Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Chín loại ý nghĩa và sự linh động của các sao Tử Vi

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202614 phút đọc2 lượt đọc
Chín loại ý nghĩa và sự linh động của các sao Tử Vi

Cùng một sao Đào Hoa, đứng riêng một mình thì mang nghĩa khác, đi chung với sao Thai lại mang nghĩa khác hẳn, mạnh hơn hẳn. Các sao trong lá số không bao giờ đứng yên một chỗ với một ý nghĩa cố định, mà luôn đổi thay theo bạn đồng hành, theo tuổi tác, theo vị trí trú đóng...


Cùng một sao Đào Hoa, nhưng đứng riêng một mình thì mang nghĩa khác, đi chung với sao Thai lại mang nghĩa khác hẳn, mạnh hơn hẳn. Vì khoa Tử-Vi nghiên cứu con người và cuộc đời, các sao trong lá số không bao giờ đứng yên một chỗ với một ý nghĩa cố định, mà luôn đổi thay theo bạn đồng hành, theo tuổi tác, theo vị trí trú đóng...

Chín loại ý nghĩa của các sao

Nếu kiểm tra và xếp loại được các ý nghĩa các sao, ta có thể chia làm 9 loại nghĩa, liệt kê dưới đây:

a) Ý nghĩa cơ thể (signification anatomique): đó là ý nghĩa liên hệ đến một hay nhiều bộ phận trong cơ thể con người. Ví dụ như Phượng Các chỉ tai, Long Trì chỉ lỗ mũi, Hóa Kỵ chỉ cái lưỡi.

b) Ý nghĩa tướng mạo (signification morphologique): đó là ý nghĩa về hình tướng, dung nhan, diện mạo. Ví dụ như Kình Dương ở Mệnh thì thân mình cao và thô, mặt choắt, da xám, mắt lồi, có sức khỏe.

c) Ý nghĩa bệnh lý (signification pathologique): đó là ý nghĩa liên quan đến bệnh hay tật của một bộ phận cơ thể. Ví dụ như Tang Môn, Bạch Hổ chỉ bệnh đau tim, yếu tim, tê thấp, thiếu máu, căng mạch máu.

d) Ý nghĩa tính tình (signification caractérologique): liên quan đến tâm địa, lòng dạ con người. Ví dụ như Mộc Dục chỉ sự chưng diện, xa hoa, Thái Tuế chỉ tính đa ngôn, ngồi lê đôi mách, Thai chỉ sự dâm dục.

e) Ý nghĩa nghề nghiệp (signification professionelle) liên quan đến năng khiếu, tài năng, khả năng, nghề nghiệp, chí hướng. Ví dụ như Xương Khúc, Tấu Thư là giáo sư, Thái Tuế, Quan Phù là luật sư, Sát Phá, Liêm Thanh là quân nhân.

f) Ý nghĩa tài lộc (signification financière) liên quan đến của cải, tiền bạc, động sản. Ví dụ như Hóa Lộc chỉ sự đắc tài, Đẩu Quân chỉ sự giữ của.

g) Ý nghĩa điền sản (signification mobilière) liên quan đến bất động sản như nhà, đất, ruộng, xí nghiệp. Ví dụ như Thái Âm và Long Trì, Phượng Các chỉ nhà lầu.

h) Ý nghĩa phúc họa (signification relative au bonheur ou au malheur) liên quan đến sự yểu, sự tai họa, sự may mắn hay sự trắc trở. Ví dụ như Thiên Giải chỉ sự hên may đặc biệt, Phục Binh chỉ sự mất trộm. Đào Hoa và Thai chỉ sự mất trinh.

i) Ý nghĩa vật dụng (signification relative à l'objet) liên quan đến một số đồ vật gia dụng, thức ăn, thức uống, đồ tang chế, gia súc. Ví dụ như Thiên Y là quần áo, Thiên Mã là xe cộ, Tham Lang là thịt.

Lẽ dĩ nhiên, không phải sao nào cũng có đủ 9 nghĩa nêu trên. Có sao có 2 nghĩa, có sao có 6 hay 7 nghĩa. Thông thường những sao có nhiều nghĩa đều quan trọng, đặc biệt là những ý nghĩa thuộc phú, quý, thọ có ảnh hưởng đến cuộc đời, đến hạnh phúc con người, theo ý hướng đó, đa số chính tinh đều có nhiều nghĩa, đặc biệt là ý nghĩa liên hệ đến nhân cách, phú cách và thọ cách. Vì vậy, chính tinh quan trọng hơn các phụ tinh. Nếu trong số phụ tinh, sao nào có nhiều nghĩa chừng nào thì sao đó càng quan trọng, bất luận cát tinh hay hung tinh. Sao hung còn có tầm quan trọng khác vì nó phá hay chế giảm nhiều cái hay của cát tinh.

Đó là nói về ý nghĩa cơ hữu của mỗi sao. Trên thực tế, sao không đứng riêng một mình mà bao giờ cũng sống chung với nhiều sao khác. Điều đó phải xét đến đặc tính liên đới giữa các sao.

Ý nghĩa liên đới giữa các sao

Đi chung với sao khác, sao không còn giữ ý nghĩa nguyên thủy nữa. Trái lại, ý nghĩa cơ hữu được mạnh thêm hay yếu đi theo một hệ số nào đó tùy theo đi chung với sao đồng loại hay khác loại.

Trước hết, tính cách liên đới được thể hiện qua các sao đồng cung. Nói như thế có nghĩa là các sao đồng cung sẽ có nghĩa kép chứ không có nghĩa đơn. Ví dụ như sao Đào Hoa (chỉ nết đa tình, tính đắc mèo, đắc kép) đi với sao Thai (chỉ sự giao hợp nam nữ) sẽ có nghĩa mạnh hơn: đó là con người chẳng những lẳng lơ mà còn sa đọa, tức là hoa nguyệt tư tưởng trong hành động, ham thích cả ái tình tinh thần lẫn ái tình thể xác, đến mức độ rất là phóng túng, hầu như không tự chế được. Ví dụ như sao Thiên Cơ có nghĩa ghen tuông, đi với sao Phục Binh thì nết ghen đó rất quá khích, chẳng những có trong nội tâm mà còn thể hiện bằng hành động như bắt ghen, rình rập, gây tai tiếng cho chồng vợ. Ví dụ như Hóa Khoa chỉ học vấn cao, nếu đồng cung với Địa Kiếp thì trình độ học vấn đó bị giảm xuống hoặc cao mà thi cử rất lận đận, phải rớt nhiều keo. Đào Hoa là hữu tình đi với Thái Tuế là điêu ngoa thì chỉ cái đẹp mà vô duyên, mất duyên… hai sao đồng cung nhất định phải tăng cường ý nghĩa cho nhau. Sự đồng cung kết hợp những sao thành bộ, làm cho ý nghĩa giữa những sao trong bộ mạnh mẽ và trực tiếp hơn, giúp người xem số kết luận mạnh dạn hơn.

Ở thứ bậc thấp hơn là sự liên đới do sự phối chiếu. Ở thế xung chiếu thì mức độ liên đới mạnh, ở thế tam chiếu thì kém mạnh mẽ, ở thế nhị hợp hoặc giáp thì càng gián tiếp hơn nữa. Nhưng đó là nguyên tắc. Trên thực tế, ít khi người ta phân biệt tinh vi như vậy. Nhiều lúc, sự phân biệt quá tinh vi có khi đưa đến sai lầm. Cho nên hễ thấy đủ bộ thì có thể quyết đoán, không cần quan tâm lắm đến thế phối chiếu. Sự phân biệt chỉ nên có đối với sự hội chiếu và sự cung mà thôi.

Tính cách liên đới giữa các sao càng rõ rệt khi có sự hội tụ đông đảo giữa những sao cùng đặc tính – ví dụ như văn tinh với văn tinh, võ tinh với võ tinh, quyền tinh với quý tinh, tài tinh với quý tinh – dù sự hội tụ đó do hội chiếu, tiếp giáp, nhị hợp hay đồng cung. Đó là những bộ sao kết hợp thành một cách. Trong quyển Tử-Vi Hàm Số, cách đã được định nghĩa như một tình trạng tổng quát và đầy đủ về những nét nổi bật trong cá tính hay trong cuộc đời con người. Cách là một tổng hợp nhiều nét cá tính nhỏ, nhiều nét vận mệnh nhỏ thành một phong thái, một cốt cách lớn, có thể xem như tính nết trội yếu nhất của cá nhân hay đặc điểm quan trọng nhất của vận mệnh.

Thành thử, thuật giải đoán Tử-Vi đòi hỏi ta phải tìm kiếm các cách, nhất là các cách quan trọng, nghĩa là cách phú quý và thọ.

Nếu có sự hội tụ các sao đồng chất thì gọi là thuần cách. Nếu có sự hội tụ giữa các sao đồng tính và các sao khác tính thành hai cách khác nhau thì gọi là tạp cách. Nếu tạp cách không chối nhau quá đáng thì đỡ. Còn nếu chỏi nhau đến nỗi tương phản lẫn nhau thì gọi là phá cách, tức là cách này phá cách kia, làm giảm, làm mất đi cái hay của cách kia. Trong trường hợp có tạp cách, ta phải tìm ưu cách, nghĩa là cách nào trọng yếu nhất để cân nhắc.

Tóm lại, sự liên đới giữa các sao chẳng những có giữa hai sao riêng rẽ mà còn có nhiều bộ sao kết hợp thành cách. Phương pháp tổng hợp đòi hỏi người xem số phải ghép nghĩa để tìm biến nghĩa phong phú. Có như vậy, việc xem số mới rõ, cụ thể và chính xác được.

Ý nghĩa linh động của các sao

Sự liên đới giữa các sao làm cho ý nghĩa các sao thêm phần linh động. Ngoài ra, sự linh động còn bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nữa, liệt kê dưới đây:

Yếu tố thời gian

Không bao giờ một sao giữ nguyên ý nghĩa trong suốt đời người. Trái lại, ý nghĩa đó thay đổi cường độ tùy theo tuổi tác của mỗi người. Ví dụ như sao Đào Hoa, Hồng Loan chỉ sự trai gái, sự bay bướm chỉ mạnh nghĩa với người còn trẻ, còn nhan sắc, còn sức lực. Nó sẽ giảm cường độ khi con người luống tuổi, hoa tàn nhụy rữa, bất lực. Sao Thiên Trù chỉ khả năng ăn nhậu, chỉ mạnh mẽ khi con người còn cường tráng. Nhất định sức ăn, sức nhậu này phải giảm, có khi mất hẳn khi con người già yếu. Những ai tham lam, muốn cải số, không thấu hiểu dịch lý của các sao qua thời gian, ép Đào Hoa phải phục vụ cho tuổi già, hoặc ép Thiên Trù phải thỏa mãn một bộ máy tiêu hóa đã hỏng, thường gánh phải bất lợi. Vì thế cần lĩnh hội sâu sắc cái lý tương đối của sao từ cái lý tương đối của đời người.

Yếu tố bản chất các sao

Có một số sao tốt hay xấu tùy theo nằm ở cung ban ngày hay ban đêm, đồng thời cũng có sao tốt về mặt này mà xấu về mặt kia. Ví dụ: Thái Âm, Thiếu Âm chỉ tốt khi đóng ở các cung ban đêm, Thái Dương, Thiếu Dương tốt hơn ở các cung ban ngày. Mặt khác, Thái Âm, Thái Dương sáng rất lợi cho học vấn, tài lộc, công danh, nhưng lại bất lợi cho thần kinh. Hầu hết những ai có sao này đều bị chết yểu, bị bệnh tâm linh, bị căng thẳng tinh thần, bị áp huyết cao, mất ngủ, ưu tư nhiều, nhất là lúc tuổi đã xế chiều.

Ví dụ khác là hai sao Đào, Hồng. Hai sao này chỉ tốt nếu đóng ở cung ban ngày, nhất là lúc bình minh, lúc hoa đang nở, được người ngắm soi chiêm ngưỡng. Nếu Đào, Hồng nở về đêm, tuy cũng hữu tình. Song, không được rạng rỡ vì ít người biết đến. Ở vị trí trưa và sẩm tối, Đào, Hồng mất đi nhiều hương vị và thi vị.

Cũng trong chiều hướng đó, Tử-Vi ở Thìn hay Ngọ nhất định phải rực rỡ hơn ở Tuất hoặc ở Tý: đó là trường hợp người có tiếng tăm, có uy tín, được yến vinh, khác với những kẻ tuy có thực tài mà âm thầm, chỉ có tiếng đối với những ai biết rõ mình mà thôi.

Các sao còn linh động tùy theo vị trí trú đóng. Chẳng hạn như tài tinh thì mãnh lực sẽ cao ở cung Tài và Điền, quy tinh thì mạnh ở Quan, Mệnh và Thân, phúc tinh thì mạnh ở Phúc. Mặt khác, các nam đẩu đi chung với nhau thì linh động hơn là kết hợp với bắc đẩu. Những trợ tinh cho nam đẩu sẽ tăng cường ý nghĩa cho nam đẩu…

Yếu tố vị trí của các sao

Phương vị các sao quyết định một phần sự tốt xấu của sao. Ví dụ như tài tinh phải ở cung Tài Điền, quý tinh ở cung Quan, phúc tinh ở cung Phúc. Sao Thái Dương và Thiếu Dương chỉ tốt khi đóng ở cung ban ngày và hướng Đông, Thái Âm, Thiếu Âm ở cung ban đêm và hướng Tây. Đó là các trường hợp thuận vị hoặc hợp vị. Ở vị trí thuận hợp, sao sẽ phát huy hết uy lực của nó. Ngược lại, là nghịch vị. Ví dụ như Hóa Quyền ở cung Nô thì bị người khác áp chế.

Nói rộng ra, thuận vị mà tọa thủ thì hay hơn thuận vị mà hội chiếu. Ví dụ như Hóa Quyền tọa thủ tại cung Quan dĩ nhiên phải đẹp hơn xung chiếu, tam chiếu, tiếp giáp hay nhị hợp với cung Quan. Tử-Vi thủ Mệnh bao giờ cũng hay hơn chiếu hay giáp Mệnh. Quy tắc này chỉ gặp một ít ngoại lệ, chẳng hạn như đối với Âm, Dương, Tả, Hữu. Cung nào được Âm Dương sáng sủa hội chiếu thì đẹp hơn là được Âm Dương tọa thủ. Có người cho Tả, Hữu giáp thì tốt hơn Tả Hữu tọa thủ.

Yếu tố hội tụ

Hội tụ là tập trung vào một cung, hoặc do sự đồng cung, hoặc do sự xung chiếu, hoặc do sự tam chiếu, hoặc do sự nhị hợp và kém nhất là do sự tiếp giáp. Khi được hội tụ, các sao trợ lực lẫn nhau. Điều này khiến cho ý nghĩa nguyên thủy của sao được mạnh thêm. Ví dụ như cách Tử Phủ Vũ Tướng hội họp nhau sẽ chế cái xấu của nhiều sát tinh hạng nặng. Khoa, Quyền, Lộc liên châu cũng làm cho sự hội tụ này như một cái trớn, làm gia tăng tốc lực cho cái máy. Máy có trớn thì sức lăn sẽ mạnh hơn. Đó là nói theo hướng có lợi.

Về hướng bất lợi cũng vậy. Khi gặp sát tinh hội tụ, họa vô đơn chí, họa có thể đi liền nhau, họa này lôi kéo họa kia. Cụ thể như bị bệnh thì hao tiền, hao sức có thể phải mất việc hay phá sản.

Tóm lại, sự hội tụ làm cho các sao thêm linh động, hoặc tốt hơn, hoặc xấu hơn. Người xem số phải lãnh hội cho đúng mức cái trớn trong cái máy. Phải phân biệt và đánh giá đến nơi đến chốn cơ năng (faculté intrinsèque) và động năng (valeur cinétique, valeur ajoutée) của sao. Động năng có thể ví như trị giá gia tăng của sao.

Yếu tố Âm Dương ngũ hành

Nếu sự hợp vị làm tăng nghĩa các sao thì sự thuận lợi về Âm Dương ngũ hành cũng góp phần tạo thêm tác dụng đó. Một sao thuận Âm Dương ngũ hành với cung tọa thủ làm tăng lợi điểm, nếu nghịch thì bất lợi nhiều hơn.

Yếu tố Âm Dương ngũ hành có ý nghĩa tương tự như yếu tố hội tụ.

Yếu tố thực tại

Danh từ yếu tố thực tại được dùng ở đây để chỉ những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng bổ túc vào ý nghĩa nguyên thủy của các sao. Ví dụ như hai sao Thiên Quan, Thiên Phúc và Mệnh chỉ sự giúp đỡ của mình cho người khác hay sự giúp đỡ của người khác cho mình. Lẽ dĩ nhiên, muốn đánh giá đúng mức hiệu lực của hai sao này cần phải biết rõ đương số thì ân bố đức đến mức nào cho thiên hạ, mức độ ân đức này khác nhau giữa hai người. Một người có tinh thần xã hội, có óc vị tha, thường hay làm công tác xã hội, có đủ phương tiện để ban bố ân đức ắt có uy tín và hậu thuẫn lớn hơn người thiếu phương tiện, thiếu tư thế để làm việc xã hội. Mặt khác, cách tạo ân đức cũng ảnh hưởng nhiều đến hậu thuẫn đó. Một người có tiền, dùng tiền cúng chùa và một người có tiền dùng tiền để làm công tác xã hội thiết thực ở đời (giúp đỡ cô nhi, mưu sinh cho trẻ nghèo, bảo trợ văn hóa…) thì hiệu lực của Thiên Quan, Thiên Phúc giữa hai người phải khác xa nhau.

Thông thường, người đoán số khó biết những yếu tố thực tại như vậy, cho nên đánh giá các sao hoặc quá cao, hoặc quá thấp, hoặc chung chung, không diễn tả đúng mức hiệu lực thực tế của sao.

Yếu tố thực tại còn bao hàm cả hoàn cảnh, cả giai cấp của con người. Lá số là người mù, không thấy được hoàn cảnh, giai cấp đó. Đoán số mà chỉ căn cứ vào lá số, bất chấp hai yếu tố thực tại này cũng dễ sai lầm.

Yếu tố độ số

Độ số làm tăng thêm tính chất linh động của nó. Điểm này được đề cập riêng cho dễ phân biệt.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn