Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Dương Nhẫn, Đà La, Thiên Cẩu và Thiên Ất quý nhân theo Phan Tử Ngư

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202616 phút đọc2 lượt đọc
Dương Nhẫn, Đà La, Thiên Cẩu và Thiên Ất quý nhân theo Phan Tử Ngư

Phan Tử Ngư thú nhận đã xếp Đà La vào danh sách đen vì không cổ thư nào nhắc đến nó, còn Thiên Cẩu thì ông dạy cách gõ trống đuổi con chó nuốt mặt trời. Rồi ông kể chuyện mình cưới người vợ cũng đủ bốn quý nhân, một cặp trời định...


Dương Nhẫn: sao của tiểu nhân, đao thương và đoạn duyên

Dương Nhẫn là sao của tiểu nhân, chủ đao thương, đoạn duyên, trì hoãn… Nhưng trên từ tổng thống, dưới đến thường dân, ai cũng có Dương Nhẫn; chỉ cần xem nó ở cung nào, đất nào, đồng cung với sao nào, mỗi nơi một cách xem khác nhau.

Đại tiểu hạn gặp Dương Nhẫn thì mọi việc trì hoãn, không đạt hiệu quả dự kiến, phải phòng đao thương hoặc tình cảm biến đổi. Cự Môn đồng cung Dương Nhẫn thì tình cảm bất lợi, có rối rắm. Tham Lang đồng cung Dương Nhẫn thì vì sắc mà rối. Thiên Tướng đồng cung Dương Nhẫn thì cẩn thận phòng bị phụ nữ vu hãm. Cự Môn – Dương Nhẫn thêm Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh) thì e có chuyện tự hủy. Cung Tật Ách có Dương Nhẫn thì có đao thương.

Dương Nhẫn trong năm trụ thập tự

  • Trụ ngày và trụ giờ, Dương Nhẫn đạp lên nhau: mệnh ngắn, chết giữa đường.
  • Dương Nhẫn quá nhiều, e chết vì đao thương.

Một bà họ Lâm có thập tự: năm Mậu Dần (đất đầu thành), tháng Mậu Ngọ, ngày Mậu Tuất, giờ Tân Dậu, thai Kỷ Dậu. Thủy thổ bại ở Dậu, bà mất vì ung thư tụy. Ba Dương Nhẫn sát Mã, chết vì đao thương, quả nhiên vì phẫu thuật mà mất. Không Vong của Mậu Dần nằm ở Dậu, nên một con mất trước (từng phá thai một lần), và mười kế hoạch thì chín thành không.

Một ông họ Trương có ngày Kỷ Sửu, giờ Quý Mùi, hai Dương Nhẫn đạp nhau: ông đoản mệnh, chết giữa đường.

Các thế Dương Nhẫn thường gặp

  • Năm và ngày Dương Nhẫn đạp nhau (năm Nhâm Ngọ, ngày Mậu Tý) là mệnh ngắn chết giữa đường.
  • Trụ giờ tự nhẫn (năm Quý Hợi, giờ Nhâm Tý): dù giàu sang cũng cô độc. Mệnh này Lộc rơi Tiệt Không, giàu sang chờ chi? Không Vong của Quý Hợi lại nằm ở Tý, tuổi già cô độc lại nghèo túng.
  • Người thương tàn (năm Giáp, tháng Giáp, ngày Mão, giờ Giáp): nữ mệnh yểu thương, tự hại, nhẹ thì thấy máu, khắc chồng; nam mệnh gù lưng, bị hình, khắc vợ.
  • Dương Nhẫn phá toái: năm Quý Mùi và Quý Sửu có Sửu; năm Canh Thân và Canh Dần có Dậu. Phạm thì phòng thương tàn.
  • Năm gặp nhẫn sát, sớm ăn cha mẹ; giờ gặp nhẫn thương, muộn ăn con cái. Người sinh năm Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Nhâm Tý, Quý Sửu thì thuở nhỏ không khắc cha cũng khắc mẹ. Nếu trụ giờ lại gặp các can chi ấy thì tuổi già khắc con cái, người tóc bạc tiễn người tóc xanh.

Các thế Dương Nhẫn trên lá số Tử Vi

  • Dương Nhẫn tọa Mệnh tại Ngọ hoặc Tý là người sa cơ.
  • Dương Nhẫn tọa Mệnh (ở Ngọ, Mùi, Thìn, Dậu, Mão, Tuất, Sửu, Tý) là mệnh cô độc: tính khí cố chấp, tư tưởng thiên lệch, bất mãn với thực tại, lục thân không giúp.
  • Dương Nhẫn – Lực Sĩ: lao mà vô công. Nói chuyện quá xốc, được lý mà không tha người. Cách bổ mệnh: khi trách người khác sai thì chỉ điểm vừa đủ, không được xé mặt người ta.
  • Thái Dương – Thái Âm – Dương Nhẫn (Mùi, Sửu): một là bất lợi cha mẹ, cha cố chấp, duyên cha mẹ mỏng; hai là bệnh gan; ba là mệnh hẹ; bốn là đào hoa mệnh; năm là ái tình sự nghiệp đều gập ghềnh; sáu là béo phì; bảy là có chí khó vươn; tám là đại tiểu hạn gặp thì người nữ trong nhà bị thương.
  • Thiên Tướng – Dương Nhẫn (Ngọ, Mùi, Thìn, Dậu, Mão, Tý, Sửu, Tuất, có khi cùng Liêm Trinh, Tử Vi) là nữ nan mệnh: cẩn thận phòng bị phụ nữ liên lụy, hãm hại. Cách bổ mệnh: một, đừng gieo hoa chọc cỏ, đừng tự cho mình đa tình, đừng bị lời hoa mỹ của phụ nữ mê hoặc; hai, đừng ân cần nịnh nọt trước mặt phụ nữ, đừng phô trương; ba, đừng thấy khác nghĩ đổi, đừng làm kẻ háo sắc.
  • Dương Nhẫn – Mộc Dục (ở nhiều cung): ắt mắc ác tật.

Đà La: sao vạn ác bị xếp vào danh sách nghi vấn

Tử Vi Đẩu Số có sao Đà La; theo kiểm chứng của Phan Tử Ngư, tất cả cổ thư đều chưa nhắc tới Đà La, nên ông rất nghi ngờ sao này, đã xếp vào danh sách đen hàng đầu, đang truy xét hết sức.

Tạm phân tích Đà La như sau: Đà La kỵ nhất đồng cung với Thiên Tướng, ngồi cung nào cung ấy bất lợi. Đà La cũng kỵ đồng cung Tham Lang, vì sắc mà phá bại; nam phòng bị phụ nữ liên lụy, nữ mệnh phòng bị xâm hại, nam mệnh đặc biệt e mất mạng trong chuyện phòng the. Tục gọi là “thoát dương”, còn phụ nữ phòng tính dục quá độ mà “thoát âm”.

Đà La tọa Mệnh thì hợp kết hôn muộn, tự cho mình đúng, cả đời lo nghĩ. Đại tiểu hạn gặp Đà La thì trăm việc bất cát, mọi việc trì hoãn; đại hạn đi qua Đà La thì mau dọn nhà. Đà La tọa Tật Ách thì bệnh ngầm dai dẳng: kéo dài rất lâu, người ta không sợ chết, chỉ sợ nhất bệnh lâu.

Đà La đồng cung Thiên Đồng thì béo phì, hợp làm trung gian, mệnh bà mối. Đà La đồng cung Cự Môn thì bị người khác phái quấn quýt không rõ ràng. Đà La là sao vạn ác, không cát tinh nào cứu được, không phép nào bổ được, cứ mặc nó đi.

Các thế Đà La thường gặp

  • Đà La tọa Mệnh (ở Tỵ, Mùi, Thân, Thìn, Tuất, Dần, Sửu, Hợi): tự cho mình đúng, một lần lỡ bước thành mối hận ngàn xưa; hợp hôn muộn.
  • Đà La – Liêm Trinh – Tham Lang (Tỵ, Hợi) hoặc Đà La – Tham Lang (Dần, Thân) tọa Mệnh: không thể ngóc đầu. Nữ mệnh phòng sa vào phong trần hoặc bị xâm hại. Nam mệnh phòng vì sắc mà phá tài, rước họa, thậm chí mất mạng trong chuyện phòng the. Cách bổ mệnh: cố gắng tranh thượng du, đừng gần nữ sắc, giữ thân tự trọng, an phận thủ thường.

Thiên Hình: sao của xuất gia, pháp luật và học thuật

Thiên Hình ở hãm địa (Sửu, Mùi) chủ yểu thọ, hợp xuất gia, phòng hỏa tai. Ở miếu vượng (Dần, Mão, Dậu, Tuất) chủ có quyền uy, lại gọi là Thiên Hỷ thần, hợp làm y học hoặc dược vật học. Thiên Hình tọa Mệnh thì có duyên với tôn giáo, hợp hiến thân cho tôn giáo.

  • Người thành danh (Thái Dương – Thiên Lương – Thiên Hình tại Mão, Thái Dương – Cự Môn – Thiên Hình tại Dần): hợp pháp luật, cơ quan điều tra, quân đội cảnh sát.
  • Mệnh chuyên gia (Thiên Cơ – Thiên Lương – Thiên Hình tại Tuất): hợp tư pháp, học thuật… Phan Tử Ngư có cách này, nay là danh gia Tử Vi Đẩu Số.
  • Người xuất gia: đại tiểu hạn gặp Thiên Hình ở Sửu hoặc Mùi thì hợp xuất gia, phòng hỏa tai, kiện tụng, trong nhà có người thương vong.

Thiên Cẩu: con chó nuốt mặt trời mặt trăng

Người xưa không hiểu thiên văn học, nên mỗi khi gặp nhật thực, nguyệt thực thì cho rằng Thái Dương, Thái Âm bị Thiên Cẩu nuốt, vội đánh trống gõ chiêng để dọa lui hoặc làm Thiên Cẩu giật mình bỏ chạy. Quả nhiên, sau một hồi trống chiêng, Thiên Cẩu bị dọa chạy, nhật nguyệt lại sáng.

Tử Vi Đẩu Số xưa không nhắc Thiên Cẩu, Tam mệnh thông hội cũng không nhắc Thiên Cẩu; chỉ riêng Thất chính Tứ dư rất coi trọng Thiên Cẩu:

Thiên Cẩu độc hiềm Ngũ Thất.

Phàm Thiên Cẩu tọa cung Tử Nữ (Ngũ) thì con cái sinh nhiều nuôi ít; hoặc tọa cung Phu Thê (Thất) thì phối ngẫu mất trước, hoặc không kết hôn. Ngoài ra, đại tiểu hạn gặp Thiên Cẩu:

  • Phòng bị tiểu nhân hãm hại.
  • Không hợp dọn nhà, điều chuyển, thiên di, đổi nghề.
  • Mất của, bị trộm.
  • Bị người quịt hụi.

Ngày ngồi Thiên Cẩu

Theo năm sinh Tý đến Hợi, ngày sinh cần tránh lần lượt là Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu. Phạm thì có thể bị hủy tướng mạo.

Các thế Thiên Cẩu thường gặp

  • Thái Dương – Thiên Cẩu (ở nhiều cung, có khi cùng Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương): phải cẩn thận bệnh về mắt.
  • Thiên Cẩu tọa Phu Thê: vợ chồng có khắc. Thiên Cẩu tọa Tử Nữ: con cái có khắc. Nếu không khắc thì cũng như người dưng.
  • Phan Tử Ngư, khi tiểu hạn đi đến Thìn, gặp Thiên Cẩu, bị móc túi mất hơn một vạn đồng.

Chư thần: phân biệt thần lành và sát dữ

Cổ thư có rất nhiều sao gọi là Sát, tốt cũng gọi Sát, xấu cũng gọi Sát, tốt xấu không phân, rất lộn xộn. Phan Tử Ngư sắp xếp lại: cát thì gọi là “Thần”, hung thì gọi là “Sát”, nhờ vậy dễ thấy ngay.

Thiên Ất quý nhân

Cách an quý nhân theo can năm sinh có bài thơ nhớ:

Giáp Ngưu kiêm Mậu Dương,
Ất Thử Kỷ Hầu hương,
Canh Mã phùng Tân Hổ,
Nhâm Thố Quý Xà tàng,
Bính Trư Đinh Kê vị,
Thử thị quý nhân hương.

Nghĩa là: Giáp, Mậu ở Sửu và Mùi; Ất, Kỷ ở Tý và Thân; Canh, Tân ở Ngọ và Dần; Nhâm, Quý ở Mão và Tỵ; Bính, Đinh ở Hợi và Dậu.

Người mang quý nhân thì dung mạo đoan trang, lòng dạ lương thiện, phẩm đức cao nhã, có trí tuệ, yêu tài hoa, trọng tình bạn, có cảm giác chính nghĩa, vui giúp người, không mưu lợi riêng, làm người chính phái, không ưa tà ác. Đại tiểu hạn gặp lưu quý nhân thì lợi cho thi cử, thăng chức, hôn nhân, sinh nở…, mọi việc thuận lợi, thông suốt không bị cản trở.

Quân tử mệnh

Thiên Ất quý nhân là cát thần, mệnh mang quý nhân thì gặp hung hóa cát, không nhất định phải giàu sang thế nào, nhưng đều là bậc chính nhân quân tử, đáng kết bạn, đáng gửi gắm. Phan Tử Ngư có thập tự: năm Canh Ngọ, tháng Mậu Dần, ngày Tân Hợi, giờ Canh Dần, thai Kỷ Tỵ, đầy bàn quý nhân, nên biết ông là bậc chính nhân quân tử, đáng kết bạn, đáng gửi gắm cả đời.

Người chính phái

Phàm mệnh có trụ ngày ngồi tự quý thì làm người chính phái, không nói dối, không lừa gạt, không khoác lác, không nịnh bợ, sống hậu đạo, không thói xấu, thích giúp người làm vui, có lòng cứu đời giúp người. Nam mệnh đáng gửi gắm cả đời, đáng kết bạn; nữ mệnh hiền thục, dung mạo đẹp, đáng làm vợ chồng. Tự quý chỉ có ba ngày: Đinh Dậu, Quý Tỵ, Canh Ngọ.

Ngày ngồi quý của năm

Từ xưa đến nay, trong lịch sử thấy bao hiền thê lương mẫu, cũng thấy bao người đàn bà dâm đãng vạn ác; đàn bà cũng là đàn bà, vì sao khó đoán đến vậy, nhìn từ đâu mới biết đó là hiền thê lương mẫu hay dâm đãng vạn ác? Chỉ có nhìn thập tự của người ấy, dù là hồ ly tinh cũng khó che hình.

Nam mệnh mừng nhất là trụ ngày ngồi quý của năm, ắt cưới được người vợ hiền thục. Thật đáng ngưỡng mộ: rất nhiều người đàn ông không tham vinh hoa phú quý, chỉ mong cưới được một người biết ý, biết thương; còn nhiều hơn nữa là những người sự nghiệp thành đạt mà tiếc nuối vì hôn nhân không đẹp.

Giờ và ngày ngồi quý: lương tướng hiền thần

Trụ ngày và trụ giờ đều ngồi quý thì quý đáng khen: làm người chính phái là quân tử, nếu không là hiền thần thì cũng là lương tướng, giữ nước bảo dân làm rường cột.

Chi của trụ ngồi quý

Người xưa lấy chi tháng ngồi quý thì luận là cát, hợp văn nghệ, khoa kỹ, nghệ thuật, máy tính… Nữ mệnh càng cát, hiền thục ôn hòa, hiền thê lương mẫu, có vận giúp chồng, được chồng thương xót. Thực ra, theo thuật “thấy một lá biết mùa thu”, bất cứ chi nào trong năm trụ ngồi quý đều chủ cát tường.

Thai ngồi quý, tháng ngồi quý

Ta ở đời không cầu đại phú đại quý, không cầu làm hoàng đế hay thừa tướng, chỉ cầu có phúc là đủ. Thai được quý nhân thì người này được phúc ấm che chở, hạnh phúc nhất, gặp hung hóa cát. Phàm chi tháng và chi thai ngồi quý của năm thì ắt được phúc ấm, chỉ cần không bị hình, xung, phá, hại; nếu bị thì chủ nghèo khốn hoặc yểu thọ. Năm tháng thai hoán đổi cho nhau thì luận như nhau.

Năm và giờ quý nhân đạp nhau

Năm Bính thì quý nhân ở Hợi, can giờ Kỷ thì quý nhân ở Thân: một lá số năm Bính Thân, giờ Kỷ Hợi, phúc thọ cùng đến, giàu sang đều trọn.

Lại có cách quan lộc ngồi quý: năm Bính lấy Quý làm quan, Quý lấy Tỵ làm ấn, tức là quý; giờ Quý Tỵ, mệnh này giàu sang đáng trông đợi.

Quý nhân đội sao quan, gấm thêm hoa

Theo can năm sinh Giáp đến Quý, quý nhân ở Sửu, Tý, Hợi, Dậu, Mùi, Thân, Ngọ, Dần, Mão, Tỵ; kèm thế gấm thêm hoa lần lượt là Canh Tý (Ất), Quý Hợi (Bính), Ất Mùi (Mậu), Giáp Thân (Kỷ), Bính Dần (Tân), Kỷ Mão (Nhâm), còn Giáp, Đinh, Canh, Quý không có. Thập tự có các thế này thì giàu sang đáng trông đợi. Thuật Đăng hạ nói: ngồi trụ ngày thì nam cưới vợ hiền, nữ gả chồng tốt; ngồi trụ giờ thì sinh quý tử hoặc hiếu tử, thậm chí vừa quý vừa hiếu, con cái rạng rỡ tông tổ.

Người diễn nghệ

Trụ ngày ngồi quý: một cô họ Trần có năm Canh, ngày chi Ngọ, thích hợp phát triển trong giới diễn nghệ. Một cô họ Trương có năm Canh, ngày Nhâm Ngọ, cũng hợp giới diễn nghệ, lại là diễn viên có tiền.

Ngày gặp quý, giờ thì việc ắt thành

Mệnh có giờ ngồi quý của ngày, mọi việc nên nhờ quý nhân giúp, ắt thành. Phan Tử Ngư dẫn: nếu có việc cầu người giúp, hãy tìm xem ngày ấy giờ nào là giờ quý nhân, rồi đúng giờ ấy đến cửa thăm, việc có cơ duyên, cơ hội thành công rất lớn; chỉ cần không gặp Không Vong, hình, xung, phá, hại. Ví dụ ngày mai là ngày Quý, thì đến thăm quý nhân vào giờ Tỵ, việc nhờ có thể thành.

Hạn gặp quý nhân

Lưu niên gặp quý nhân thì năm ấy mọi việc như ý, thăng chức phát tài, thi cử đỗ đạt, chỉ cần không bị hình, xung, phá, hại, Không Vong. Phan Tử Ngư là người sinh năm Canh Ngọ, quý nhân của Canh ở Ngọ; năm ngoái đại hạn đi đến Ngọ, cát tường như ý. Khó có nhất là gặp được cô họ Chu, hiền tuệ minh lý, tiết kiệm mộc mạc, chịu lao chịu oán, kết thành vợ chồng, ân ái nồng thắm.

Hồng nhan thiên phối

Khi dự đám cưới, trên phong bì mừng thường có người viết “thiên tác chi hợp” để chúc mừng; cách hiểu thông thường là “đây là duyên lành do ông Trời chọn”. Cổ thư nói “hồng nhan thiên phối” cũng là ý đó: ông Trời sẽ chuẩn bị cho ngươi một người đàn bà xinh đẹp làm vợ.

Phan Tử Ngư có thập tự: năm Canh Ngọ, tháng Mậu Dần, ngày Tân Hợi, giờ Canh Dần, thai Kỷ Tỵ. Mệnh này đủ bốn quý, nên “hồng nhan thiên phối”, cưới được cô họ Chu làm vợ. Còn cô họ Chu thì khéo lắm, cũng có năm trụ đủ bốn quý: năm Canh Tý, tháng Kỷ Mão, ngày Ất Mùi, giờ Giáp Thân, thai Canh Ngọ. Quý của Canh ở Ngọ, của Ất ở Tý, của Kỷ ở Thân, mệnh có bốn quý, gả cho Phan Tử Ngư làm vợ, đó là “hồng nhan thiên phối”.

Phan Tử Ngư tự nói mình là kẻ nghèo, xấu xí, có gì ghê gớm? Không sai, nhưng trong mệnh lại phối một người vợ đẹp, khiến người ta ghen tị. Đối với cô họ Chu, phẩm mạo ấy gả cho một người giàu có quyền thế không khó, nhưng muốn tìm một người có bốn quý để xứng đôi thì khó. Cho nên “thiên tác chi hợp”, “hồng nhan thiên phối” đều chỉ nói đúng một chút: có duyên mới nên vợ chồng, bốn quý phối bốn quý, môn đăng hộ đối mới xứng. Như người ta thường nói, rồng phối rồng, phụng phối phụng, chuột chỉ hợp đào hang. Từ nay, ai muốn tìm bạn đời, thử xem trong năm trụ của người kia có đủ bốn quý hay không.

Hình mà gặp quý, hợp võ nghiệp

Thập tự tương hình thì nhiều điều bất cát: hôn nhân hai lần, mất chức bãi quan. Nhưng nếu gặp Thiên Ất quý nhân thì người này cầm pháp luật có quyền thế, hợp võ chức, pháp quan, quân pháp quan… Ví dụ năm Ất Mão, giờ Nhâm Tý: Tý Mão tương hình, nhưng quý của Ất ở Tý, quý của Nhâm ở Mão, mệnh này hợp chấp pháp, công chính nghiêm minh, như Bao Công. Phan Tử Ngư dẫn thêm: ủy viên lập pháp cũng tốt.

Quý bị hình xung, lạc đường

Thiên Ất quý nhân là cát thần, người có nó gặp hung hóa cát, gặp nạn hóa lành; nhưng kỵ xung, hình, phá, hại, hoặc rơi Không Vong, phạm thì lòng nhọc ngày một nặng, rốt cuộc lạc đường.

  • Ông họ Cao có năm Giáp Tuất, ngày Sửu. Quý của Giáp ở Sửu, tiếc là bị hình: mệnh này rốt cuộc là người lạc đường, như mầm non chưa trưởng thành.
  • Ông họ Thái có năm Canh Thân, ngày Dần. Quý của Canh ở Tý, bị Tý xung, nên cả đời cơ duyên không khéo, tiền đồ mờ mịt, rốt cuộc lạc đường.
  • Một lá số năm Nhâm Tý, ngày Kỷ Mão: quý của Nhâm ở Mão, Tý Mão phạm hình, sa vào phong trần.

Chi của tháng và chi của thai ngồi quý của năm thì ắt được phúc ấm; nhưng nếu bị hình, xung, phá, hại thì nghèo khốn, hoặc yểu thọ.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề