Bài tổng quan
Âm đức cải số: chuyện Lý Phùng Xuân và các cách nữ mệnh
Một thầy tướng nói Lý Phùng Xuân chết đến nơi rồi, vậy mà giữa đường mưa gió, ông cho một kẻ đói rét tiền gạo. Lần gặp sau, chính ông thầy ấy giật mình vì tướng người khác hẳn. Điều gì đã thay đổi trên gương mặt ấy…
Phụ Bật, Cự Lương, Thiên Lộc và các cách tọa thủ
Phụ Bật ngộ Tài Quan, y phi trước tử (màu tía).
Như Thân Mệnh có chính diệu cát tọa thủ, hai cung Tài Quan có Phụ Bật tọa thủ lại chiếu, là cách phú quý tột phẩm.
Cự Lương tương hội, Liêm Trinh tính hơn Lộc, uyên ương nhất thế vinh.
Bốn sao Cự, Lương, Liêm, Lộc, ba cung hợp nhau gặp ở cung miếu địa, ở cung Phu Thê ắt là vợ chồng hòa hợp và một đời vinh hiển.
Vũ Khúc nhàn cung đa thủ nghệ, Tham hãm địa tác đồ nhân (hàng thịt).
Vũ Khúc thủ Thân Mệnh ở cung Tị Hợi gia Sát tinh là làm nghề thủ công. Thân Mệnh an ở cung Tị Hợi có Tham Lang gia Sát ắt là đồ tể hay chết non.
Thiên Lộc triều viên, thân vinh quý hiển.
Như người sinh năm Giáp lập Mệnh ở cung Dần, Giáp Lộc Tồn an ở cung Dần, có Mệnh an ở đấy gọi là Lộc chiếu viên cách. Như người sinh năm Canh Lộc cư Thân, Ất Lộc cư Mão, Tân Lộc cư Dậu, bốn vị ở trên có Lộc Tồn thủ Mệnh thì cũng như trên. Tại bốn cung Tị, Hợi, Tý, Ngọ không phải cách trên.
Khôi tinh lâm Mệnh, vị liệt Tam thai.
Như an Mệnh ở cung Ngọ có Tử Vi ngộ Văn Xương Khôi Việt đồng cung, người sinh năm Bính là cách rất lạ, chức vị định quyết, vào hàng Tam công.
Vũ Khúc cư Kiền Tuất Hợi thượng, tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang.
Quẻ Kiền ở trên địa bàn ở giữa hai cung Tuất Hợi. Vũ Khúc tại cung Tuất Hợi thủ Mệnh, ba phương có Tham Lang, Hóa Kỵ và hợp Thái Âm gia Sát tinh thì hung, chủ thiếu niên bất lợi. Hoặc có Tham Hỏa xung phá lại là chủ quý. Người sinh năm Giáp, Kỷ, Nhâm thì hợp cách.
Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng Mộ trung tàng.
Như Vũ Tham Hóa Lộc thủ chiếu Mệnh thì phú, lại có cát tinh thì phú quý song toàn. Nếu Lộc ở Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi lại thành vô dụng, là Lộc bị Mộ, tức như bị chôn đi mà không phát lên được.
Tý Ngọ Cự Môn, thạch trung ẩn ngọc.
An Mệnh ở cung Tý Ngọ có Cự Môn tọa thủ, các cung hợp chiếu như Dần Tuất, Thân Thìn lại có Khoa Lộc nữa thì chắc chắn được phú quý, như trong đá có ngọc.
Minh Lộc, ám Lộc, cẩm thượng thiêm hoa.
Minh Lộc là có Hóa Lộc tọa thủ Mệnh. Ám Lộc là cung hợp với cung Thân Mệnh có Lộc. Như người sinh năm Giáp lập Mệnh ở cung Hợi có Hóa Lộc tọa thủ, lại cung Dần (Dần hợp Hợi) có Lộc Tồn, gọi là cách trên. Hoặc có Hóa Khoa ở cung đằng trước, cung Mệnh có Lộc tọa thủ cũng như cách trên, thì tốt lắm, như gấm thêm hoa.
Sao hãm địa gặp hóa cát, Nhật Nguyệt phản bối và chuyện Lý Phùng Xuân
Cách dễ thấy thì dễ đoán; còn khi Tử Vi gặp Phá Quân ở Thìn Tuất, hay Cự Môn, Thiên Đồng rơi vào hãm địa, một sao hãm gặp hóa cát mới thấy hết kết quả.
Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú nhi bất quý, hữu hư danh.
An Mệnh ở hai cung Thìn Tuất có Tử Phá tọa thủ là hãm địa, tất không quý, chỉ có hạng trọc phú, quý hư danh.
Xương Khúc Phá Quân phùng hình khắc, đa lao toái.
Như cung Mão Dậu Thìn Tuất có Phá Quân thủ Mệnh, tuy được Xương Khúc cũng không được toàn cát; nếu gặp hình khắc Kỵ ắt bị nhiều sự lao đao khổ cực, cũng không đủ quý.
Tham Vũ mộ trung, tam thập triển phát phúc.
An Mệnh Thân ở Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi có Tham Vũ tọa thủ, chủ thiếu niên bất lợi; gia Hóa Kỵ thì chết non. Quyết đoán: Tham Vũ không thể phát được trong tuổi thiếu niên, quá ba mươi tuổi mới phát phúc thọ.
Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối, Đinh nhân hóa cát chủ đại quý.
Sao Thiên Đồng ở cung Tuất là hãm địa; mà người sinh năm Đinh, hai cung Dần Tuất có Lộc Tồn, Hóa Lộc, lại được Dần Thìn hóa cát xung củng chiếu thì định chủ đại quý. Sao Thiên Tướng cũng vậy. Có thêm Sát hung tinh thì chỉ làm hung đồ hay là hạ cách.
Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát Lộc tranh vinh.
Cự Môn tọa Mệnh ở cung Thìn Tuất là hãm địa. Như người sinh năm Tân, Cự Môn hóa Lộc tại cung Thìn, có Lộc Tồn ở cung Dậu hợp ám. Nếu Mệnh cư tại cung Tuất thì được Lộc Tồn ở Dậu giáp Mệnh, ắt chủ phú quý vinh hiển; nếu thêm Sát tinh thì không phải cách đó.
Cơ Lương Dậu thượng hóa cát giả, túng ngộ Tài Quan dã bất vinh.
An sao Cơ Lương ở cung Dậu là tướng địa (cung sinh sao). Dậu thuộc Kim, Thiên Lương thuộc Thủy, Thiên Cơ thuộc Mộc (Dậu sinh Lương Thủy, sinh Cơ Mộc), tuy phùng hung hóa cát nhưng vô lực. Sao Cự Môn cũng vậy. Không có lực thì không mạnh phát, nên nói là túng sử có gặp ở cung Tài, Quan cũng không được vinh hiển.
Nhật Nguyệt tối hiềm nghi bối, nãi vi thất huy.
Thái Dương tại Thân Dậu Tuất Hợi Tý (về đêm), Thái Âm tại Dần Mão Thìn Tị Ngọ (về ngày) thì Nhật Nguyệt không sáng, thì làm sao được. Cũng có những người được Nhật Nguyệt phản bối mà được phú quý, làm nghĩa làm sao? Vậy phải coi người xem là người đàn ông hay đàn bà, cha mẹ sống chết ra sao, sinh ban đêm hay ban ngày, xem bản cung tam hợp có cát hóa củng chiếu không, rồi sau mới quyết định được. Nên Ngọc Thiềm tiên sinh thường nói rằng:
Lời nghị bàn lý đoán trong số Tử Vi thật tối tinh vi, cái phép đoán số phải biến thông, hoạt bát theo sự thông minh suy nghiệm của người xem số vậy.
Thân Mệnh định yếu, tinh cầu khủng sai phân số.
Trong số Tử Vi thì cốt có Thân Mệnh, phải lấy giờ sinh cho thật đúng, chỉ sợ sai thì không phân biệt được. Giờ có đúng thì an Thân Mệnh vào cung nào mới đúng. Sau mới xem cung sinh vượng Tử Tuyệt ra sao, rồi mới lấy sự suy nghiệm các sao mà đoán.
Âm chất diên niên tăng bách phúc, chi ư hãm địa bất tao thương.
Âm chất tức là cái âm đức của người, do đó mà họa phúc an bài. Nếu âm chất của người ta được thịnh vượng thì cung Phúc Đức ắt được cung sao sum họp. Cung Phúc Đức tốt, cư nơi vượng địa, ắt được tăng bách phúc. Cho rằng Thân Mệnh cư tại nhược địa, hay hạn hành vào cung nhược địa đi chăng nữa thì cũng có thể qua được những sự tao thương nguy khốn. Như ví dụ dưới đây ta sẽ thấy cái đức của người có thể cải được số mệnh mình vậy.
Lý Phùng Xuân đi đến chỗ anh trấn nhậm ở Hồ Quảng chơi, giữa đường gặp một thầy tướng trứ danh xem tướng cho, ông nói rằng: "Ông chết đến nơi rồi, cứ đi thì gặp." Phùng Xuân bán tín bán nghi, lủi thủi đi một cách tuyệt vọng, đi đến nửa đường thì gặp mưa to gió lớn, thấy một kẻ đói rét liền cho tiền gạo. Cảm cái ơn đức ấy, người cha già xin hiến đứa con gái để bồi ân. Phùng Xuân cố chối từ, ra đi về Hồ Quảng và không hề nghĩ đến chuyện đã xảy ra.
Về sau ông thầy tướng lại gặp ông, giật mình và coi tướng ông khác hẳn, nói rằng: "Âm chất đã hiện ra, vậy bây giờ khí sắc sung vượng, có tướng cư nơi Thai các." Hỏi đi hỏi lại ba lần vì cớ làm sao, Phùng Xuân không đáp. Nhưng sau ông cũng biết vì cái đức thành thật cứu người không nghĩ đến sự báo ơn. Đó là "Đức năng thắng số", cái âm đức là cái gì thiêng liêng của con người có thể hòa được họa phúc, an được tai ương. Nên học giả cần phải cân phúc đức từng số một, ắt quá khứ vị lai an bài tỏ rõ vậy.
Mệnh thực vận kiên, cảo điền đắc vũ, nộn thảo tao sương.
Như Mệnh tọa nơi hãm địa lại được ba nơi có cát tinh củng chiếu thì cũng luận là phúc. Như Mệnh có cát tinh ở sinh vượng địa, gặp vận hạn bí tắc cũng không đến đỗi nguy khốn, ắt có sự cứu giúp như ruộng khô gặp mưa rào, cỏ non gặp sương buổi sáng.
Tính thiện ác của các sao khi luận Mệnh
Cứu được kẻ đói giữa mưa gió mà đổi cả tướng số, ấy là chuyện tâm; vì vậy khi luận Mệnh phải xem tính cách của từng sao lành dữ ra sao.
Luận Mệnh tất suy tinh thiện ác, Cự Phá Kình Dương tính tất cương.
Luận Mệnh cũng phải xem tính cách các sao thiện ác ra sao. Nhưng gặp ba sao Cự Môn, Phá Quân, Kình Dương ở nơi hãm địa, không những chỉ cứng cỏi đầu bò, lại chủ khẩu thiệt thị phi; nếu thêm Sát tinh nữa thì thương tài phá bại.
Phủ Tướng Đồng Lương tính tất hiếu, Thất Kiếp Không tham tính bất thường.
Bốn sao Phủ Tướng Đồng Lương là Nam đẩu tinh thuần dương, là sao phù trợ bên trong, Thân Mệnh gặp được thì ác tính trung hòa. Nếu Tham Lang ngộ Hỏa đồng thì phú quý; chỉ Không Kiếp lâm vào thì đoán tính tình bất thường.
Xương Khúc Lộc Cơ thanh tú xảo, Âm Dương Tả Hữu tối từ tường.
Được bốn sao Xương Khúc Lộc Cơ thủ Mệnh thì được anh hoa tú lệ, thông minh phú quý. Như được Âm Dương Tả Hữu tọa Mệnh, không bị Sát chủ, người thanh kỳ đôn hậu, phú quý độ lượng khoan hồng.
Vũ Phá Trinh Tham xung hợp, khúc toàn đồng chí; Dương Đà Thất Sát tạp hộ, kiến tắc thương.
Thân Mệnh cung tam hợp ngộ Vũ Phá Liêm Tham Phủ chiếu lại có hóa cát ắt phú quý. Sao Tử Vi hay dâng quyền uy cho Thất Sát, hay sử sao Dương Đà thành thiện, nên Tử Vi tọa thủ Thân Mệnh ngộ các sao trên thì càng tốt, nhưng về sau lúc già không được vui vẻ đẹp đẽ.
Tham Lang, Liêm Trinh, Phá Quân ác; Thất Sát, Kình Dương, Đà La hung.
Như Thân Mệnh tam hợp có sáu sao thủ chiếu lại có Hóa Kỵ, không có hóa cát thì chủ dâm tà phá hoại. Hoặc tai thương hình khắc. Nếu được nhập miếu và hóa cát tuy được phú quý nhưng người vẫn hung ác.
Hỏa Tinh, Linh Tinh chuyên tác họa; Kiếp Không, Thương Sứ họa trùng trùng.
Đại tiểu hạn mà gặp những hung tinh trên chủ tai ương, hối lẫn đa đoan. Như Thân Mệnh mà gặp gia cát tinh thì Hỏa Linh là chủ hư hao; Kiếp Không Thương Sứ bất nghi.
Cự Môn Kỵ tinh giai bất cát, vận Thân Mệnh hạn Kỵ tương phùng.
Hóa Kỵ tinh là thần đa quản (giữ gìn, quản trị) Thân Mệnh ở mười hai cung, hai hạn gặp nó đều chủ không tốt, huống hồ lại gặp Cự Môn chủ ám, vốn đã không tốt; nếu ở hãm địa nữa nhất định là không tốt, không nên gặp.
Cánh Liêm Thái Tuế Quan Phù, chí quan phi khẩu thiệt quyết bất không.
Thái Tuế Quan Phù là cái gốc của thần hưng tụng (hay kiện cáo), huống hồ lại gặp sao Cự Môn là sao chủ thị phi, lại có Liêm Phá Kỵ lâm vào nữa, ắt phải có sự quan tụng hay thị phi khẩu thiệt không thể tránh được.
Điếu Khách Tang Môn hựu tương ngộ, quản giáo tai bệnh lưỡng tương công.
Điếu Khách Tang Môn bản chủ hình hiếu (bị hình phạt và đại tang); như không gặp Thất Sát thì hình có thể tránh được. Nếu hai sao ở cung Tật Nguy lại gặp Hóa Kỵ nữa ắt là tai ương và bệnh tật cùng gặp vậy.
Thất Sát thủ Thân, chung thị yểu bần; Tham Lang nhập Mệnh, tất chi sương.
Sao Thất Sát thủ Thân Mệnh ở hãm địa gia hung tinh thì bị yểu bần. Như Tham Lang thủ Mệnh không có Sát tinh, hoặc ở tam hợp có cát tinh chiếu lại, chủ dâm dật (Tham Lang là sao đào hoa thứ hai). Như gia Sát tinh hãm địa thì trai chủ phóng đãng, gái chủ góa bụa.
Tâm hảo Mệnh bạc diệc chủ thọ; tâm độc Mệnh bạc diệc yểu vong.
Câu trên là luận về âm đức của tiền nhân, câu sau luận cái đức bạc của con người. Người có tâm hảo mà Mệnh bị hãm địa, nhược địa thì cũng có thể thọ được. Đây vẫn giữ cái nghĩa của câu "Đức năng thắng số". Mệnh đã bạc lại không có đức, tâm độc ác ắt chết non. Như Gia Cát Vũ Hầu đời nhà Hán vì dụng trí thiêu mây để làm giáp trụ nên bị giảm thọ vậy. Người lý học cần phải thận trọng suy tường phân minh. Cái Mệnh con người đáng giá nghìn vàng, nên phải biết xét thấu cái thời của mình cho xác đáng, biết lúc khơi lên, hư thực, đầy vơi, trường đoản, thiểu đa mà luận, chớ để cái thời vận quý nó qua mất uổng vậy.
Luận các cách thuộc nữ mệnh
Từ những lời luận chung ấy, người xưa mới tách riêng số đàn bà ra thành một hàng cách cục để xét.
Phủ Tướng chi tinh nữ Mệnh triền, tất dưỡng tử quý dữ phu hiền.
An Mệnh ở cung Ngọ có hai sao Phủ Tướng tọa thủ, người sinh năm Giáp thì hợp cách. An Mệnh ở cung Tý có hai sao tọa thủ, người sinh năm Kỷ thì hợp cách. An Mệnh ở cung Thân có hai sao tọa thủ, người sinh năm Canh thì hợp cách, là mệnh phụ được vinh hiển phong tặng, chồng hiền hậu con cái làm nên.
Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.
An Mệnh ở cung Mùi có Liêm Trinh, người sinh năm Giáp là hợp cách. Mệnh tọa cung Thân, người sinh năm Quý là hợp cách. Mệnh tọa cung Dần, người sinh năm Kỷ là hợp cách; đều là thượng cách, phú quý và vinh hiển. Nữ Mệnh mà được Liêm Trinh tọa thủ ắt là thanh bạch, tức là cái quý nhất của các bà mệnh phụ; người thanh bạch tồn được cái đức mà con cháu ngày sau do đó mà trưởng thành và vinh hiển vậy.
Cánh hữu Thiên Đồng lý diệc nhiên.
Mệnh tọa cung Dần có sao Thiên Đồng, người sinh năm Giáp là hợp cách. Mệnh tọa cung Mão có sao Thiên Đồng, người sinh năm Ất là hợp cách. Mệnh tọa cung Tuất có sao Thiên Đồng, người sinh năm Đinh là hợp cách. Mệnh tọa cung Tị có sao Thiên Đồng, người sinh năm Bính là hợp cách. Mệnh tọa cung Hợi có sao Thiên Đồng, người sinh năm Bính Tân là hợp cách, đều chủ phú quý.
Đoan chính Tử Vi, Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tín khả bằng.
An Mệnh ở cung Ngọ, Tị có Tử Vi hay Thái Dương tọa thủ chủ phú quý; người đoan trang lại sớm gặp được người hiền lành có nhân cách, tiếng tăm người người đều biết.
Thái Dương Dần đáo Ngọ, ngộ cát chung thị phúc.
An Mệnh từ cung Dần đến cung Ngọ, có Thái Dương tọa thủ gia cát tinh cũng chiếu, định chủ phú quý; ở hãm địa thì bình thường.
Tả Phụ Thiên Khôi vi phúc thọ, Hữu Bật Thiên Tướng phúc tương lâm.
An Mệnh có bốn sao trên tọa thủ ở cung vượng đắc địa chủ phúc thọ vinh xương.
Lộc Tồn hậu trọng đa y thực, Phủ Tướng triều viên Mệnh tất vinh.
An Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ đắc địa là người phong túc; nếu có Phủ Tướng triều viên Mệnh tất vinh hiển. Như Mệnh có Phủ ở Thân và Tướng ở Dần, hay ngược lại, là cách Phủ Tướng triều viên; người sinh năm Giáp Canh là thượng cách, sinh năm Tân là thứ cách. Như người sinh năm Bính Mậu Đinh Kỷ Nhâm Quý lại an Mệnh ở cung Tị Ngọ Tý Hợi thì không tốt.
Tử Phủ Tị Hợi tương mộ phụ, Tả Hữu phù trì phúc tất sinh.
An Mệnh ở hai cung Tị Hợi có Tử Phủ tọa thủ, lại có Tả Hữu xung chiếu giáp, giả thêm liêm cát hóa tất là phú quý vậy.
Cự Môn Thiên Cơ vi phá đãng.
An Mệnh ở cung Dần Mão Thân có sao Cự Cơ tọa thủ, tuy là cung vượng địa, nhưng đến sau phúc cũng không được toàn mỹ, nên nói là phá đãng.
Thiên Lương Nguyệt diệu, nữ Mệnh bần.
An Mệnh ở cung Tị Hợi có Thiên Lương, hay an Mệnh ở cung Dần Thìn có Thái Âm, số đàn bà là nghèo hèn, hạ tiện.
Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn.
Hai sao Xương Khúc nên ở số đàn ông hơn đàn bà. Theo cổ xưa vẫn còn sự phân biệt nam nữ gắt gao cho nên mới nói vậy. Cái lý Xương Khúc chủ về văn chương khoa giáp, đối với người đàn bà Trung Hoa trong thời phong kiến thật là vô dụng. Đàn bà bị cấm không được đi thi, cho nên một khi hai sao an vào Thân Mệnh thì ắt là thông minh nhưng phúc lại không toàn, vì các cung khác ắt thiếu, và thông minh lỗi lạc, tài năng không được mang ra thi thố với đời, nên nói là phúc bất toàn vậy. Nhưng hiện kim tài năng của trai hay gái không có sự hạn chế, nên phải xét đoán theo thời mới đúng. Vậy nhà lý học cần phải xét đoán cho minh bạch, hầu để cho một lý đoán chắc chắn.
Vũ Khúc chi tú vi quả tú.
Sao Vũ Khúc nên ở số đàn ông hơn đàn bà. Như Mệnh có Vũ Khúc tọa thủ lại có Tham Lang đắc địa ở ba phương củng chiếu là có thể làm nữ tướng; nhưng nếu lại gặp Xương Khúc gia Sát thì bị cô bần, quả phụ.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
