Bài tổng quan
Lục thân, tầng vận và Lộc năm sinh ở mười hai cung
Bà ngoại, bố vợ, con trai thứ hai đều có chỗ ngồi riêng trên một lá số, chỉ cần biết lập cực từ đâu. Rồi thời gian cũng chia thành đại vận, năm, tháng, ngày, giờ, mỗi tầng một chiếc can riêng…
Mục lục · 6 phần
Người, vật và việc: mười hai cung chia ba loại
Trong mười hai cung, sáu cung chủ về người: Mệnh, Bào, Phu Thê, Tử Tức, Giao Hữu, Phụ Mẫu. Hai cung chủ về vật: Tài Bạch và Điền Trạch. Bốn cung chủ về sự việc: Sự Nghiệp, Thiên Di, Phúc Đức, Tật Ách.
Lá số nguyên bàn lập cực tại Mệnh, từ đó có mười một cung chức còn lại. Nhưng cực có thể dời. Lập cực tại Tật Ách thì Điền Trạch trở thành Tài Bạch của Tật Ách, và Bào trở thành Sự Nghiệp của Tật Ách. Mệnh, Tài, Quan là tam phương chủ về quản lý cấp trên; Điền, Tật, Bào là tam phương chủ về thu tàng. Tài thu về Điền: Tài là tiền mặt thì Điền là tài sản. Sự Nghiệp thu về Bào: Sự Nghiệp là tính chất công việc, còn Bào là thành tựu hiện hữu, thấy được, kể được, gọi tên được. Lập cực từ Phụ Mẫu thì Giao Hữu là Sự Nghiệp của Phụ Mẫu, Tật Ách là Thiên Di của Phụ Mẫu.
Có thể lập cực từ bất kỳ cung nào, nhưng mỗi lần lập cực lại thêm một bước xa nghĩa nguyên thủy. Nguyên bàn lập cực tại Mệnh; chuyển cực sang Phụ Mẫu là xa một lần; rồi lại chuyển sang Tài Bạch của Phụ Mẫu, tức cung Tử Nữ nguyên thủy, là xa thêm một lần nữa so với cực gốc là cung Mệnh. Sau ba lần lập cực, cung Tử Nữ của Mệnh đã thành cung Tài Bạch của Phụ Mẫu của Mệnh. Càng rời xa nguyên cực thì độ chính xác càng kém, đó là điều cần chú ý khi lập cực.
Từ đó mới có phép dùng lá số của mình để nhìn người thân, và một quy tắc cần giữ cho đúng.
Mượn bàn luận người thân: hồi quy thái cực
Khi mượn lá số của mình để luận chuyện người thân gọi là tá bàn luận lục thân, và có khái niệm hồi quy thái cực. Lấy ví dụ cung Phụ Mẫu nằm ở Dậu. Nếu cung Sửu hóa Kỵ, hoặc Hóa Kỵ chuyển Kỵ vào cung Hợi xung với Tỵ, và muốn luận khi lập cực tại Phụ Mẫu, thì ảnh hưởng từ cha mẹ như sau: Sự Nghiệp của Phụ Mẫu (cung Sửu) hóa Kỵ chuyển Kỵ vào Điền Trạch của Mệnh, xung với cung Tử Nữ của Điền. Cung phát động phi hóa được luận theo cung của cha mẹ (Sự Nghiệp của Phụ Mẫu), nhưng cung đón nhận phi hóa phải tính theo Mệnh nguyên thủy (Điền và Tử của Mệnh nguyên thủy). Đó chính là tá bàn luận lục thân.
Ngoài ra, cần để ý tượng ý của các cung như sau:
- Cung Huynh Đệ chủ anh trai đầu trong nhà. Nếu mình là nam, thì Huynh Đệ là người anh em trai lớn nhất trong số anh em trai còn lại, không kể mình; từ đó tính ngược chiều kim đồng hồ là các anh em trai kế tiếp.
- Cung Phụ Mẫu chủ người chị em gái lớn nhất (khi mình là nữ, không kể mình); từ đó tính thuận chiều kim đồng hồ là các chị em gái kế tiếp.
- Cung Huynh Đệ còn chủ mẹ đẻ, vì là cung Thê của cung Phụ Mẫu; Phụ Mẫu là cha đẻ.
- Cung Huynh Đệ còn là bố vợ hoặc bố chồng, vì là cung Phụ Mẫu của Phu Thê. Cung Tử Nữ là mẹ vợ hoặc mẹ chồng, vì là cung Thê của cung bố vợ.
- Cung Tử Nữ là con trai đầu; Tài Bạch là con trai thứ hai; cứ thế đi ngược chiều kim đồng hồ cho các con trai tiếp theo.
- Cung Huynh Đệ là con gái đầu; Mệnh là con gái thứ hai; đi thuận chiều kim đồng hồ cho các con gái kế tiếp.
- Ông nội nằm ở cung Phúc Đức (Phụ Mẫu của Phụ Mẫu); bà nội, tức Thê của ông nội, ở cung Mệnh.
- Bà ngoại, tức mẹ của mẹ đẻ, ở cung Phu Thê (Huynh Đệ của Huynh Đệ, tức cung mẹ của mẹ mình).
Người thân đã có chỗ ngồi. Còn thời gian, nơi mọi chuyện thành hình, thì cần một hệ trục khác.
Cách dựng các tầng vận
Đại vận tính theo cục số. Điều khác của Lương phái là đại vận thứ nhất không an ở Mệnh mà dùng cung Phu Thê làm Dụng, kết hợp với lưu niên Thái Tuế trong đại vận ấy để xem vận. Người học có thể tham khảo cách an đại vận của Lương phái, hoặc an đại vận ở Mệnh như Nam phái và Tứ hóa phái.
Lưu niên Thái Tuế: năm nào thì Thái Tuế đóng cung ấy. Ví dụ năm Kỷ Hợi, Thái Tuế đóng cung Hợi.
Lưu nguyệt: cung Dần của địa bàn là cung chức nào của nguyên bàn, thì cung chức ấy của lưu niên Thái Tuế là tháng Giêng của năm đó. Ví dụ cung Dần của nguyên bàn là Tài Bạch; năm Kỷ Hợi, Thái Tuế đóng cung Hợi; cung Tài Bạch của cung Hợi là cung Mùi, nên tháng Giêng an ở Mùi. Các tháng sau đi thuận, bất kể nam hay nữ, tuổi âm hay dương: tháng hai là Thân, tháng ba là Dậu, tháng tư là Tuất…
Lưu nhật: tháng là quân, ngày là thần, nên ngày mùng một của một tháng an ở cung liền sau, đếm theo chiều thuận. Tháng Giêng an ở Mùi thì mùng một tháng Giêng ở Thân; tháng hai an ở Thân thì mùng một tháng hai ở Dậu; cứ thế đi thuận có mùng hai, mùng ba, mùng bốn…
Lưu thời: giờ Tý hằng ngày an tại cung của ngày đó, rồi đi thuận đến giờ Hợi. Ví dụ ngày ba tháng hai ở cung Hợi thì giờ Tý ngày ấy ở Hợi, giờ Sửu ở Tý…
Tứ hóa của từng tầng:
- Nguyên bàn: tứ hóa năm sinh.
- Đại vận: tứ hóa theo can của cung đại vận. Ví dụ sinh năm Đinh thì cung Hợi là Tân Hợi; đại vận đến Hợi thì lấy can Tân để an tứ hóa đại vận.
- Lưu niên: tứ hóa theo can của Thái Tuế lưu niên. Lưu ý cung an Thái Tuế chính là cung Mệnh lưu niên, và cung ấy có can riêng. Năm Kỷ Hợi thì Mệnh lưu niên đóng Hợi; cung Hợi của tuổi Đinh, Nhâm là Tân Hợi, nên can Tân được dùng để tính tứ hóa Mệnh lưu niên Kỷ Hợi.
- Lưu nguyệt: tính theo can của tháng. Xem vận tháng Đinh Mão thì dùng can Đinh để phát động phi hóa của tháng. Mệnh tháng đóng ở Mão; với tuổi Đinh, Nhâm thì cung ấy là Quý Mão, nên Mệnh tháng lấy can Quý tính tứ hóa.
- Lưu nhật, lưu thời: tính theo cùng nguyên tắc với lưu niên, lưu nguyệt.
Đọc cát hung của đại vận và cách tầng trên tầng dưới tác động nhau
Trong một đại vận có can của cung đại vận, từ đó tính ra tứ hóa đại vận. Có Mệnh đại vận mới, và mười một cung chức của vận ấy cũng đổi theo khi lập cực tại cung đại vận. Mọi công thức xuyến liên đã học đều dùng được ở đại vận, miễn thay Mệnh mới và các cung chức mới. Ví dụ xem gia đạo hưng suy thì lấy Điền đại vận làm Thể; Mệnh đại vận, Phúc đại vận, Di đại vận và Kỵ năm sinh làm Dụng, tính ra tổ hợp xuyến liên mới. Tổ hợp ấy cho biết gia đạo hưng suy trong mười năm đại vận. Nguyên bàn có tổ hợp Thể Dụng nào thì đại vận cũng có tổ hợp ấy.
Ngoài ra có thể xét tương tác giữa cung cùng chức của đại vận và của nguyên bàn. Chẳng hạn xét phi hóa Lộc Kỵ của Tài Bạch đại vận với Tài Bạch nguyên bàn, gọi là kích trên: tầng đại vận phi hóa kích lên tầng trên là nguyên bàn. Dưới kích trên thì ảnh hưởng nặng; từ trên xuống dưới thì không gọi là kích mà gọi là ứng. Ví dụ Tài Bạch đại vận phi Kỵ, chuyển Kỵ xung Tài Bạch nguyên bàn tọa Dần, nghĩa là trong mười năm ấy có chuyện xấu về tiền bạc. Đến năm lưu niên Dần, hoặc năm Ngọ, thì chuyện xấu ấy ứng nghiệm: năm Dần thì Mệnh lưu niên nhập cung Dần, năm Ngọ thì Tài lưu niên nhập cung Dần. Đó là lối kích trên ứng dưới của Tứ hóa phái. Đây là cách xét đơn giản, và là trường hợp riêng của Phi tinh khi chỉ xét tương tác giữa phi hóa và cung.
Phi tinh Tứ hóa còn xét tương tác giữa tứ hóa đại vận với tứ hóa nguyên bàn để đoán cát hung, tức tương tác phi hóa với phi hóa. Phi hóa là cánh tay nối dài của cung, nên có thể đại diện cho cung để tương tác. Ví dụ Tài Bạch đại vận hóa Kỵ hoặc hóa Kỵ chuyển Kỵ vào cung Thìn; Tài Bạch nguyên bàn cũng hóa Kỵ hoặc chuyển Kỵ vào Thìn hay Tuất, thì có chuyện xấu về tiền, vì hai Kỵ của Tài Bạch đại vận và Tài Bạch nguyên bàn gặp nhau ở trục Thìn Tuất, đó là đồng cung tương bách hoặc lưỡng đầu kiến Kỵ. Cần nắm vững giao Lộc, giao Kỵ và giao Lộc Kỵ, tức Lộc Kỵ hợp tham cùng sao, để xét cát hung cho chính xác.
Mọi công thức trên chỉ là bộ khung. Để khung có hồn, cần thuộc nghĩa của từng hóa và từng cung, như người đầu bếp phải thuộc nguyên liệu.
Bốn hóa và hai nửa của một phép luận
Có nắm được tâm pháp mà không thuộc tượng ý thì không bao giờ luận được mệnh. Thiếu tâm pháp thì tượng ý chỉ là cái xác không hồn; thiếu tượng ý thì tâm pháp chỉ là hồn không xác. Bốn hóa có tượng ý cốt lõi như sau:
- Hóa Lộc: phát sinh, có duyên, vui thích.
- Hóa Quyền: tráng thịnh, quản lý, khống chế, thành tựu.
- Hóa Khoa: văn chất, lý trí, ôn hòa.
- Hóa Kỵ: thu liễm, chấp trước, ra sức.
Bốn nét này là nền cho mọi cách luận về sau: hóa nào, nhập cung nào, cũng xoay quanh các nghĩa ấy. Phép luận giống phương pháp nấu ăn, còn tượng ý là thực phẩm nguyên liệu; hai thứ ấy cần thêm người đứng bếp thì món ăn mới thành.
Nghĩa của bốn hóa đã có. Giờ xem Lộc năm sinh khi an vào từng cung thì tính cách, vận mệnh đổi ra sao.
Lộc năm sinh nằm ở từng cung: mười hai gương mặt của phúc bẩm sinh
Lộc năm sinh là phúc có sẵn từ lúc sinh ra. Tượng nghĩa của Lộc là sinh sôi, hữu duyên, vui sướng. Mỗi cung nhận Lộc sẽ cho một sắc thái riêng.
Mệnh
Mệnh chủ suy xét, tinh thần, tâm tình phản ứng, đồng thời là Giao Hữu của Tật Ách. Mệnh tọa Lộc năm sinh thì suy xét linh hoạt, tinh thần thường tốt, người lạc quan, thông tình đạt lý, nghĩ thông suốt. Giao tế đương nhiên tốt, vì Giao Hữu của Tật Ách tọa Lộc.
Huynh Đệ
Huynh Đệ chủ duyên anh em, thành tựu sự nghiệp (Sự Nghiệp của Tật Ách luận quy mô sự nghiệp, còn Tài Bạch và Điền Trạch luận tiền gửi ngân hàng), và thể chất (Tật Ách của Sự Nghiệp, luận may rủi cho thân thể). Huynh Đệ tọa Lộc năm sinh: ta có duyên với tình huynh đệ, anh em thường thông cảm cho ta. Thành tựu sự nghiệp có tín hiệu tốt, nếu nỗ lực dễ thành công; dù sự nghiệp đổ vỡ cũng dễ gây dựng lại. Ta có thiên khiếu phát triển sự nghiệp, thể chất tốt.
Phu Thê
Phu Thê chủ tình duyên với người phối ngẫu và người khác phái, có phúc tài (Phúc Đức của Tài Bạch), gia đạo nhất lục cộng tông (Điền Trạch của Tật Ách). Phu Thê tọa Lộc năm sinh: tình duyên với người phối ngẫu nồng hậu, họ thông cảm và thấu hiểu ta; ta có phúc duyên với người khác phái. Nếu Phu Thê cùng Tài xâu đa Lộc Quyền, lại giao với các thiên tài tinh (Phá Quân, Tham Lang, Liêm Trinh), dễ được người khác phái giúp mà phát tài. Xâu với Điền Trạch đa Lộc Quyền thì gia đạo hưng thịnh.
Tử Nữ
Tử Nữ chủ tình duyên với con cái, vãn bối, thuộc hạ, cấp dưới; duyên hợp tác trong làm ăn; sức khỏe, nói về năng lực tình dục. Tử Nữ tọa Lộc năm sinh: có duyên lành với con cái, phẩm chất con cái cũng tốt; năng lực tình dục tốt, nhưng nếu xâu qua các sao đào hoa như Liêm, Tham thì phòng phóng túng quá độ mà sinh bệnh.
Tài Bạch
Tài Bạch chủ tiền mặt, cách kiếm tiền và trạng thái kiếm tiền dễ hay khó. Tọa Lộc năm sinh: có duyên với tiền mặt, suốt đời không thiếu tiền chi tiêu, kiếm tiền dễ, thu nhập tốt. Luận cách kiếm tiền cần xem thêm các thông tin phối hợp, không thể võ đoán chỉ nhờ phi hóa; nhưng Tài Bạch có Lộc năm sinh cũng là dấu hiệu rất thuận lợi. Tuy vậy Tài Bạch chỉ cho biết thu nhập chứ không cho biết tài sản tích lũy. Thu nhập cao chưa chắc tích được nhiều, muốn biết phải xem cung Điền.
Tật Ách
Tật Ách chủ thân thể (hình thể, khỏe mạnh, tật bệnh), gia đạo nhất lục cộng tông (Điền Trạch của Sự Nghiệp), nơi công tác (Điền Trạch của Sự Nghiệp), và sự ở chung (tiếp xúc thân thể). Tọa Lộc năm sinh: thân thể có phúc, khỏe mạnh, có da có thịt chứ không gầy xanh. Gia vận tốt, vì Tật là khí số vị của Điền. Nơi công tác rộng rãi, thoải mái. Tâm tính tốt, vì Tật là Giao Hữu của Phúc, thể hiện giao tiếp bằng cảm xúc, sự thông cảm và lòng trắc ẩn với người khác.
Thiên Di
Thiên Di chủ xã hội gặp gỡ, năng lực xử thế ứng đối, sự đi lại. Tọa Lộc năm sinh: giao tiếp xã hội tốt, ra ngoài thường gặp quý nhân, xử thế không câu nệ cố chấp, hợp quan hệ xã hội, vẻ ngoài thân thiện lịch sự. Nếu Thiên Di xâu với Tật và Điền thành nhiều Lộc Quyền thì hay đi lại, đi xa, đi lâu. Nếu Thiên Di xâu với Tử Nữ và Phụ Mẫu thì đi nhanh rồi về, hành trình không xa. Tử Nữ là Thiên Di của Điền Trạch, Phụ Mẫu là Thiên Di của Tật Ách, cả hai đều hàm nghĩa bên ngoài. Bản Tật hay Điền bị xâu cùng Di thì sự đi lại nặng hơn, nên đi nhiều, xa và lâu.
Giao Hữu
Giao Hữu chủ duyên giao tế gặp gỡ, thi cử cạnh tranh (Quan của Phụ Mẫu, mà Phụ Mẫu chủ danh hiệu, bằng cấp, giải thưởng), và việc làm thiện tích phúc đức (Phúc Đức của Điền Trạch, cũng là Điền Trạch của Phúc Đức, tức nơi tích phúc, kho tàng của phúc đức). Tọa Lộc năm sinh: nhân duyên tốt, thường có bạn tốt, cạnh tranh thi đấu dễ thắng hơn người có Giao Hữu xấu; cũng là người chịu khó hành thiện tích phúc. Các lãnh tụ quần chúng cách mạng đều có Giao Hữu tốt, như Gandhi hay Tôn Dật Tiên.
Sự Nghiệp
Sự Nghiệp chủ trạng thái làm việc, phương thức kiếm tiền, vận khí. Tọa Lộc năm sinh: làm việc rất thuận lợi, trôi chảy. Cách kiếm tiền cụ thể cần tham khảo thêm các thông tin khác mới đoán chính xác, nhưng có Lộc năm sinh ở Sự Nghiệp thì công việc đương nhiên thuận. Có thành tựu hay không phải xem tam phương Điền, Tật, Bào là các cung thành quả của đời người; đặc biệt Bào là Sự Nghiệp của Tật Ách, cho biết trực tiếp thành tựu sự nghiệp.
Điền Trạch
Điền Trạch chủ gia đình, tài sản, hoàn cảnh sinh hoạt. Tọa Lộc năm sinh: không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ, hòa thuận; kinh tế, thu nhập, chi tiêu của gia đình tốt; hoàn cảnh sinh hoạt cũng tốt.
Phúc Đức
Phúc Đức nắm chữ Linh trong thần linh, chủ tinh thần, linh tính, linh mẫn của đời người, đam mê tinh thần, năng lực xử thế EQ, và cho biết mệnh chủ thích gì. Phúc Đức là tổng hợp của thiên phúc tiên thiên và đức hậu thiên. Đức là việc tốt mình làm hằng ngày, về sau chuyển thành phúc. Phúc khí vô hình ấy bảo vệ bản thân và truyền lại cho con cháu; còn việc tốt hữu hình thì chỉ kể lại được chứ không truyền như phúc khí. Phúc Đức tọa Lộc năm sinh: tinh thần thường an lạc, vui vẻ, không câu nệ chấp nhất, nhưng dễ ham hưởng lạc, dễ cẩu thả, không hợp công việc đòi hỏi tỉ mỉ chính xác. Phúc dày thì hay gặp may vô hình, gặp sự cố thường có quý nhân giúp.
Phụ Mẫu
Phụ Mẫu chủ tình duyên với cha mẹ, trưởng bối, thủ trưởng, người già; việc đọc sách, bằng cấp, học tập, trí thông minh IQ; và giao dịch tài chính với bạn bè, người khác (vì Phụ Mẫu là Giao Hữu của Tài Bạch). Tọa Lộc năm sinh: có duyên tốt với người lớn tuổi, cấp trên; thông minh, ham học, may mắn trong học hành thi cử; có duyên giao dịch tiền mặt với người khác, nên có thể làm nghề cho vay, tín dụng.
Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.
