Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Mệnh tốt chưa bằng Thân tốt, Thân tốt chưa bằng Hạn tốt

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202614 phút đọc5 lượt đọc
Mệnh tốt chưa bằng Thân tốt, Thân tốt chưa bằng Hạn tốt

Có người sinh ra chí lớn nhưng thân thể yếu, có người chẳng có chí gì mà vẫn sống sung sướng suốt đời. Cái nào đáng đặt lên trước: Mệnh, Thân hay Hạn? Câu phú của người xưa trả lời rất gọn, nhưng nhiều người đọc xong lại hiểu ngược…


Mệnh tốt chưa bằng Thân tốt, Thân tốt chưa bằng Hạn tốt

Chuyện Mệnh, Thân, Hạn khác nhau thế nào nghe có vẻ dễ như trở bàn tay, nhưng hoá ra lại khó với khá nhiều người. Tốt nhất ta khởi đầu từ vài câu phú, vì phú là quan niệm của người xưa để lại; từ đó suy diễn có thể sinh ngộ nhận, nhưng khổ nhất là hiểu sai rồi đem ra trưng bày, gây khổ cho người khác không ít.

Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Hạn hảo.

Mệnh hảo, Thân hảo, Hạn hảo, đáo lão vinh xương; Mệnh suy, Thân suy, Hạn suy, chung thân khất cái.

Nghĩa là Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt; ba cái cùng tốt thì vinh quang đẹp đẽ đến tuổi già, ba cái cùng xấu thì suốt đời đi ăn mày. Nhỏ thì ăn mày cha mẹ anh chị, mất hết thì ăn mày thiên hạ, may phước thì có con cháu nuôi. Mệnh có tốt đến đâu mà Thân thể yếu đuối, nay ốm mai đau, nằm trên giường bệnh hay ngồi xe lăn, thì thành công có dễ không? Thân bị Triệt, bị Sát, bị Kiếp thì còn sống đâu để hưởng vinh hoa của hạn. Còn phải kể đến thân trâu ngựa, thân phận làm đồ chơi của người khác, chí lớn bao nhiêu thì hận bấy nhiêu.

Mệnh là gì

Mệnh là chí hướng, lập trường, tư tưởng của một con người. Ví dụ Mệnh có nhóm Tuế Hổ Phù thì thái độ lập trường rõ ràng; nhóm Tang Hư Khách thì có tính xã giao lịch sự; nhóm Đào Hồng thì ưa vui; nhóm Cô Quả thì ích kỷ. Phối hợp với chòm Bác Sĩ là nhóm sao nghề nghiệp, và mười bốn chính tinh, thực chất là nghiệp mà ta phải gánh; còn cát tinh hay hung, kỵ, hình tinh là kết quả do ta làm. Ví dụ Tấu Thư chủ viết, đồng thời là sao thúc đẩy công việc: đi với Sát Phá thì ưa khám phá, chống phá; đi với Tử Vi thì ưa thực hiện việc gánh vác; đi với Cự Cơ thì ưa xây dựng nhà cửa, nhất là khi có Phượng Các. Vậy mỗi Mệnh có một hướng đi rất rõ, và trong vô thức ta vẫn đi đúng hướng. Mệnh là “cái hồn”, là cái chí của ta. Có người Mệnh chẳng ra gì mà Thân sướng thì vẫn cứ sướng, như cậu ấm cô chiêu chỉ cần cha mẹ lo đừng quậy là được.

Thân là gì

Hồn có to đến đâu cũng cần một chiếc thuyền chở nó đi.

Thân là thân thể, thân phận, xác thân, xác thịt. Điều Thân cần nhất là sự khoẻ mạnh để chuyên chở cái Mệnh, như người ta nói một tinh thần mạnh khoẻ trong một thân thể tráng kiện. Một tinh thần chọc trời khuấy nước mà nằm bẹp trên giường thì chẳng ai sợ, chỉ thương hại. Chỉ cần thân thể bình thường mà có ý chí hơn người là quý. Thân thể hùng vĩ, khôi ngô mà đầu óc thiếu trình độ thì làm vệ sĩ, dẫu sao cũng sướng vì kề cận quý nhân; tệ hơn thì đi bốc vác. Cái tốt đẹp tụ tập ở cung Thân chỉ sướng cho tấm thân, chứ không đem lại vinh quang cho Mệnh.

Hạn là gì

Hạn là cung Mệnh và Thân thứ hai: hoàn cảnh mà ta đang sống. Lấy lá số Tử Vi cư Tý làm mẫu: Mệnh tại Tử Vi, Thân cư Liêm Phủ, hạn bây giờ ở Thiên Cơ. Hạn đầu tiên phải ở Mệnh, với con số ghi từ hai đến sáu tuổi; chưa vào số đó thì còn bấp bênh. Tuổi thiếu niên hình thành cá tính ở đây. Ví dụ Mệnh có bộ Xương Khúc Kình Tấu và đương nhiên có Tử Vi; hạn thứ hai ở Thiên Cơ có thêm Khôi Việt Khoa. Nghĩa là tuổi thiếu niên có năng khiếu văn nghệ, khi dọn nhà sang cung Thiên Cơ thì đắc cách Khôi Khoa đỗ đầu, nổi bật. Phận (Tử Vi) ưa văn chương, Số (Thiên Cơ) là đỗ đầu; số đã ưa văn chương thì khi dọn nhà sang đại hạn Thiên Cơ phải mang sở trường theo, chẳng lẽ vứt đi. Ví dụ người rời quê vào thành phố khác để ăn học, chẳng lẽ để bằng cấp và sở thích ở lại nơi cũ.

Cũng vậy với thiên tai. Nếu mưa lụt bão ở quê cũ thì người ở đại hạn khác ít nguy hơn, vì các sao lưu động đánh trúng cung Mệnh ít nguy hiểm hơn khi người ấy còn ở đại hạn Tử Vi; ngược lại nếu động đất ở nơi mới, tức sao lưu động xấu đánh vào Thiên Cơ, thì dễ nguy; còn ở quê cũ mát trời thì cũng chẳng được hưởng. Tình huống này giả định cung an Thân bình thường khi có sao lưu động.

Rồi đổi đại hạn, như khi thành niên bước vào đời. Đặt giả định hạn ở Thất Sát xấu với Kỵ Hình bắt bẻ hăm doạ, Kình Đà Không Kiếp Hỏa Linh. Tôi vốn là Tử Vi ưa kín đáo, Thân được che chở bởi nhà cao cửa lớn Thiên Phủ, vẫn sống trong hoàn cảnh ấy, nhưng tình thế đã khác: tôi rơi vào thế Địa Võng đầy oan ức, bắt bẻ, áp bức; dù cố đè nén cũng không chịu nổi, vùng lên thì bị trừng phạt, hăm doạ bởi Kỵ Hình. Càng rối trí vì Phá Quân phá, Tham Lang tò mò đâm ra lầm lẫn như kẻ đui mù, vì tôi là một Thất Sát hãm. Tôi ưa kín đáo thì ở đây bị khám phá; tôi ưa gánh vác thì ở đây gặp thất vọng, thất bại; cái ưa làm thì không được làm, làm cái không thích. Đến năm có Lưu Kình ở đại hạn, lại thêm Lưu Bạch Hổ, tôi chết. Thất Sát rất kỵ bộ Đại Kình Hổ. Ví dụ ấy cho thấy Mệnh Thân vẫn còn tốt mà hạn quá xấu thì không qua được; vì hạn là thời điểm hiện tại, cái ta đang sống, đang thấy, đang làm.

Chứng minh Thân là thân thể, thân xác, thân phận

Các câu phú sau cho thấy người xưa quan niệm Thân là thân thể.

Thất Sát thủ Thân chung thị yểu.

Thân cư Hoa Cái xuất ngoại đa ái.

Vũ Khúc thủ Thân hắc tử hung tàng.

Vì sao Thất Sát thủ Thân lại yếu? Vì Thân là thân thể, thân thể không thể bị mất, bị đoạt, bị giết; dù có đắc địa, đắc ý cũng chết mất rồi. Thân cư Hoa Cái là thân thể có đặc điểm gì đó, được kề cận kẻ quyền quý cao sang. Vũ Khúc thủ Thân, hắc tử trung tàng, nghĩa là có nốt ruồi ở ngực; đó là minh chứng người xưa coi Thân là thân thể. Còn câu “Thân cư Thái Tuế dữ nhân quả hợp”: Thân gì mà nói như cái máy thì ai chịu cho thấu; Thái Tuế là sao ngôn ngữ, nên cần nằm ở Mệnh; dữ nhân quả hợp là với mọi người ít hoà hợp vì nói nhiều, hoặc cao ngạo, nhất là đi cùng Thái Tuế.

Thân cát Mệnh hung diệc vi mỹ luận.

Thân tốt Mệnh xấu vẫn luận là tốt, tức Thân còn giá trị hơn Mệnh vì Thân là thân phận; thân phận sung sướng trong phạm vi no cơm ấm áo. Còn biết bao câu phú khác như “Mệnh cư Đào Hỉ hướng Tử Dương phú quý khả kỳ; Thân hữu Hồng Đào Thai Toạ nhi công danh khả tất”: Thân có Đào Hồng Thai Toạ là an nhàn lại vui vẻ, không sướng sao được.

Thân cư Di cung Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương túc cát; nhược hội kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ngoại xứ.

Thân cư Thiên Di thường trôi nổi xứ người, ai cũng biết vì Thiên Di thiên về dịch chuyển; thân phận phải đi mà thôi, ở lại dễ thất vọng. Nếu có Triệt Tuần thì tuổi cao có cơ hội hồi hương: lúc ấy Triệt là triệt để hoan nghênh, Tuần là trọng vọng; ban đầu thì là Không Vong, đi đâu cho khuất mắt; nếu có hung sát tinh thì chẳng ai mong mình về. Khi vãn niên, đại hạn ở Tài, Quan, Nô, Tật thì không còn thấy cung Di Tuần Triệt nữa.

Thân cư Thê vị Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình; nhược gia cát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân.

Thân cư Thê là đặt thân phận gửi gắm nơi người vợ, má tựa vai kề, không đặt nặng công danh tiền bạc; nhưng bị Không Vong không cho kề vai tựa má thì khóc cũng phải. Thôi thì kiếm một người khác, lỡ duyên cũng được an ủi.

Thân không nên gặp Triệt, vì sao này chủ trừ đi, bỏ đi, xoá đi, làm thân thể khiếm khuyết, chưa nói tới yểu vong. Triệt còn là triệt lộ: lộ thân có thể tốt với rất ít người như người mẫu, nghệ sĩ, nhưng xấu với nhiều người; chiến binh càng kỵ lộ thân, lộ ra để bị bắn à? Cho nên cách Mệnh Không Thân Kiếp đã xấu còn đỡ hơn Mệnh Kiếp Thân Không. Thân không thể không được, phải có; Thân có Không là nói rằng thân tôi thiếu thứ gì đó, như không có tay, không có chân. Thân tốt xấu đâu phải đợi ba mươi năm sau mới biết: nó làm thịt ngay khi còn trẻ. Bao kẻ tật nguyền, thương tích đâu có đợi ba mươi năm, mà ngay thuở niên thiếu; cũng như Thân tốt là tốt từ tấm bé, lọt lòng đã sống trong nhung lụa. Vậy quan điểm lấy Thân để đoán ba mươi năm sau là sai lầm.

Đại hạn, tiểu hạn, nguyệt hạn, nhật hạn tính thế nào

Đại hạn đầu tiên ở cung Mệnh thì không cần bàn. Đại hạn thứ hai tuỳ vận hành thuận nghịch mà đóng ở Huynh Đệ hay Phụ Mẫu. Tiểu hạn tính theo cách thông thường là đúng. Ví dụ tuổi Tị thuộc nhóm tam hợp Tị Dậu Sửu, lấy xung của Sửu là Mùi ghi Tị; tuổi Ngọ thuộc nhóm Dần Ngọ Tuất, lấy xung của Tuất là Thìn ghi Ngọ; rồi nam thuận, nữ nghịch. Vô hình trung về sau Thìn Tuất Sửu Mùi đi cùng một nhóm, Tý Ngọ Mão Dậu một nhóm, Dần Thân Tị Hợi một nhóm đối với nam; còn nữ thì thành sáu nhóm. Để thuận tiện, tác giả chỉ nói nam. Đa phần các sách và phần mềm đều chọn cách này.

Điều này hợp lý ở chỗ mọi người đều thấy chung một bầu trời sao di động, nhưng tuỳ thế đứng mà nhìn sự việc khác nhau. Như chiếc tivi đặt chính giữa: người ngồi trước thấy thích, người bên hông, người đằng sau thấy bực, nghe tiếng mà chẳng thấy gì. Trong một số sách có ghi tính lưu niên tiểu hạn; theo tác giả đó là thừa thải, nên quên nó đi, vì ông đã khổ tâm theo nó nhiều mà áp dụng thấy không đúng, nhảy tầm bậy, không liên tục. Ta có một đại hạn để nhìn lâu dài mười năm và một tiểu hạn một năm để nhìn thời điểm hiện tại. Nếu đại hạn xấu, lại thêm tiểu hạn xấu thì rất dễ hung nguy; nhất là khi các sao lưu động đánh phá cung Thân Mệnh Hạn, và các sao Tử Vi, Thiên Cơ đều xấu: tức là chết. Vấn đề còn lại là sao lưu động.

Bầu trời sao lưu động của năm, tháng, ngày

Lá số đứng yên như một sân khấu, còn mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày lại có một dàn đèn mới rọi xuống.

Sao nào là sao lưu động? Tất cả các sao an theo hàng can, hàng chi đều là sao lưu động, kể cả Tứ Hóa. Tác giả cho điểm son với cuốn Tử Vi Ảo Bí về điểm này. Trên bản đồ sao lưu động của một năm, ta có một tiểu hạn và một đại hạn bị ảnh hưởng rất rõ, ảnh hưởng tốt xấu, lợi hại tới cả mười hai cung, tha hồ luận như một lá số Tử Vi mới. Còn hấp dẫn hơn với các sao xung đột nhau: Kình cố định gặp Kình lưu động xung hội họp; tiểu hạn lưu Kình, đại hạn gặp Kình cố định thấy đâu cũng Kình; tiểu hạn lưu Kình, đại hạn lưu Đà; Bạch Hổ xung đại hạn; lưu Hổ nhập đại hạn. Cứ áp bầu trời sao ấy lên lá số của mình với góc nhìn tiểu hạn, đại hạn như cung Mệnh Thân thứ hai. Vì vậy năm Ất Sửu không phải năm Kỷ Sửu, vì biến hoá chữ Kỷ khác chữ Ất và tác động vào đại hạn cũng khác. Không có lý do gì bảo Thái Tuế lưu động được mà Đào Hoa lại không, Thiên Mã lưu động được mà Tuần Triệt lại không; chúng đều là sao cả. Năm Kỷ Sửu nhìn khác năm Ất Sửu nên các hoá khí cũng đổi.

Nguyệt hạn thì sao? Trong lịch có các tháng, và mỗi tháng có bản đồ sao riêng thuộc năm đó. Vị trí các tuổi vẫn nằm im tại chỗ. Ví dụ nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi đang ở cung Mùi, nhóm Tý Ngọ Mão Dậu đang ở Hợi, tất cả đang chứng kiến bầu trời sao ấy. Một người nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi có bộ Tham Vũ thì hoá khí thành Hóa Lộc nên phát tài; nếu có Khúc hoá khí thành Kỵ thì khác. Ta có quyền an cả các sao của tháng như Tả Hữu, Hình, Diêu. Hình dễ đem lại sự trừng phạt, thương tích khi có thêm lưu Kỵ, lưu Triệt; đem lại sự tình nghi nhất khi có Hình cố định lại có Hình tháng xung vào. Ví dụ tháng Kỷ Tị nằm trong năm Kỷ Sửu, chữ Kỷ phát huy giá trị rất mạnh: đại hạn ở Thân, Tý, Thìn thấy bộ Khôi Việt Hình Diêu Kỵ Triệt, giả thiết có Văn Xương hoá khí thành Kỵ thì rất xấu (phiền toái vì giấy tờ), trừ khi có bộ Tham Vũ thì mới hay. Tháng sau Canh Ngọ lại lập một bản đồ sao như vậy rồi đè lên mà luận.

Tính nhật hạn cũng lập bản đồ sao theo ngày. Ví dụ ngày Nhâm Tý có bản đồ sao ngày Nhâm Tý tác động lên Mệnh, Thân, đại hạn, tiểu hạn để luận; chú ý nhất là tiểu hạn, và phiền nhất là có lưu Hóa Kỵ; thêm lưu Việt thì dễ phát sinh sự nghi kỵ, nghi ngờ. Với người sành sỏi, hình dung bản đồ sao theo cách an Tứ Hóa rất dễ: chỉ cần biết hôm nay ngày gì, tháng gì là hình dung được sự bất lợi của lá số mình. Bản đồ sao lấy từ phần mềm của tác giả, lá số Tử Vi lập bằng tay từ đó rất nhanh.

Tóm lại, từ niên hạn ta lấy bản đồ sao của năm, tháng, ngày áp lên đó, tha hồ luận cả mười hai cung. Đó là lý do vì sao có những sự kiện không thấy ở tiểu hạn mà vẫn xảy ra: nó xảy ra ở cung Tật Ách, ở cung đại hạn. Từ đó người ta mày mò tìm lưu niên, lưu nguyệt với nhiều phương pháp quá loạn xà ngầu. Với tác giả, đoán hạn dễ hơn luận mười hai cung; đây là tuyệt chiêu của Tử Vi Ứng Dụng mà lại vô cùng giản dị. Năm này nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi đóng ở Mùi, sang năm trôi về Thân; nhóm Tý Ngọ Mão Dậu ở Hợi, sang năm trôi về Tý; nam trôi xuôi, nữ nghịch, vì quan niệm nam nữ không giống nhau khi nhìn một vấn đề.

Còn một nỗi bận lòng: giờ giấc của ta khác với vạn niên lịch, thỉnh thoảng đưa tới sai cả tháng. Một người ở gần biên giới phía bắc, bên kia sinh con ra có lá số khác người bên này biên giới dù cùng một thời điểm; nghĩ thôi cũng thấy buồn cười. Ta và Trung Quốc chỉ hơn kém nhau một giờ, giờ pháp lệnh, chứ đâu phải giờ Tử Vi; giờ Tử Vi là giờ của trời và bầu trời đang trôi. Việc này quá sức một người, muốn biết đúng sai phải căn cứ thực nghiệm trên nhiều lá số, mà có biết cũng chưa chắc giải quyết được. Đây là bài quan trọng ở phần Hạn; đọc một lần chưa chắc hiểu.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề