Bài tổng quan
Cùng một vì sao, mỗi tuổi một nghĩa: bảy biến số theo Hi Di
Cùng là Đào Hoa, cùng là Hồng Loan, ở tuổi đôi mươi thì lả lơi say đắm, đến khi tóc đã bạc lại hóa ra vô duyên, thậm chí lố bịch. Một sao không bao giờ giữ nguyên sức mạnh trong suốt một đời người, mà cứ thay hình đổi dạng theo thời gian, theo tuổi tác, theo cả vị trí nó trú đóng. Đi tìm bảy ngã rẽ khiến ý nghĩa một vì sao cứ mãi trôi...
Cùng là Đào Hoa, cùng là Hồng Loan, ở tuổi đôi mươi thì lả lơi say đắm, đến khi tóc đã bạc lại hóa ra vô duyên, thậm chí lố bịch. Một sao không bao giờ giữ nguyên sức mạnh trong suốt một đời người, mà cứ thay hình đổi dạng theo thời gian, theo tuổi tác, theo cả vị trí nó trú đóng. Đi tìm bảy ngã rẽ khiến ý nghĩa một vì sao cứ mãi trôi...
Hai sao đứng cạnh nhau thì nghĩa của chúng vướng víu, ràng buộc vào nhau, làm cho ý nghĩa trở nên uyển chuyển và khó lường. Nhưng đó chỉ là một trong số nhiều nguồn gốc của sự uyển chuyển ấy. Kẻ xem số nào chỉ nhớ tên sao, thuộc mỗi sao một câu quyết rồi đem áp nguyên xi cho mọi lá số, mọi tuổi tác, mọi cảnh ngộ, thì đoán sai sẽ nhiều hơn đoán đúng. Ít nhất có bảy yếu tố cùng một lúc tác động lên một vì sao, khiến nó chẳng bao giờ đứng yên.
Yếu tố thời gian
Chẳng có sao nào giữ nguyên ý nghĩa từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt. Cường độ của sao co giãn theo tuổi tác của mỗi người. Đào Hoa, Hồng Loan nói chuyện trai gái, chuyện bay bướm, cho nên chỉ thật mạnh ở người còn trẻ, còn nhan sắc và sức lực. Tuổi càng cao, hai sao này càng yếu, giống như hoa đã tàn, nhụy đã rữa, sức đã cạn. Thiên Trù cũng cùng lẽ ấy: sao này chỉ khả năng ăn nhậu, nên chỉ mạnh khi thân thể còn cường tráng. Cơ thể suy nhược thì sức ăn sức nhậu tất phải giảm, có khi mất hẳn.
Ai tham lam muốn cải số, không thấu cái lý biến dịch của sao theo thời gian, cứ ép Đào Hoa phục vụ tuổi già, hoặc bắt Thiên Trù thỏa mãn một bộ máy tiêu hóa đã hỏng, thì thường chuốc lấy thiệt thòi. Muốn đoán đúng phải thấm sâu cái lý tương đối của sao, mà cái lý ấy bắt nguồn từ chính sự tương đối của đời người. Một lá số, một sao ngồi yên ở một cung suốt đời, nhưng nghĩa ứng ra ở tuổi hai mươi lại khác hẳn nghĩa ứng ra ở tuổi sáu mươi. Người đoán số quên điều đó sẽ đem một câu quyết duy nhất phủ lên mọi chặng đường, trong khi bản thân vì sao đã lặng lẽ đổi khác theo năm tháng.
Yếu tố bản chất của sao
Nhiều sao lúc hay lúc dở là do đặt ở cung ban ngày hay cung ban đêm; lại có sao hay ở phương diện này nhưng dở ở phương diện khác. Thái Âm và Thiếu Âm chỉ thật đẹp khi rơi vào cung ban đêm, còn Thái Dương và Thiếu Dương thì đẹp hơn khi nằm ở cung ban ngày. Tuy nhiên, hai sao Thái Âm và Thái Dương lúc sáng sủa dù đem lại lợi lớn cho đường học vấn, tiền của, công danh, vẫn để lại mặt trái nơi thần kinh: đa số người mang hai sao này thể trạng mong manh, dễ vướng bệnh tâm linh, thần kinh căng thẳng, huyết áp cao, mất ngủ, hay lo nghĩ, càng về già càng rõ.
Đào, Hồng là một thí dụ nữa. Hai sao này chỉ thật đẹp khi ở cung ban ngày, nhất là buổi bình minh, lúc hoa vừa nở, được người ngắm nhìn thưởng lãm. Nếu Đào, Hồng nở giữa đêm thì vẫn hữu tình nhưng kém rạng rỡ, vì ít ai hay biết. Còn ở vị trí giữa trưa hoặc lúc sẩm tối, Đào Hồng hao đi nhiều hương vị và thi vị. Theo cùng chiều hướng ấy, Tử Vi ở Thìn hay Ngọ tất phải rực rỡ hơn ở Tuất hoặc Tý: đó là hạng người có tiếng tăm, có uy tín, được vinh hiển, khác với người tuy có thực tài mà âm thầm, chỉ được những ai hiểu rõ mình biết đến. Vậy là cùng một sao mà mang hai bản chất khác nhau tùy phương diện được xét: tốt ở phương diện này chưa chắc đã tốt ở phương diện kia, và người đoán số phải phân định cho tường tận trước khi kết luận một sao là cát hay hung.
Yếu tố vị trí của sao
Chỗ đứng của sao cũng góp phần quyết định tốt xấu. Tài tinh phải nằm ở cung Tài hay cung Điền mới mạnh; quý tinh mạnh nơi cung Quan, cung Mệnh và cung Thân; phúc tinh thì mạnh nơi cung Phúc. Hơn nữa, các nam đẩu đi cùng nhau thì linh hoạt hơn là phối với bắc đẩu; những trợ tinh của nam đẩu sẽ làm nghĩa của nam đẩu thêm vững.
Thái Dương, Thiếu Dương chỉ phát huy ở cung ban ngày và phương Đông; Thái Âm, Thiếu Âm phát huy ở cung ban đêm và phương Tây. Những chỗ ấy gọi là thuận vị hay hợp vị. Sao đặt đúng nơi thuận hợp thì trổ hết uy lực; đặt vào nghịch vị thì gần như thành vô dụng. Chẳng hạn Hóa Lộc lạc vào cung Tật thì chẳng ích gì, Hóa Khoa lạc vào cung Điền cũng bằng thừa, còn Hóa Quyền lạc vào cung Nô thì bị người khác đè nén.
Suy rộng ra, thuận vị mà ngồi hẳn trong cung bao giờ cũng hơn thuận vị mà chỉ chiếu tới. Hóa Quyền đóng ngay tại cung Quan tất nhiên tốt đẹp hơn khi chỉ xung chiếu, tam chiếu, tiếp giáp hoặc nhị hợp với cung Quan. Cũng vậy, Lý số học ngồi tại Mệnh luôn mạnh hơn khi chỉ chiếu hay giáp Mệnh. Nguyên tắc ấy có vài ngoại lệ hiếm hoi, như đối với Ấn, Dương, Tả, Hữu: một cung được Âm Dương sáng sủa chiếu về lại đẹp hơn cung có Âm Dương ngồi sẵn; và có ý kiến cho rằng Tả, Hữu đứng kẹp hai bên còn hay hơn Tả Hữu tọa thủ. Vì có những ngoại lệ như thế, người xem số chớ áp máy móc điều "tọa thủ hơn hội chiếu" cho mọi trường hợp, mà phải mang theo cả ngoại lệ, nếu không sẽ đoán ngược với thực tế của lá số.
Yếu tố hội tụ
Hội tụ là sự dồn về một cung, có thể do đồng cung, xung chiếu, tam chiếu, nhị hợp, và yếu nhất là do tiếp giáp. Khi hội tụ, các sao nâng đỡ lẫn nhau, khiến nghĩa gốc thêm mạnh. Chẳng hạn cách Tử Phủ Vũ Tướng quy tụ với nhau có thể chế được cái xấu của nhiều Sát Tinh nặng. Khoa, Quyền, Lộc liên châu làm sự hội tụ này như có thêm trớn, tăng tốc cho cả bộ máy. Máy có trớn thì lăn mạnh hơn, và đó mới là nói về chiều có lợi.
Mặt trái cũng diễn ra theo lẽ ấy. Sát Tinh mà tụ lại thì họa chẳng đến một mình, cái họa này lôi theo cái họa khác. Thử lấy chuyện ốm đau làm ví dụ: bệnh tật kéo theo tốn tiền, hao sức, rồi có thể dẫn đến thất nghiệp hay phá sản. Tựu trung, hội tụ làm cho các sao sống động hơn, theo hướng tốt lên hoặc xấu đi. Người xem số cần định được đúng mức trớn của cỗ máy, và thẩm định đến nơi đến chốn phần cơ năng lẫn động năng của từng sao. Động năng có thể coi như phần giá trị gia tăng của sao: hai lá số cùng một chính tinh tọa Mệnh, một bên được hội đủ các sao đồng chất, một bên trơ trọi một mình, thì phần giá trị gia tăng ấy đã đủ tạo ra hai số phận khác hẳn, dù cái cốt lõi ban đầu chỉ là một.
Yếu tố Âm Dương Ngũ Hành
Hợp vị làm nghĩa các sao mạnh lên, thì sự thuận lợi về Âm Dương Ngũ Hành cũng góp thêm hiệu lực như vậy. Sao thuận Âm Dương Ngũ Hành với cung nó tọa thủ thì lợi điểm tăng lên; nghịch thì bất lợi nhiều hơn. Bởi thế yếu tố Âm Dương Ngũ Hành có ý nghĩa gần giống yếu tố hội tụ: cũng là một dạng cộng hưởng, chỉ khác ở chỗ sự cộng hưởng này không đến từ các sao xung quanh, mà đến từ bản chất Âm Dương và hành khí của chính cung sao đang đứng. Một dương tinh ở cung dương, hành của sao lại sinh cho hành của cung, thì kể như có đất dụng võ; trái lại, một sao bị khắc chế ngay trong bản chất Âm Dương Ngũ Hành của nơi mình ở thì chưa cần đến chuyện hội tụ hay xung khắc với sao khác, đã tự hao mất một phần sức vốn có.
Yếu tố thực tại
Cái gọi là yếu tố thực tại là những điều kiện ngoài lá số, góp thêm vào nghĩa gốc của sao. Lấy hai sao Thiên Quan, Thiên Phúc tại Mệnh làm thí dụ: chúng nói đến việc mình giúp người hay người giúp mình. Để lượng đúng hiệu lực của hai sao này, tất phải biết đương số đã gieo ân đức cho đời tới đâu, và mức ấy mỗi người mỗi khác. Ai có tinh thần xã hội, giàu lòng vị tha, thường xuyên làm việc thiện và đủ điều kiện để ban ơn thì được tín nhiệm và nâng đỡ nhiều hơn kẻ thiếu phương tiện, thiếu vị thế để làm việc xã hội. Cách gây ân đức cũng ảnh hưởng nhiều đến hậu thuẫn ấy. Hai người cùng có tiền, một người đem tiền cúng chùa, một người đem tiền làm việc xã hội thiết thực giữa đời, như đỡ đầu cô nhi, tạo kế sinh nhai cho trẻ nghèo, bảo trợ văn hóa, thì hiệu lực của Thiên Quan, Thiên Phúc nơi hai người hẳn cách xa nhau.
Người đoán số thường khó nắm được những yếu tố thực tại kiểu này, thành ra hoặc nâng sao lên quá cao, hoặc hạ xuống quá thấp, hoặc nói lấp lửng, chẳng vẽ đúng hiệu lực thật của sao. Yếu tố thực tại còn bao gồm hoàn cảnh và giai tầng của con người. Bảng số sao cung vốn mù lòa, không thấy được hoàn cảnh và giai tầng đó. Ai chỉ tựa vào bảng số sao cung mà bỏ qua hai yếu tố thực tại ấy thì cũng dễ đoán lầm. Nghĩa là tấm bảng số chỉ vẽ ra cái khung, còn khung ấy được lấp bằng chất liệu gì, tốt xấu đến đâu, lại tùy cuộc đời đương số đã và đang sống, điều mà không sao nào, chính tinh hay phụ tinh, có thể tự nói hết được.
Yếu tố độ số
Cuối cùng, độ số cũng làm cho một vì sao thêm phần linh động: cùng một nghĩa, nhưng sao có độ số cao luôn lấn át sao có độ số thấp khi hai bên chống nhau trên một cung. Cái cân ấy tinh vi đến đâu, người xưa cân đo bằng cách nào, lại là chuyện của những hàng, những bậc riêng dành cho từng sao, đủ thành một thiên khảo cứu khác. Chỉ cần nhớ rằng giữa hai sao mang nghĩa đối chọi nhau trên một cung, phần thắng không tự nhiên thuộc về sao nghe có vẻ nặng ký theo cảm tính, mà thuộc về sao có thứ bậc cao hơn theo quy ước của chính khoa Lý số học.
Bảy yếu tố vừa kể, gồm thời gian, bản chất, vị trí, hội tụ, Âm Dương Ngũ Hành, thực tại và độ số, không rời nhau mà luôn đan xen, cộng hưởng trên một lá số cụ thể. Bởi vậy nhìn một sao mà quên bối cảnh nó đứng trong đó, thì dù thuộc bao nhiêu câu quyết, người xem số vẫn khó tránh đoán sai.
Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".
