Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Chữ ăn trong mệnh lý: ai khắc vợ, khắc chồng và khắc cha mẹ

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202610 phút đọc11 lượt đọc
Chữ ăn trong mệnh lý: ai khắc vợ, khắc chồng và khắc cha mẹ

Ăn cơm thì hết cơm, ăn que kem thì hết que kem, còn trong mệnh lý, ăn một người nghĩa là khắc người ấy. Có đứa trẻ sinh ra đã có răng, chưa đầy mười ngày thì cha ra đi, rồi chính đứa trẻ ấy cũng chết yểu...


Giờ rơi Không Vong thì đừng làm rể

Có chàng rể mà cái giờ sinh đã ghi sẵn một vết nứt trong nhà vợ.

Thập tự: năm Bính Thân, giờ Đinh Tỵ (Sa Trung Thổ). Giả sử chẳng may làm rể thì nhà vợ ắt sẽ phá bại. Phan Tử Ngư ấn chứng: giờ rơi Không Vong luận như ngày rơi Không Vong.

Chọn rể chớ chọn người tiệt không

Ông Tăng Triệu Cao có thập tự: ngày can Tân, giờ chi Tỵ (hoặc Thìn). Ông Tăng Triệu Cao sẽ đi làm hòa thượng, sao xứng làm rể?

Sủng thiếp khinh vợ cả

Mười hai cung, mười hai vị trí, vẫn một nỗi niềm: người vợ cả bị đặt thấp hơn người thiếp.

Nam mệnh có cung Phu Thê là Thiên Phủ gia thất sát thì là mệnh “sủng thiếp khi thê”. Cung Phu Thê có thể ở bất kỳ vị trí nào trong mười hai cung, với các sao đi cùng như sau:

Cung Phu Thê ởCác sao
TỵThiên Phủ
NgọThiên Phủ, Vũ Khúc
MùiThiên Phủ
ThânTử Vi, Thiên Phủ
ThìnLiêm Trinh, Thiên Phủ
DậuThiên Phủ
MãoThiên Phủ
TuấtLiêm Trinh, Thiên Phủ
DầnTử Vi, Thiên Phủ
SửuThiên Phủ
TýThiên Phủ, Vũ Khúc
HợiThiên Phủ

Người xưa dùng chữ “sủng thiếp diệt thê”; chữ “diệt” dùng không ổn, nên Phan Tử Ngư đổi dùng chữ “khi”.

Chữ “ăn” trong mệnh lý nghĩa là khắc

Ăn cơm thì hết cơm, ăn que kem thì hết que kem; trong mệnh lý, ăn người thì hết người.

“Ăn” như ăn cơm, ăn hết bát cơm; ăn que kem, ăn hết que kem. Mệnh lý có một chữ “ăn”: ăn tức là khắc, tức là người ấy khắc chết người thân trong sáu bậc. Vì thế có người ăn cha, có người ăn mẹ, có người ăn ông bà nội, có người ăn con trai con gái, anh chị em.

Phan Tử Ngư kể: bà ngoại của ông, già hến sinh châu, sinh một người cậu út. Cậu út sinh ra đã có răng; quả nhiên chưa đến mười ngày, ông ngoại mất đột ngột không bệnh; có người nói cậu út này ăn cha. Chẳng bao lâu, cậu út cũng chết yểu.

Ai ăn ai

  • Người tuổi Hợi có Tý: nữ ăn chồng.
  • Người tuổi Tý có Hợi: chồng ăn vợ.
  • Người tuổi Dần có Sửu: chồng ăn vợ.
  • Người tuổi Sửu có Dần: vợ ăn chồng.

Mệnh phạm phá ngâm

Phàm nam mệnh, giờ sinh nằm ở sáu thìn phía trước mệnh thì vợ chết trước. Phàm nữ mệnh, giờ sinh nằm ở sáu thìn phía sau mệnh thì chồng chết trước.

Bảng đối chiếu về việc chồng ăn vợ và vợ ăn chồng:

Sinh nămTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
Sinh giờ (chồng ăn vợ)TỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiTýSửuDầnMãoThìn
Sinh giờ (vợ ăn chồng)MùiThânDậuTuấtHợiTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọ

Thai năm phạm huyết quang

Chồng ăn vợ, vợ ăn chồng. Bảng đối chiếu giữa năm và thai:

NămTýSửuThìnMùi
ThaiTuấtMãoNgọDậu

Ăn bạn đời: những tổ hợp cần biết

Giờ ngày cô loan

Phàm giờ và ngày có các tổ hợp sau thì bạn đời chết trước: Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Tân Hợi, Mậu Thân, Nhâm Dần, Mậu Ngọ, Nhâm Tý, Bính Ngọ. Càng kỵ xung, hình, khắc, hại, phá.

Ngày ngồi tự nhận khắc bạn đời

Ngày ngồi tự nhận thì bạn đời chết trước, hoặc bản thân đoản mệnh. Chỉ có sáu ngày: Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Nhâm Tý, Quý Sửu. Người xưa nói: vợ chồng chớ ghép người tự nhận.

Bổ mệnh có phương: một là không kết hôn thì tốt nhất; hai là bản thân nhiều lần bảo trọng bản thân.

Bình đầu ăn bạn đời

Phàm thập tự đối phương có nhiều chữ bình đầu thì ăn bạn đời, nên phải xem thập tự trước, nếu không thì chết lúc nào cũng không biết.

Ví dụ: cô Thiệu Khả Mỹ có thập tự: năm Giáp Thìn, ngày Giáp Tý, thai Bính Thìn. Thập tự có sáu chữ bình đầu; cô Thiệu Khả Mỹ sẽ ăn chồng. Ngược lại, nếu là nam mệnh thì ăn vợ, không nên kết hôn.

Ám đới dương nhận ăn bạn đời

Ám đới thì nếu nghiên cứu mệnh lý chưa sâu sẽ khó nhìn ra. Ví dụ: năm Giáp Dần, ngày chi Thìn.

Thập tự chỉ cần xem ba chữ, đã biết mệnh này ăn bạn đời. Người Giáp ám Mão mà chẳng hay; Dần Thìn kẹp Mão ắt cô độc. Sách xưa nói: dương nhận của Giáp ở Mão hình thương nhất; Giáp Dần có Thìn là phạm cô độc. Ám đới dương nhận ngầm khắc: vợ chồng chớ gặp người ám nhận.

Ăn cha chồng, ăn người cô, ăn con cái

Ăn cha chồng

Phàm nữ mệnh phạm Dương Sơn Sát thì ăn cha chồng, tức cha của người chồng. Bảng đối chiếu:

Sinh nămGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý
Sinh giờNgọThìnDầnTýTuấtMùiTỵMãoSửuHợi

Nếu không ăn cha chồng thì cũng chủ sau khi vào cửa, sự nghiệp của cha chồng suy bại, hoặc thân thể nhiều bệnh. Bổ mệnh có phương: nữ mệnh phạm Dương Sơn Sát, tốt nhất gả cho người có cha đã qua đời, hoặc sau hôn nhân đừng ở chung một mái nhà với cha chồng.

Ăn người cô

Phàm mệnh phạm Thiết Thang Xoa thì ăn người cô. Bảng đối chiếu:

Sinh nămGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý
Sinh giờThìnDầnTuấtThânNgọThìnDầnTuấtThânNgọ

Nếu không ăn người cô thì cũng làm bất lợi cho người cô, vô duyên với người cô, hoặc sau khi bạn ra đời, nhà người cô suy bại. Bổ mệnh có phương: sau hôn nhân đừng ở chung một mái nhà với người cô, hoặc ít qua lại với người cô.

Làm sao biết người này ăn con cái

Thập tự: năm can Bính, giờ chi Ngọ (giờ mang dương nhận của năm).

Song ăn: vừa ăn chồng vừa ăn con

Phục ngâm và phản ngâm cùng hiện, hai nỗi mất mát đi chung một lá số.

Nữ mệnh ngũ chi phạm phục ngâm thì ăn chồng; phạm phản ngâm thì ăn con. Nếu phạm phục ngâm lại phạm phản ngâm thì song ăn người.

Ví dụ: cô Đinh có ngũ chi: năm chi Thìn, ngày chi Thìn, giờ chi Tuất. Cô Đinh ăn chồng, ăn con. Trụ giờ ngồi Hoa Cái, phải khắc hết hai đời chồng mới thôi.

Nữ mệnh phạm Cô Thần Quả Tú thì ăn cha mẹ chồng. Ví dụ: bà Giang có ngũ chi: năm chi Sửu, ngày chi Dần, giờ chi Tuất. Bà Giang ăn cha chồng rồi ăn mẹ chồng. Bảng đối chiếu:

Sinh nămTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
Ngũ chi (Cô Thần)DầnDầnTỵTỵTỵThânThânThânHợiHợiHợiDần
Ngũ chi (Quả Tú)TuấtTuấtSửuSửuSửuThìnThìnThìnMùiMùiMùiTuất

Ăn chồng, ăn con trong một lá số ba lửa một mộc

Lửa đốt hoang nguyên, mặt trời lặn sau núi: cảnh đẹp mà lòng khổ.

Bà Ngô sinh vào giờ Hợi ngày hai mươi ba tháng bảy năm Dân Quốc hai mươi lăm. Thập tự: năm Ất Hợi (Sơn Đầu Hỏa), tháng Giáp Thân (Tỉnh Tuyền Thủy), ngày Kỷ Tỵ (Đại Lâm Mộc), giờ Ất Hợi (Sơn Đầu Hỏa), thai Ất Hợi (Sơn Đầu Hỏa).

  1. Ất Hợi Sơn Đầu Hỏa như lửa đốt hoang nguyên, cháy lan khắp tầm mắt, mơ hồ ánh nghiêng cuối trời, phảng phất mặt trời lặn sau núi; thích nhất Đại Lâm Mộc. Mệnh này có Đại Lâm Mộc nên luận là cát.
  2. Nhưng có Mộc mà không có Thổ, Mộc không có chỗ nương, nên dù có Mộc giúp cũng khó hiển quý.
  3. Hỏa này không nên nhiều Hỏa, hỏa nhiều quá nóng; mệnh này ba Hỏa một Mộc, nhọc nhằn có thể biết.
  4. Mệnh phạm phục ngâm phản ngâm, ăn chồng ăn con.
  5. Hợi mã ở Tỵ, ngũ chi có Tỵ, phạm mã Thìn, rốt cuộc phá bại.
  6. Mệnh phạm Trục Mã, thì tiền ở đâu ra?
  7. Cô độc nghèo túng tụ cả một thân, chết nơi đất khách quê người.

Nước nhiều không thổ: nữ mệnh tràn lan

Nước không có đê thì chảy khắp nơi.

Phàm nữ mệnh nạp âm thủy nhiều mà không có thổ thì phạm đào hoa, lại chủ ăn chồng ăn con. Thủy nhiều không thổ thì nữ mệnh tràn lan, tùy tiện, dây lưng lỏng, người người đều là chồng, nhu cầu chuyện chăn gối nhiều.

Cô Lý Điềm Điềm sinh vào giờ Thân mồng ba tháng mười một năm Dân Quốc ba mươi ba. Thập tự: năm Giáp Thân (Tỉnh Tuyền Thủy), tháng Bính Tý (Giản Hạ Thủy), ngày Ất Mão (Đại Khê Thủy), giờ Giáp Thân (Tỉnh Tuyền Thủy), thai Đinh Mão (Lô Trung Hỏa).

  1. Tỉnh Tuyền Thủy thì muôn dân dựa vào đó mà sống; thủy này sinh từ Kim mà ra từ Mộc, nên thích thấy Kim làm phúc. Tiếc mệnh này nạp âm thiếu Kim, nên biết cô Lý là người khuyết phúc.
  2. Nạp âm lại không thấy Mộc.
  3. Thủy cần Thổ ngăn mới thành đê, nếu không thì tràn lan thành tai; mệnh này nạp âm không có Thổ ngăn, trách sao cô đi khắp nơi tìm ăn vụng?

Mệnh cô độc: ngày giờ đối xung, vợ chết con mất

Hai chi đứng đối diện nhau như hai người không nhìn thấy nhau.

Ngày giờ đối xung thì vợ chết con mất. Sáu ví dụ về chi ngày và chi giờ: ngày Tý (Ngọ) giờ Ngọ (Tý); ngày Dần (Thân) giờ Thân (Dần); ngày Mão (Dậu) giờ Dậu (Mão); ngày Thìn (Tuất) giờ Tuất (Thìn); ngày Tỵ (Hợi) giờ Hợi (Tỵ); ngày Sửu (Mùi) giờ Mùi (Sửu).

Đàn ông đáng chết: một chuyện nhỏ về lý lẽ

Người bán và người mua, ai đúng ai sai? Chuyện bắt đầu ở phố chợ và kết thúc ở lòng người.

Muốn mắng “đàn ông đáng chết” thì xin nghe một chuyện: có vị ni cô đi tới chợ, nói với người bán thịt: “Thí chủ, anh có thể không bán thịt heo được không?” Người bán thịt đáp: “Chẳng liên quan đến tôi, cô bảo họ đừng đến mua thịt; nếu không ai mua thì tôi bán cho ai, thịt sẽ thối, tự nhiên đóng cửa đại cát.”

Ni cô nghe có lý, bèn nói với người mua thịt: “Thí chủ, anh có thể không mua thịt được không?” Người mua đáp: “Chẳng liên quan đến tôi, cô bảo người bán thịt đừng bán; nếu anh ta không bán thì tôi mua thịt ở đâu, tôi chỉ có mua cá.”

Ni cô nghe cũng có lý, nhưng ngẩn ra. Phan Tử Ngư phân tích khách quan: lý lẽ của người bán thịt, nghe thì đúng mà thật ra không phải.

Xã hội ngày nay phồn vinh, cởi mở, dục vọng tràn ngập; người đàn ông có vợ ở nhà vẫn đi khắp nơi dụ dỗ phụ nữ, đến nỗi đào hoa, lê hoa, khiên ngưu hoa, mạt lỵ hoa, đỗ quyên hoa… đầy núi đầy hang; rồi ly hôn, bỏ trốn, hạnh đỏ vượt tường, vào khách sạn bàn “công chuyện”, gia đình tan nát, họa lan đến con cái…

Tóm lại một câu: đều là đàn ông gây họa. Mắng một tiếng “đàn ông đáng chết” cũng không quá lời. Nay lại có thêm nghề mới là “trai bao nửa đêm”: thử nói thiên hạ sao có thể không đại loạn?

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 4.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề