Bài tổng quan
Cùng bảng số, khác hoàn cảnh: những lỗi hay gặp khi luận lý số
Cùng một bảng số trùng giờ, người sinh ở vùng sâu vùng xa và người sinh nơi thị thành lại cần được luận đoán theo hai mức độ khác hẳn nhau — bảng số sao cung, suy cho cùng, chỉ là một kẻ mù trước hoàn cảnh và giai cấp thực tế. Từ đó kéo theo cả một chuỗi sai lầm dễ mắc: từ phía người xem số, từ phía thân chủ, và từ chính những giới hạn cố hữu của khoa Lý số học...
Ai có đủ giờ, ngày, tháng, năm sinh thì đều có một lá số Lý số học, chẳng hề phân biệt sang hèn. Thế nhưng người giải đoán giỏi luôn biết xét thêm ba điều nằm ngoài lá số: hoàn cảnh, giai cấp và môi trường sinh sống. Về nguyên tắc, đây là một ngoại lệ nghe có vẻ lạ, nhưng ngoài thực tế thì hoàn toàn hợp lý, vì con người chịu ảnh hưởng rất mạnh của khung cảnh mình sống và của giai cấp mình được sinh ra, lớn lên trong đó.
Hoàn cảnh giai cấp và môi trường sinh hoạt
Cảnh sống và giai cấp cùng nhau nắn nên lối sống, học vấn, và phần nào cả số phận của những người chung một cảnh, một giai cấp. Vì vậy, đặt hai lá số sao cung trùng giờ cạnh nhau, nếu chủ nhân khác hoàn cảnh, khác giai cấp, lời luận ra vẫn có điểm lệch nhau. Hãy nhìn người ở miền hẻo lánh, nơi việc học chưa phổ cập: vốn văn hóa của họ khó sánh với dân thị thành, những người có sẵn nhiều phương tiện để học hỏi. Bởi thế, ý nghĩa của các sao trong những lá số cùng giờ phải được tăng hoặc giảm sức nặng, độ đậm nhạt cho khớp với từng cảnh. Thí dụ bộ Xương, Khúc, Khoa: với người miền xa, nó chỉ đủ dẫn đến bậc trung học; với dân tỉnh thành, nó có thể đưa lên tận đại học, cao học. Một tác giả đầu thế kỷ hai mươi từng viết rằng bộ Khoa, Quyền, Lộc giúp dân quê làm tới xã trưởng, chánh tổng, còn dân phố thị thuộc tầng lớp trí thức thì có thể leo đến hàng tứ phẩm, thậm chí tam phẩm.
Song cũng phải thừa nhận, với cả hai hạng người này đều có những trường hợp ngoại lệ, và chính chúng làm cho lời luận dễ chệch. Cái chệch có thể xuất phát từ người giải đoán khi họ níu quá chặt vào hoàn cảnh, giai cấp và môi trường sinh sống, xem đó là những khuôn bất biến; cũng có thể xuất phát từ chiều ngược lại, khi họ tựa vào ba yếu tố ấy để đóng khung cả cuộc đời, bỏ quên những yếu tố khác vốn nặng ngang nhau. Từ đó thấy rằng Lý số học chỉ có giá trị tương đối, nhất là khi gặp những người trùng số mà khác hoàn cảnh, khác giai cấp, khác môi trường sống. Cũng từ đó thấy rằng bản thân lá số sao cung giống một kẻ mù, không tự nhận ra ba yếu tố của đời thực kia; phần khuyết ấy chỉ được lấp đầy nhờ mắt nhìn và kinh nghiệm của người giải đoán.
Hoàn cảnh người ngoại quốc
Số của người ngoại quốc, cho dù sinh ra ở Việt Nam, vẫn bị chi phối bởi hoàn cảnh và giai cấp riêng của họ. Vì vậy những điều dè dặt về hai yếu tố này cũng phải được các nhà Lý số học lưu tâm đúng mức. Có người còn thêm cả yếu tố văn hóa và yếu tố huyết thống. Bổ sung như vậy thì Lý số học càng trở nên tương đối và phức tạp khôn cùng. Nhưng nếu tạm gác các yếu tố khác biệt ấy sang một bên, người ta vẫn có thể xem số một cách đại thể cho người ngoại quốc hay người sinh ở nước ngoài; còn những nét riêng cụ thể thì do chính đương số tự gia giảm theo cảnh ngộ của mình.
Điều cần nhớ khi lập số cho người ngoại quốc hay người sinh ở nước ngoài là phải đổi cho chuẩn giờ, ngày, tháng, năm âm lịch. Trong bốn yếu tố ấy, riêng giờ có tính quyết định, nên phải quy đổi thật chính xác. Muốn đổi giờ cho đúng phải lấy hai mốc Tý và Ngọ làm gốc: chính Tý là nửa đêm, chính Ngọ là giữa trưa. Người sinh từ hai mươi ba giờ đêm đến một giờ sáng hôm sau thuộc giờ Tý; người sinh từ mười một giờ đến mười ba giờ thuộc giờ Ngọ. Từ hai trục Tý, Ngọ ấy mà tính dần ra các giờ còn lại, cứ hai tiếng đồng hồ là một giờ âm lịch.
Do phải lấy giờ tại chính nơi sinh làm chuẩn, nên rất có thể giờ Tý ở Việt Nam lại là giờ Ngọ ở một xứ khác. Cần ghi nhớ rằng gốc để tính là giờ ở nơi sinh chứ không phải giờ ở nơi đang xem số. Thêm nữa, giờ còn liên quan đến ngày: với người sinh giờ Ngọ ở nước ngoài, giờ ấy có thể thuộc ngày hôm trước hoặc hôm sau so với ngày âm lịch ở Việt Nam, tùy tính về bên phải hay bên trái của tuyến Greenwich. Tính về bên phải thì cộng thêm một ngày; tính về bên trái thì trừ bớt một ngày của âm lịch.
Những sai lầm cần cảnh giác
Dù đã có sẵn phép tắc xem số, thực tế vẫn rất khó đi sâu vào mọi chi tiết phức tạp của từng sự việc. Chẳng hạn thấy Thiên Mã gặp Phục Binh, Địa Không, Địa Kiếp thì có thể đoán mất xe. Song thực tế cho thấy nhiều khi chỉ mất vài bộ phận của chiếc xe. Lý số học chỉ nói đến chiếc xe nói chung, chẳng tả cụ thể bánh, đèn hay kính xe; cũng không phân được xe công hay xe nhà, và khi một người có nhiều xe thì cũng không thể chỉ đích danh mất chiếc nào. Thực tế rối rắm như thế, nên Lý số học dù tinh vi đến đâu cũng không soi hết mọi ngóc ngách của đời sống; sai lầm luôn khó tránh, chỉ khác ở chỗ ít hay nhiều.
Nguồn gốc của sai lầm có thể đến từ bốn phía: từ chính người giải đoán, từ thân chủ, từ bản thân lá số sao cung, và từ những giới hạn vốn có của Lý số học.
Những sai lầm của người giải đoán
Người giải đoán có thể vấp ở nhiều khâu: khâu vận dụng các yếu tố, khâu đánh giá chúng, khâu diễn giải sự kiện, và cả hai chuyện ngoài chuyên môn là bị thân chủ đánh lừa hoặc mất hứng khi xem. Ở khâu vận dụng, lỗi đến khi người xem không gom đủ các yếu tố, để sót những điều then chốt như hoàn cảnh, thời gian hiệu lực, hay ranh giới giữa sao chính và sao phụ. Ở khâu đánh giá, lỗi đến khi cân nhắc thiếu chừng mực. Vốn mỗi thầy số có một cây cân riêng, hình thành từ kinh nghiệm hành nghề: thầy chuyên xem cho tù nhân thì quen đề cao sao xấu và xem nhẹ sao tốt; thầy quen xem cho giới trung lưu, thượng lưu sẽ bỡ ngỡ, lạc điệu và dễ lầm khi ngồi trước giới hạ lưu. Nguyên do là việc chuyên hóa dựng cho người xem một thang giá trị về các sao khác xa thang giá trị ban đầu; nghĩa và sức nặng của sao bị họ chỉnh dần theo vốn chuyên khoa, và năm tháng qua đi, sự chỉnh ấy đóng thành nếp, rất khó bỏ. Lại nữa, người thiên về thiện thì hay tô đậm điều tốt của đương số, người thiên về ác thì hay nghiêng về điều xấu; có kẻ còn lấy một ca riêng lẻ để suy cho tất cả. Ở khâu diễn giải, lỗi có thể đến từ lối trình bày mơ hồ, dẫu người xem đã bắt đúng mấu chốt vấn đề. Người xem cũng lầm khi để thân chủ dắt mũi: khách đi xem thường thử thầy bằng cách bịa chuyện hoặc phủ nhận những điểm đã đoán trúng, khi vì tự ái, khi vì thẹn, khiến thầy hụt tự tin mà đổi hướng luận giữa chừng. Một thầy số thấu Lý số học sẽ không để khách hay hoàn cảnh xung quanh làm lung lay; lúc xem, chỉ nhớ đến bản thân mình và lá số đang bày trước mắt. Sau rốt, nguyên nhân quan trọng nữa là chính người giải đoán mất hứng lúc xem. Có hứng thì họ bắt được nhiều điểm thật tinh vi, và nói ra vấn đề đúng tầm vóc sự thật, đủ đầy, cụ thể hơn. Xem dồn quá nhiều lá số trong một buổi thì những lá cuối chắc chắn không còn tỉnh táo. Hứng của người xem số lúc thì đến bất thần, lúc thì nhờ đầu óc minh mẫn, lúc thì được chính thân chủ xác nhận đúng ngay từ câu đoán đầu. Kinh nghiệm cho biết, sự hứng thú này đóng góp tới bảy phần mười độ chính xác của lời đoán.
Những sai lầm bắt nguồn từ thân chủ
Nếu thân chủ vì tự ái hay muốn thử thầy mà ra sức bác một lời đoán vốn đúng, khiến thầy số phải đổi hướng luận, thì chính họ cũng đã góp phần làm sai lệch việc giải đoán. Nhưng quan trọng hơn cả là phúc đức thực tại của thân chủ, điều mà nhiều khi chính họ cũng không lường được. Trên hai lá số sao cung giống hệt nhau, cuộc đời của hai thân chủ khác nhau chính vì phúc đức thực tại này quyết định. Phúc đức thực tại là những sức mạnh mà mỗi người được hưởng từ âm đức cha mẹ để lại và từ công đức do chính mình gây dựng; âm đức và công đức ấy sửa đổi ít nhiều hướng đi vốn có của cuộc đời. Ví dụ hai người cùng có Thiên Quang, Thiên Phúc đồng cung ở Mệnh, ai làm nhiều việc phúc, sống tốt hơn thì phúc đức thực tại lớn hơn, được thần linh phù hộ nhiều hơn, được người đời giúp đỡ nhiều hơn. Mỗi vì sao mạnh yếu khác nhau tùy từng người, cường độ hay nhược độ của nó cũng đổi theo từng người; những yếu tố thực tế này của thân chủ nhiều khi chỉ được xác nhận qua hậu nghiệm về sau, chứ không phải ngay khi thầy số đang luận. Cũng thuộc phạm trù phúc đức thực tại, kẻ nào cậy số mình vốn tốt mà bỏ bê công đức, khoanh tay chờ thời thì rốt cuộc cũng không tiến đạt như ý.
Những sai lầm từ lá số sao cung và từ giới hạn của Lý số học
Lập lá số với giờ, ngày, tháng hay năm sinh sai thì đoán thế nào cũng không trúng. Đa số người Việt thuở trước không rõ giờ sinh chính xác, thường mượn một hiện tượng đời sống để gọi giờ: người bảo mình chào đời khi gà gáy, người bảo lúc trẻ con đi học, người bảo lúc chiều tà... Có người nắm đúng giờ sinh âm lịch nhưng không biết rằng, từ năm 1943, giờ chính thức ở Việt Nam đã thay đổi sáu lần, có lần chênh tới hai tiếng đồng hồ, nên không quy chuẩn lại được. Có người khai giờ sinh nằm ngay biên giới của hai giờ âm lịch nối nhau, ví dụ một giờ trưa là biên giữa giờ Ngọ và giờ Mùi, khiến việc phân định trở nên nan giải. Có người ra đời vào giờ Tý, Sửu, Dần lúc trời còn tối nhưng quên tính sang ngày mới; như sinh lúc một giờ rưỡi đêm ngày mười tám rạng ngày mười chín thì ngày sinh phải là mười chín, vì ngày mới đã mở đầu từ đúng giờ Tý. Có người sinh trong tháng nhuận nhưng tự đôn lên thêm một tháng, làm sai hẳn tháng sinh thật. Cũng có người được khai sinh muộn hơn ngày giờ thực, lâu ngày quên mất ngày sinh gốc và lấy luôn ngày khai sinh làm ngày sinh chính thức. Một nguồn sai khác là việc an sao đặt lệch chỗ; vì thế, trước lúc đoán, người xem nên soát lại kỹ vị trí từng sao trên lá số. Sau cùng, một số loại số đặc biệt cũng rất dễ khiến ta lầm: lá số có quá nhiều phối cách đối chọi nhau, đoán về phía nào cũng có lý mà cũng dễ sai; các cặp song sinh trùng giờ, mà lá số chỉ đúng được cho một trong hai người, hoặc anh hoặc em, và khó phân định hơn nữa là cặp song sinh một nam một nữ. Thêm vào đó, những đời quá nhiều sóng gió, hay ngược lại quá nhàn nhã đơn điệu, cũng dễ làm việc đoán lệch đi: một mặt vì các sao trên lá số không đủ độ phức tạp để diễn tả trọn một chuỗi biến cố dồn dập, mặt khác vì chính các sao ấy, bản chất vốn rối rắm, lại không tương thích để tả một cuộc đời quá đỗi giản đơn.
Sau chót còn một lớp sai lầm sinh từ chính giới hạn cố hữu của Lý số học. Vì tổng số lá số sao cung khả hữu tối đa chỉ là năm trăm mười hai ngàn sáu trăm bốn mươi, trong khi phải dùng chung cho toàn dân số thế giới, nên phạm vi ứng dụng của khoa này tất nhiên càng hẹp lại. Chỉ riêng ở Việt Nam, cứ bảy mươi ba người lại chung đúng một lá số Lý số học. Sự trùng số này rất dễ dẫn đến sai lầm, bởi với bảy mươi ba con người ấy, ta chỉ có thể có bảy mươi ba hướng luận đoán khả dĩ về vận mạng, chứ tuyệt nhiên không phải một vận mạng duy nhất dùng chung cho tất cả. Nhận ra giới hạn ấy không làm giảm giá trị của khoa Lý số học, mà chỉ nhắc người học rằng lá số là một khung chung, còn đường đi cụ thể của mỗi con người vẫn phải được soi thêm bằng cảnh ngộ, phúc đức và sự tỉnh táo của người luận đoán.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).
