Bài tổng quan
Năm sao Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát theo Phan Tử Ngư
Một người phụ nữ ở Cao Hùng có Hỏa Tham cách, phát tài chín trăm vạn đúng vào năm Tham Lang hóa Kỵ. Cũng ở những sao này, Thiên Lương dạy chữ nhường người ba bước, còn Thất Sát thì nhắc nghề nào nên tránh. Mỗi sao chỉ vài dòng, mà dòng nào cũng có người nhận ra mình...
Tham Lang: sao của phúc họa, thiện ác và đào hoa
Tham Lang là sao đứng đầu Bắc Đẩu, thuộc dương Mộc mà gốc là Thủy. Sao này làm chủ phúc họa, có thể thiện có thể ác, lòng yêu ghét rất nặng, nữ mệnh không hợp tọa Mệnh.
Riêng sao này mừng đồng cung với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, chủ phát bất ngờ. Ở Cao Hùng có một người phụ nữ thuộc cách Hỏa Tham, quả nhiên phát tài chín trăm vạn. Bà phát tài đúng vào năm Quý, Tham Lang hóa Kỵ, nên biết Tham Lang cũng mừng hóa Kỵ.
Tham Lang không mừng đồng cung với Đà La, vì ba điều: một là vì sắc mà phá tài; hai là sinh hoạt tình dục quá độ; ba là phải cẩn thận phòng chết vì thoát dương hoặc thoát âm. Đặc biệt kỵ Tham Lang ở Dần đồng cung Đà La, vì sắc mà rước họa.
Cùng một Tham Lang, đặt vào mỗi cung lại có một mạch chuyện khác.
Tham Lang tọa Mệnh tại Tý
- Cả đời vì tiền bạc mà bôn ba.
- Nếu đồng cung Hỏa Tinh, Linh Tinh thì cũng gọi là Hỏa Tham cách. Tuy vậy, Hỏa Tham cách chính thống là Tham Lang ở Thìn hoặc Tuất đồng cung Hỏa Linh, cũng cát, có thể kinh doanh bất động sản.
- Không hợp kinh doanh chăn nuôi, nuôi trồng.
- Người sinh năm Mậu, Tham Lang hóa Lộc, thông minh, nhân duyên tốt, đặc biệt có duyên với người khác phái và hấp dẫn họ, cả đời nhiều cuộc gặp gỡ đẹp. Xã giao nhiều nhưng dễ vì rượu mà hỏng việc, phải kiêng rượu; hoặc sau rượu lái xe, sau rượu đánh nhau.
- Người sinh năm Nhâm, có Kình Dương đồng cung, gọi là “phiếm thủy đào hoa”, vì sắc mà rối ren, rước họa. Nữ mệnh phòng bị người xâm hại, hoặc sa vào phong trần. Dễ mắc chứng thận suy do sinh hoạt tình dục quá độ; nếu có Thiên Hình đồng cung thì phòng ngồi tù. Lại vì Kình Dương ở Tý, xung chiếu cung đối là Tử Vi, nên chủ người này mọi việc không như nguyện. Người sinh năm Nhâm còn có Vũ Khúc ở cung Phúc Đức hóa Kỵ, chủ cả đời tâm tình hay u uất không vui, hoặc thường phiền não vì tiền. Chỉ có điều người sinh năm Nhâm nhờ Thiên Lương hóa Lộc, ở Mão đồng cung Thái Dương, tọa Quan Lộc, nên sự nghiệp đi lên.
Các thế Tham Lang khác
- Tham Lang tọa Mão: dễ mắc bệnh dịch lây lan; dễ mắc bệnh điên cuồng.
- Tham Lang – Văn Xương: đại tiểu hạn gặp thế này có thể mất mạng vì tai nạn máy bay hoặc rơi từ nhà cao, thậm chí thi thể không toàn vẹn.
- Tham Lang – Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh) tại Thìn, Tuất gọi là mệnh mía: trước khổ sau ngọt, trước nghèo sau giàu, xưa gọi là Hỏa Tham cách.
- Tham Lang hóa Kỵ tại Thân hoặc Dần: hợp tài nghệ. Gia sát thì phòng tàn tật, hoặc vì sắc mà rước họa. Kỵ Kình Dương, Đà La nhưng không kỵ Hỏa Tinh, Linh Tinh.
- Tham Lang hóa Lộc tại Thân hoặc Dần: kinh thương cát.
- Tham Lang – Kình Dương (tại Ngọ, Mùi cùng Vũ Khúc, Thìn, Dậu cùng Tử Vi, Mão cùng Tử Vi, Sửu, Tý): vì sắc mà rối ren.
- Tham Lang – Đà La (tại Tỵ cùng Liêm Trinh, Mùi cùng Vũ Khúc, Thân, Thìn, Tuất, Dần, Sửu cùng Vũ Khúc, Hợi cùng Liêm Trinh): vì sắc mà phá bại, thậm chí chết trên thân phụ nữ.
- Tham Lang – Hồng Loan (ở nhiều cung, có khi cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc hoặc Tử Vi): lên xe trước rồi bù vé sau, e có chuyện bỏ trốn theo nhau, tình cảm biến đổi rất đột ngột.
- Tham Lang hóa Kỵ tại Ngọ: tình cảm khó tránh bị quấy nhiễu.
Cự Môn: sao của lời nói, của thăng trầm và duyên xa xứ
Cự Môn mừng nhất hóa Quyền, hóa Lộc, hóa Khoa; không mừng hóa Kỵ, đặc biệt không mừng đồng cung với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Cự Môn hóa Quyền có thể làm thầy giáo, đoán mệnh, ngoại giao quan, hoặc nhà biện luận, du thuyết. Cự Môn ở Mão còn có thể giữa chừng sa sút rồi lại hưng; Cự Môn ở Dậu e khó hưng lại. Nếu hưng lại thì phải trải qua một chặng đường dài và đau khổ. Đặc biệt e phú quý khó bền.
Các thế Cự Môn
- Cự Môn hóa Quyền, hóa Lộc tọa Mệnh tại Ngọ hoặc Tý là mệnh phó tọa, thuộc cách Thạch trung ẩn ngọc, tức ngọc ẩn trong đá.
- Thái Dương – Cự Môn tại Dần, Mệnh tại Thân là mệnh đi xa: lập nghiệp phát tích ở quê người, hợp cưới người xứ khác làm vợ; nữ mệnh hợp gả cho người xứ khác.
- Cự Môn tọa Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi là người làm tổn thương người thân: lục thân không hòa thuận, nhất là chuyện thông gia không hòa; đặc biệt kỵ hóa Kỵ.
- Cự Môn tọa Mệnh tại Thìn hoặc Tuất là người cưỡi trâu: người phối ngẫu làm trâu làm ngựa, chịu lao chịu oán.
- Cự Môn – Kình Dương (tại Ngọ, Thìn, Mão, Dậu, Tuất, Tý) là người khổ não: tình cảm bấp bênh, không yên. Đại tiểu hạn gặp thì phiền não bất an, phòng đao thương, việc gì cũng hỏng hoặc bị trì hoãn.
- Cự Môn tọa Thiên Di tại Thìn hoặc Tuất là người lạc đường: trong lòng do dự, tiến thoái bất quyết, ngồi nhìn mất cơ hội tốt, cuối cùng lạc đường.
- Cự Môn tọa cung Phu Thê tại Thìn hoặc Tuất: người phụ nữ thất tiết.
- Cự Môn tại Tỵ, can Đinh: nếu tọa Tài Bạch thì tiền bạc khốn quẫn; tọa Quan Lộc thì mất chức; tọa Phu Thê thì ly hôn; gặp Đà La thì có tình riêng; tọa Mệnh cung thì nửa đời khổ. Người sinh năm Mậu, Quý cả đời nghèo. Đại tiểu hạn gặp thì có tai họa.
- Cự Môn – Đà La (tại Tỵ, Thìn, Mùi cùng Thiên Đồng, Thân cùng Thái Dương, Tuất, Hợi, Dần cùng Thái Dương, Sửu cùng Thiên Đồng): tình cảm bị quấy rầy âm thầm.
Thiên Tướng: sao giữ ấn, giữ cơm áo và tình cảm
Các sao đều mừng đồng cung với Lộc Tồn, riêng Thiên Tướng thì không mừng. Thiên Tướng cũng không mừng đồng cung với Đà La. Thiên Tướng phối Hữu Bật cũng như Thiên Phủ phối Tả Phụ, chủ cát.
Thiên Tướng không có sát tinh đồng cung thì có thể làm chính trị; có sát tinh đồng cung thì hợp kinh thương hoặc kỹ nghệ. Thiên Tướng chủ ấn, chủ cơm áo, chủ tình cảm; nữ mệnh đặc biệt nhạy cảm với Thiên Tướng. Thiên Tướng lạc hãm ắt có điềm thất ý, hoặc vì tranh giành chồng với người khác mà thất bại.
Các thế Thiên Tướng
- Thiên Tướng – Hữu Bật (ở nhiều cung, có khi cùng Liêm Trinh, Tử Vi, Vũ Khúc): nữ mệnh vượng phu ích tử.
- Thiên Tướng tọa Mệnh tại Thân là mệnh thiên phòng: chồng bị người cướp mất, tranh chồng với người ắt thất bại, nỗi đau thất luyến nước mắt không khô.
- Thiên Tướng tọa Quan Lộc tại Thân hoặc Mão là người phó tọa, chỉ hợp làm phó.
- Thiên Tướng tại Mùi là người bất trung: nếu không là nghịch tử, nghịch đồ thì ắt là nghịch thần. Lao lục, phạm đào hoa.
- Thiên Tướng tại Tỵ, Thân, Dần, Hợi là mệnh tiểu nhân: thấy gió đổi lái, không giữ chữ tín.
- Thiên Tướng tại Mùi hoặc Sửu: hợp gả cho chồng lớn tuổi.
Thiên Lương: thiện tú, âm tinh và chữ nhường
Thiên Lương là thiện tú, là âm tinh. Có lòng trắc ẩn, bẩm tính trung hậu, thích bố thí; chỉ là tự cho mình cao, thích lo chuyện bao đồng, thích làm lão đại, gặp việc quả đoán, thích giúp người, còn việc nhà mình thì ngược lại không để ý.
Nữ mệnh ở Tỵ, Hợi tọa Thiên Lương thì rất lắm lời; nếu có Thiên Mã đồng cung thì nam mệnh phiêu bạt, nữ mệnh uống từ tám đến mười hai chén.
Thiên Lương mừng đồng cung với Văn Xương, Thái Dương, Lộc Tồn, hoặc tam phương tứ chính chiếu về. Chủ người này văn chương tốt, xưa gọi là “Trạng nguyên mệnh”. Nay không có Trạng nguyên thì làm đầu bảng, hoặc tranh vị trí thứ nhất. Như hạc đứng giữa bầy gà, hợp khoa kỹ, nghệ thuật, ba trăm sáu mươi nghề, nghề nào cũng ra Trạng nguyên.
Thiên Lương tọa Mệnh, Thái Âm tọa Thân, hoặc Thái Âm tọa Mệnh, Thiên Lương tọa Thân, thì nữ mệnh khắc chồng khắc con, nhu cầu tính sinh hoạt nhiều (xưa gọi là hiếu dâm), lại chủ nghèo hèn, vì nghèo khó muốn kiếm thêm chút tiền mà không tiếc đánh đổi bản thân.
Thiên Lương ở Hợi, nếu không có Thiên Mã cũng chủ nỗi buồn thất luyến, chồng có ngoại tình, hoặc bạn trai bị người cướp mất, cuối cùng vì tình mà khổ não, vì tình mà tiều tụy.
Thiên Lương mừng đồng cung với Thiên Cơ, có một nghề sở trường, dự thi cử, đề tên bảng vàng. Chỉ có nữ mệnh hợp làm thiên phòng, nếu không thì chồng bị người cướp mất, hoặc có tình cảm với người đàn ông đã có vợ; ở Thìn tốt hơn ở Tuất. Nam mệnh có Thiên Cơ – Thiên Lương ở Tuất, thì Thiên Đồng – Thái Âm ở Ngọ, phạm đào hoa, đào hoa không kết quả; nên giữ thân tự trọng, đừng tự làm đa tình, đặc biệt kỵ chuyện hái hoa chọc cỏ tự rước khổ. Nên dồn thời gian, tinh thần, tiền bạc vào một chỗ, nghiên cứu y học, máy tính, đoán mệnh, khoa kỹ, sẽ nổi bật.
Thiên Cơ – Thiên Lương đồng cung, nếu có sát tinh hoặc Không Vong thì hợp hiến thân cho tôn giáo.
Người Thiên Lương tọa Mệnh tính tình cao ngạo cô độc, thiên tính trung hậu, có lòng trắc ẩn, có ý cứu giúp, hợp làm thầy giáo, nhân vật khuyến thiện, nhân vật lãnh đạo, đáng kết bạn, đáng gửi gắm cả đời. Người Thiên Lương tọa Mệnh không làm điều xấu.
Thiên Lương là người thật thà. Cung Phu Thê có Thiên Lương thì hợp gả chồng lớn tuổi. Cung Nô Bộc có Thiên Lương thì hợp làm bạn với người lớn tuổi hơn. Vận lão chạy Thiên Lương, có bệnh gặp thầy thuốc giỏi, gặp hung có thể hóa cát.
Người mang Thiên Lương vốn thích giúp đời, nên điều cần học nhất là chữ nhường.
Nhường người ba bước có hề gì
Phàm Thiên Lương ở Mệnh cung, Thân cung hoặc Thiên Di, gặp lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, việc gì cũng nhường người ba bước, không kiêu không ngạo. Xa lánh tiểu nhân, tránh những kẻ xu nịnh, mới thành việc.
Nhượng nhân tam bộ, thiên cao địa khoát.
Mục tiền ngật khuy, vãng hậu thành công.
Năng khuất năng thân, phương thị trượng phu.
Ý của ba câu: nhường người ba bước thì trời cao đất rộng; chịu thiệt trước mắt thì về sau thành công; co được duỗi được mới là bậc đại trượng phu.
Các thế Thiên Lương
- Thiên Lương tại Tý: hưởng trọn tuổi trời.
- Thiên Lương tại Ngọ, Mùi, Tý: phong mang quá lộ.
- Thiên Lương tại Ngọ, Thái Dương tại Tý là bản sắc tiểu nhân: người cay nghiệt, thiếu vun bồi nội dưỡng, tính tình âm trầm.
- Thiên Lương tại Tỵ hoặc Hợi: đồng cung Thiên Mã thì phiêu đãng, hoặc “một bình tám chén”; đồng cung Kình Dương, Đà La thì thương phong bại tục; đồng cung Hỏa Tinh, Linh Tinh thì cô độc, hèn kém, yểu thọ.
Thất Sát: sao của quyền, của đầu cơ và xương cốt
Mệnh tọa Thất Sát thì vui giận thất thường, thích nắm quyền, thích đầu cơ; Thân tọa Thất Sát thì trải qua gian tân.
Thất Sát gia sát, bất luận cung nào, đất nào, ắt có xương bị thương. Thất Sát mừng ở cung Dần, Thân, vì cung đối là Tử Vi – Thiên Phủ, có thể một mình gánh một phương, có thành tựu.
Thất Sát tọa Phúc Đức thì chủ bận rộn lao tâm. Nữ mệnh có Thất Sát tọa Phúc Đức thì hợp hôn muộn, hợp làm thiên phòng, thậm chí không tiếc bỏ chồng bỏ con; nếu lạc hãm gia sát thì tư tưởng tiêu cực, bi quan.
Người Thất Sát tọa Quan Lộc hợp quân đội, cảnh sát, thích đầu cơ nhưng đầu cơ ắt bại. Thất Sát tọa Quan Lộc, nếu cung Điền Trạch có Kình Dương hoặc Đà La xung, thì không hợp quân cảnh mà hợp ngoại khoa, nha khoa, phụ sản khoa, hoặc điêu khắc. Cung Phu Thê tọa Thất Sát, có sát tinh, Kiếp, Không, chủ ba vợ hoặc ba chồng.
Các thế Thất Sát
- Thất Sát tại Ngọ là cách Hùng tú Càn nguyên. Gia sát thì thành phá cách.
- Thân cung có Thất Sát (ở nhiều cung, có khi cùng Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc): người ngọt về sau, trước khổ sau ngọt.
- Mệnh có Thất Sát gặp sát tinh (ở nhiều cung, có khi cùng Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc) là người đoản mệnh: không hợp làm quân đội, cảnh sát; không hợp làm việc có tính nguy hiểm như thợ lặn, tài xế, nhân viên bay, phi công.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 2.
