. Cung Chấn, mạng Kiếm phong Kim là vàng trong gươm. Xương con gà, tướng tinh con đười ươi. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, vàng trong gươm trắng, có phần giàu sang. Gái mà sinh được con này, như thơ chép: nam Nhâm nữ Quý rõ ràng chẳng sanh. Cô được sáng suốt tinh thần, nói năng lưu loát, mọi người mến thương. Quý Dậu có nhiều người hiền lành, ít ai ở dữ, gian manh, bạo tàn. Hậu vận có của mới yên; tiền vận làm có của kho mà chẳng còn. Phải để hai dòng cho mẹ mới yên, nếu không thì chồng vợ khó bề ở yên. Trung niên hay đổi dời, ai có chí mới mong vẹn toàn. Sinh được gái đầu lòng thì làm ăn mới khá, mới mong làm giàu.

Phụ giải: số gái mang con quý như tuổi Quý Dậu này thì cuộc đời khá tốt, ít lận đận, trừ khi cha mẹ thiếu âm đức mới bị gian nan khổ cực. Thuận sinh thì phải nhằm mùa thu và mùa đông mới được giàu sang phú quý. Nếu sinh nhằm ban đêm thì tốt hơn; số có quý nhân giúp đỡ nên trong cuộc đời thường gặp nhiều may mắn. Lúc nhỏ có phần chưa được giữ của, chưa yên; trở về hậu vận thì vinh hiển phú quý ít ai bằng.

Ất Dậu

Sinh các năm 1945 đến 2005 và 2065. Cung Chấn, nhưng thơ chép là cung Cấn; mạng Tuyền trung Thủy là nước trong giếng. Xương con gà, tướng tinh con cua. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Ất Dậu cung Cấn, số nàng mạng Thủy, là nước giếng chảy hoài liên miên. Thu đông sinh thuận thời, yên ổn; gái thì sung sướng như tiên giáng trần. Xuân hạ là lỗi số, cực thân; có chồng mà chẳng trọn niềm chăn gối. Trung niên cũng chẳng có phần, lo lắng, bươn chải, tảo tần lo thân. Lập nên nhà cửa nhiều lần mà cũng rã vì chưa yên. Hậu vận mới được an nhàn, làm ăn có của, tụ tài. Số phải tu niệm ăn chay thì Trời Phật độ, may ra được giàu sang. Tấm thân mạnh khỏe, thảnh thơi; gia tài sự nghiệp có thời mới nên.

Phụ giải: số gái tuổi Ất Dậu phần đông phải chịu cảnh bẽ bàng duyên phận, có nhiều cô phải nuôi con cho chồng, tức làm thứ thiếp. Số đàn bà này vượng phu ích tử, lo cho người nhiều hơn là lo cho bản thân mình. Nhưng lại là người có tài trí sáng suốt, học ít biết nhiều, thích sống cuộc đời phiêu bạc, rày đây mai đó. Sống nhờ người dưng nước lã chứ chẳng có họ hàng. Vận sau nếu có tu nhân tích đức thì may ra mới được giàu sang.

Đinh Dậu

Sinh các năm 1957 đến 2017 và 2077. Cung Cấn, mạng Sơn hạ Hỏa là lửa dưới núi. Xương con gà, tướng tinh con khỉ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Đinh Dậu cung Cấn, lửa ở dưới núi cháy hoài ngày đêm. Xuân hạ sinh được hạp thời, nhưng Hỏa bị Thủy khắc, đảo điên cực lòng. Thu đông là lỗi số của nàng, làm ăn vất vả, tiền tài chẳng yên. Số tuổi này gặp tai nạn hãi hùng, tưởng đã bỏ xác nhiều nơi. Nhưng nhờ ơn đức Phật Trời độ cho qua khỏi mấy lần nạn tai. Số này trung vận lao đao, khá rồi lại tan rã, số ta chưa giữ được. Hậu vận mới được an thân, dư ăn dư mặc, của tiền đầy kho. Nhưng vận mạng đổi dời, lập nên gia nghiệp phải xa quê nhà.

Phụ giải: số tuổi này tiền vận thì khá nhưng chưa giữ được của, cho nên có thể nói là giàu đầu hôm, khó sớm mai. Nếu thuận sinh vào mùa thu và mùa đông thì lại là lỗi số, nên phải vất vả gian truân. Một đời vinh hiển, con cháu đông đủ, gia môn an hòa.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp