Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nữ tuổi Ngọ, tuổi Mùi: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp01/10/202614 phút đọc3 lượt đọc
Người nữ tuổi Ngọ, tuổi Mùi: thơ đoán vận và phụ giải

Cùng một tuổi Giáp Ngọ mà có kẻ sang người hèn, bài thơ viết. Cô sinh mùa thu đông thì được ăn trên ngồi trước, cô sinh xuân hạ thì lang thang đó đây, còn có người giàu từ thuở hoa niên rồi thình lình tan vỡ. Điều gì quyết định chuyện ấy?


Nữ mạng tuổi Ngọ

Sách tiếp tục với tuổi Ngọ. Mỗi tuổi mở đầu bằng năm sinh, cung, nạp âm, xương và tướng tinh, kèm tên vị nữ thần độ mạng, rồi đến bài thơ đoán vận mạng và đoạn phụ giải tổng quát.

Bính Ngọ

Sinh các năm 1906 đến 1966 và 2026. Cung Càn, mạng Thiên Hà Thủy là nước sông Thiên Hà. Xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Bính Ngọ mạng Thủy cung Càn, là nước ở sông Thiên Hà. Nàng sinh vào thu đông thì gặp mùa vượng tướng, số được thanh nhàn. Xuân hạ sinh ra là lỗi mùa, sống cực nhọc, gian nan; thân gái phải đi nhiều chặng đường, duyên tình lỡ dở rồi chia ly đôi ngả. Anh em xung khắc bất hòa, đi xa thì thương nhớ mà về nhà lại chẳng yên. Tuổi này có tính linh, nghĩ điều gì thì thường trúng điều ấy, không sai. Gặp kẻ ăn nói bất bình, hay người lỗ mãng thì giận, khó lòng dung được. Tiền vận lao đao, hậu vận vinh hiển, giàu sang có thừa.

Phụ giải: tuổi Bính Ngọ sinh vào mùa thu và mùa đông, nếu lại sinh ban đêm thì trọn tốt. Cô nào sinh vào mùa hạ và mùa xuân thì phải chịu số gian nan. Phần đông nếu sinh thuận thì giàu sang phú quý, ăn ở giữ gìn đạo đức, nhưng không thuận hòa với anh em. Số này ít khi ở trọn một đời chồng, phải thay đổi lương duyên ít nhất ba lần mới thành được gia thất.

Giáp Ngọ

Sinh các năm 1954 đến 2014 và 2074. Cung Ly, mạng Sa trung Kim là vàng trong cát. Xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Giáp Ngọ cung Ly mạng Kim, như vàng trong bãi cát, nếu tìm ra thì giàu ngay. Nếu sinh thuận vào các tháng Thìn, Tuất, Sửu, rồi Thân, Dậu, thì thơ bảo sáu tháng ấy ít ai dám sánh. Sinh vào hạ xuân là lỗi số gian nan; hai tháng Tỵ, Ngọ thì chẳng sang chút nào. Lỗi sinh thì cực nhọc biết bao, tiền bạc chẳng có, thân phải lang thang đó đây. Người này tính nóng, hay gây chuyện, nhưng cũng đúng với số Giáp Ngọ: không chịu để ai hiếp mình, gặp kẻ mạnh thì xua đi, ra tay bênh vực ngay. Chỉ có điều duyên phận lỡ đò, nhiều lúc đau khổ, đứng ngồi chẳng yên. Đàn bà Giáp Ngọ chẳng hiền, gặp chồng mạng lớn thì phải nhường nhịn ngay.

Phụ giải: tuổi này sinh thuận vào mùa thu và mùa đông thì giàu sang phú quý; nếu lỗi số sinh vào mùa xuân và mùa hạ thì khác đi, bởi vậy cùng một tuổi Giáp Ngọ mà có kẻ sang người hèn. Số đàn bà dù cực nhưng trong đời thường gặp những dịp may. Tính người bất phục những kẻ có thế lực, có tiền bạc, vì thế cũng hay thất bại trong cuộc đời, nhất là về chồng. Tuổi Giáp Ngọ cũng chẳng chiều ai, dù là chồng cũng vậy, cho nên có khi phải lỡ dở duyên tình. Hậu vận mới có sự nghiệp và sống lâu. Cô nào thiếu âm đức thì yểu số, sống đến 33 tuổi là hết mạng.

Mậu Ngọ

Sinh các năm 1918 đến 1978 và 2038. Cung Chấn, mạng Thiên thượng Hỏa là lửa trên trời. Xương con ngựa, tướng tinh con heo. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Mậu Ngọ mạng Hỏa, như lửa trời soi sáng chiếu khắp nơi. Gái sinh vào xuân hạ thì thanh nhàn sung sướng, có chồng giàu sang. Sinh thu đông là lỗi số, cực thân, cuộc đời không được thong dong an nhàn. Số nàng khác mẹ, thương cha; anh em chẳng thuận, phải xa chớ gần. Mậu Ngọ là quý tướng, và sinh ban ngày thì hạp, ấy là số tốt. Lỗi sinh thì duyên số lỡ làng, nếu không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba lần. Thấy ai nghèo khổ thì xót xa, đem tiền giúp đỡ, vậy mà người được giúp lại phản ngay. Tiền vận lao đao, hậu vận có cửa có nhà mới yên.

Phụ giải: tuổi Mậu Ngọ dù sinh vào mùa nào, hễ sinh ban ngày là sung sướng, không khổ cực, tướng người sang quý. Nhưng tính tình nóng nảy, mau giận cũng mau nguôi, lòng dạ thông minh. Tuổi nhỏ vất vả gian nan; có của mà không sung sướng, chẳng giữ được của. Ngoài 40 tuổi mới tụ tài. Nhân duyên trắc trở, đời sau mới thành giai lão. Số này lận đận vì chồng vì con, lại có người phải nuôi con cho chồng, tức số vượng phu ích tử, cần phải tu tâm mới thoát giải được oan nghiệp. Nên cữ ăn thịt chó, mèo, rùa, ngựa, trâu. Nên dùng trai lạt thì mới trường thọ.

Nhâm Ngọ

Sinh các năm 1942 đến 2002 và 2062. Cung Ly, mạng Dương liễu Mộc là cây dương liễu. Xương con ngựa, tướng tinh con cáo. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Nhâm Ngọ mạng Mộc cung Ly, là cây dương liễu, số này làm nên. Nếu sinh thuận vào đông xuân thì gái có phước, gia môn yên hòa. Mùa thu thì bị khắc, bơ vơ; mùa hạ cũng là lỗi giờ, khổ thân. Anh em xung khắc chẳng ở gần, đi xa thì thương nhớ mà gần nhau lại chẳng yên. Thuở nhỏ gian nan, tướng như có lần chết hụt, chết oan rồi mới qua. Nàng lanh lợi khôn ngoan, ít người ngu dốt, cơ hàn lênh đênh. Tuổi nhỏ làm ăn nhiều lần được khá rồi lại rã tan. Tuổi muộn có của mới yên, lập nên sự nghiệp, thanh nhàn ấm no.

Phụ giải: số Nhâm Ngọ phần đông sinh vào mùa xuân hay mùa đông thì con người cao sang phú quý, có kẻ hầu người hạ, có chồng giàu sang, địa vị quan trọng trong xã hội; nhưng phải sinh ban ngày thì mới trọn tốt. Sinh ban đêm thì vất vả khổ cực, duyên nợ đa đoan. Từ 44 tuổi trở đi thì giàu sang phú quý, có căn tu hành. Nhiều người tuổi này có tâm tu hành, hay đi xuất gia đầu Phật.

Canh Ngọ

Sinh các năm 1930 đến 1990 và 2050. Cung Ly, mạng Lộ bàng Thổ là đất đường đi. Xương con ngựa, tướng tinh con vượn. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, cung Ly mạng Thổ, là đất đường đi. Sinh vào mùa hạ thì khỏi lo; thuận nhất là tháng chín và tháng ba thì thanh nhàn. Thu đông phải chịu lao đao. Mùa xuân, các tháng Dần Mẹo, biết bao khổ sầu. Kỵ nhất là sinh tháng giêng, tháng hai, nặng hơn các tháng khác, khổ cực thân. Có điều được nhờ phước trời, không thì bỏ xác rồi đời cũng xong. Thuở nhỏ long đong, phải thay tên đổi họ, hai dòng mới yên. Ai nói gì thiết yếu, thở than, thì lòng cầm không được, có tiền cũng trao ra. Số gái Canh Ngọ mà hiền; lỗi sinh thì khổ não như thuyền lênh đênh. Chỗ này sách có một điểm lệch: thơ nói sinh mùa xuân khổ, còn phần phụ giải lại nói hợp mùa xuân, nên thuật đúng như in.

Phụ giải: Canh Ngọ là số người hạp vào mùa xuân và mùa hạ. Quý cô lớn lên làm ăn việc gì thì nên chọn hai mùa này mà tính toán, khó thất bại. Quý tướng lại giàu sang, chồng có địa vị, ấy là số Canh Ngọ. Tuổi này lúc nhỏ khó nuôi, có chết hụt nhiều lần, nhưng nhờ âm đức của cha mẹ và trời Phật che chở, nếu không thì không sống đến ngày nay. Số nên dùng trai lạt mỗi tháng sáu hoặc mười ngày thì tốt. Hậu vận không bằng trung vận. Số có căn tu, nếu ăn ở hiền lành thì được trường thọ.

Nữ mạng tuổi Mùi

Tuổi Mùi theo sau tuổi Ngọ trong sáu mươi Hoa Giáp. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, nạp âm, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, thơ đoán vận và phụ giải.

Đinh Mùi

Sinh các năm 1907 đến 1967 và 2027. Cung Đoài, mạng Thiên hà Thủy là nước sông Thiên Hà. Xương con dê. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Đinh Mùi mạng Thủy, là nước Thiên Hà chảy nhỏ hoài như mưa. Thu đông sinh được thuận mùa; xuân hạ là lỗi số, gái mà chẳng nên. Nàng không có phần làm bạn với ai; yên rồi thì có kẻ quẹt mỏ, đúng là loài phản ta. Số này thân gái âu lo, chồng con thì lo lắng, một tay dựng nhà. Tiền bạc như chiêm bao, buổi đầu giàu có, sau rồi cũng tan. Nhiều khi trách phận buồn than. Cũng thời một tuổi ấy có người cầm bạc muôn, có tay thương mãi, buôn bán, thế mà chẳng được tình thương đậm đà. Vợ chồng cách trở đôi ba lần, phải có phước mới hòa thuận với nhau.

Phụ giải: đàn bà tuổi Đinh Mùi phần đông giỏi giắn, có tay thương mãi, buôn bán giàu có nhưng không giữ được, số giàu khi đầu hôm, sớm mai đã hết. Nếu sinh thuận vào mùa thu và mùa đông, lại ban đêm, thì trọn tốt, gia môn yên ổn, chồng con hạnh phúc. Sinh ban ngày thì lúc nhỏ khổ cực, khó nuôi, gặp tai nạn có tiểu tật. Tiền vận lao đao, ba chìm bảy nổi, nhiều phen giàu có rồi cũng sụp đổ. Từ trung niên, khoảng 40 trở đi, mới tụ tài. Tuổi này cao số, thọ đến 85 tuổi.

Kỷ Mùi

Sinh các năm 1919 đến 1979 và 2039. Cung Tốn, mạng Thiên thượng Hỏa là lửa trên trời. Xương con dê, tướng tinh con rái. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng Kỷ Mùi, cung Tốn mạng Hỏa, ấy là số ta. Xuân hạ sinh được thuận mùa; thu đông là lỗi số, cực thân lắm lần. Số gái hiếu thảo với cha mẹ, khổ vì duyên nợ, lao đao nhiều bề. Một đời chẳng buồn lâu, phải duyên chắp nối mới mong sắt cầm. Nếu sinh thuận thì giàu sang, chồng thương mến, họ hàng thân thiết. Tuổi muộn mới được an thân; trung niên lo tảo tần chạy ngược chạy xuôi chưa yên. Số này gần gũi bề trên, nhưng chơi với bạn hữu thì chẳng bền phần ta. Làm ăn tiền bạc có hoài, nhiều nghề biết mà đàn bà ít ai được như thế.

Phụ giải: đàn bà tuổi Kỷ Mùi có nhiều người làm nên danh nghiệp, số có phần chơi thân với người quyền cao chức lớn. Tuy là đàn bà nhưng thích làm việc xã hội. Cô nào sinh ban ngày mà thuận vào mùa xuân hay mùa hạ thì lại càng quý hơn; ai sinh nhằm ban đêm là nghịch số, không tốt. Số Kỷ Mùi là đàn bà nhưng tính tình khẳng khái, không chịu nịnh bợ kẻ có quyền cao, giàu có; vậy mà lại được nhiều người thương mến, ăn nói có duyên. Tiền bạc lúc tiền vận như nước thủy triều, buổi sáng vào thì chiều tuôn ra. Tuổi muộn mới được an nhàn, số được chồng thương yêu.

Tân Mùi

Sinh các năm 1931 đến 1991 và 2051. Cung Khảm, mạng Lộ bàng Thổ là đất đường đi. Xương con dê, tướng tinh con gấu. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói cung Khảm mạng Thổ, là đất ngoài đường đi. Sinh được mùa hạ thì khỏi lo; các tháng chạp, tháng chín, không thì tháng ba. Thổ vượng ở bốn tháng tứ quý; sinh đúng sáu tháng ấy thì ai dám sánh. Tân Mùi tâm tánh hiền lương, giận ai thì nói dữ mà lòng lại xót thương. Sinh tháng giêng, tháng hai là lôi thôi, vì Mộc khắc Thổ, cực đời. Anh em chẳng hòa thuận, ở gần thì gây gỗ, đi xa thì nhớ hoài. Vợ chồng chẳng hạp âm dương; sánh đôi khi còn nhỏ tuổi thì đáng thương từ đầu. Tuổi này từ bốn chục về sau, vinh hoa phú quý, hưởng giàu sang ngay.

Phụ giải: số tuổi Tân Mùi, người nào sinh vào mùa thu và mùa hạ thì tốt số, giàu sang phú quý; sinh ban ngày thì lại càng quý tướng hơn, số gái cũng gặp nhiều may. Có chồng là người có địa vị quan trọng trong xã hội. Tính tình hiền hậu, ăn nói có duyên, chậm chạp, không đua đòi, dạ thẳng ngay, chung tình. Phần đông phải lập nghiệp phương xa, lấy chồng xa xứ thì tốt; lấy nhau ở cùng làng cùng xóm thì gãy đổ. Số thân tự lập, tức bạch thủ thành gia; vận trước không khá, trung vận giàu sang tột đỉnh.

Quý Mùi

Sinh các năm 1943 đến 2003 và 2063. Cung Cấn, mạng Dương liễu Mộc là cây dương liễu. Xương con dê, tướng tinh con cọp. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, cung Cấn mạng Mộc, số như sau. Sinh được tháng hai, tháng giêng; mùa đông cũng tốt, tự nhiên thanh nhàn. Hạ thu sinh gái là lỗi sinh, vất vả, số nàng đủ điều phải lo. Sinh ra xung khắc cha mẹ, anh em chẳng thuận, phải sống nhờ người dưng. Số ly hương, rời tổ quán, lập nghiệp xứ xa thì cửa nhà làm nên. Trung niên có của mà chẳng bền, có rồi mất như diều đứt dây. Về sau có đất nhà, ruộng vườn tự mình mua sắm. Tuổi nhỏ khá bôn ba; tuổi già có của mới yên.

Phụ giải: số tuổi Quý Mùi phần đông hạp với đàn bà con gái, nên có câu nam Nhâm nữ Quý. Đa số người tuổi này cuộc đời được sung sướng, chỉ trừ người nào sinh lỗi số thì mới phải gian nan; sinh nhằm mùa hạ và mùa thu thì không được tốt, tuy vậy cũng không đến nỗi cơ cực. Số có tay làm ra tiền, buôn bán làm ăn việc gì cũng thường gặp may, nhờ có quý nhân giúp đỡ, ăn nói có duyên, được mọi người mến phục. Về sau tạo nên được nghiệp lớn, có tài sản đất đai, nên chớ bôn ba, việc gì đến rồi sẽ đến. Số có nhiều may mắn.

Ất Mùi

Sinh các năm 1955 đến 2015 và 2075. Cung Khảm, mạng Sa trung Kim là vàng trong cát. Xương con dê, tướng tinh con gà. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Ất Mùi cung Khảm mạng Kim, vàng trong cát trắng dễ gì tìm ra. Sinh thuận vào các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; mùa thu cũng tốt, gái thanh nhàn. Xuân hạ là lỗi số của nàng, đành cam chịu phần hẩm, lao đao. Con người có tính thật thà, nhà cửa không có mà còn cho người khác vay mượn, giúp người. Ất Mùi là số gái đáng thương; ít kẻ hung dữ, nhiều người hiền lương. Ai nói hung ác thì nàng nhường; người lối xóm rất hay thương tình. Thuở hoa niên lập được gia đình, mấy lần nên nghiệp thì thình lình vỡ tan. Hậu vận có của mới yên, lập nên gia đạo, vinh quang.

Phụ giải: số gái Ất Mùi sinh được mùa thu thì tốt hơn hết, hay mùa đông cũng được, là người có số tốt. Làm ăn việc gì cũng có quý nhân giúp đỡ. Cho nên tuổi này làm giàu từ thuở hoa niên, nhưng số chưa cầm được của, giàu có rồi cũng bị tan vỡ; về sau mới an cư lạc nghiệp. Cô nào sinh vào mùa xuân và mùa hạ thì gọi là lỗi số, phải chịu gian lao khổ cực. Nhưng tuổi Ất Mùi có tính thật thà, hiền hậu, trong đời ít gặp tai nạn. Người có căn tu thọ đến 75 tuổi.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp