Bài tổng quan
Cách cục của Tham Lang, Liêm Trinh, Cự Môn, Thất Sát, Phá Quân
Người có Tham Lang ở Tý Ngọ Mão Dậu bị gọi là hạng chó chuột, vậy mà Tham Lang gặp Linh Hỏa nơi Tứ Mộ lại được phong đến hầu bá. Cùng một sao, đổi cung là đổi cả số phận. Cái cung nào cho sao ấy làm vua, cung nào bắt nó làm tội đồ…
Tham Lang: miếu hãm, thọ nguyên và những cách đồ tể, phong lưu
- Miếu: Thìn Tuất Sửu Mùi.
- Vượng: Tý Ngọ.
- Lợi ích: Mão Dậu.
- Bình: Dần Thân.
- Hãm: Tị Hợi.
Tham Lang ngộ Linh Hỏa Tứ Mộ cung, hào phú gia tứ, hầu bá quý.
Mệnh Thân có Tham tọa thủ ngộ Linh Hỏa ở Thìn Tuất là thượng cách, ở Sửu Mùi là thứ cách, là nhà giàu có, được phong đến tước hầu bá.
Tham Lang nhập miếu, thọ nguyên thời.
Mệnh Thân có Tham Lang nhập miếu là số thọ lắm.
Tham Lang hội Sát vô cát diệu, đồ tể chi nhân.
Mệnh Thân có Tham tọa thủ ngộ Sát tinh là số người làm đồ tể, bán thịt.
Tham Lang Tý Ngọ Mão Dậu, thử thiết cẩu thâu chi bối.
Thân Mệnh có Tham Lang cư Tý Ngọ Mão Dậu là hạng chó chuột, trộm cắp suốt đời không làm gì được. Đoán như trên khi:
- Người sinh năm Thân Tý Thìn, Mệnh tọa cung Tý.
- Người sinh năm Dần Ngọ Tuất, Mệnh tọa cung Ngọ.
- Người sinh năm Hợi Mão Mùi, Mệnh tọa cung Mão.
- Người sinh năm Tị Dậu Sửu, Mệnh tọa cung Dậu.
Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh, thọ khảo vinh như Bành Tổ.
Như người sinh năm Dần Ngọ Tuất, Hỏa Mệnh Trường Sinh cư Dần, Mệnh an ở cung Dần hay cung Thân có Tham Lang tọa thủ cát tinh là người sống lâu như ông Bành Tổ.
Tham Lang Tị Hợi gia Sát, bất vi đồ thi diệc tao hình.
Mệnh Thân an ở cung Tị hay Hợi có Tham Lang tọa thủ Sát tinh thì không làm đồ tể, bán thịt, xác chết thì hình thương khắc hại.
Tham Vũ đồng hành, vãn cảnh biên di thần phục.
Thân Mệnh có Tham Vũ đồng hành tọa thủ ở nơi miếu vượng, ở cung Thìn Tuất thì tốt nhất, Sửu Mùi là thứ cách; về già người người đều thần phục, kính trọng.
Tham Vũ tiên bần nhi hậu phú.
Mệnh Thân có Tham Vũ ở miếu vượng địa là số trước nghèo sau giàu sang; nếu hội với Khoa Quyền Lộc và cát tinh thì về sau được quý hiển.
Tham Vũ Thân cung vi hạ cách.
Mệnh an ở cung Thân có Tham Vũ tọa thủ là hạ cách.
Tham Lang gia Sát đồng hương, nữ thâu hương, nam thử thiết.
Mệnh Thân có Tham Lang gia Sát đồng cung, đàn bà là hạng mua phấn bán son, trai là trộm cắp.
Tham Vũ tứ sinh tứ mộ cung, Phá Quân Kỵ Sát bách công thông.
Mệnh Thân có Tham Vũ cư ở Dần Thân Tị Hợi hay Thìn Tuất Sửu Mùi, gia Phá Kỵ Sát là người hay về kỹ thuật.
Tham Lang Vũ Khúc đồng thủ, tuần vô cát, Mệnh phản bất trường.
Mệnh không có cát tinh, Thân có Tham Vũ tọa thủ là yểu vong hay cô bần.
Tham Vũ Phá Quân vô cát diệu, mê luyến tửu di vong thân.
Mệnh Thân có Tham Vũ Phá không có cát tinh là người mê rượu chè đến nỗi bỏ mạng.
Tham Nguyệt Đồng Sát hội Cơ Lương, tham tài vô yếm tác kinh thương.
Mệnh Thân có Tham, Nguyệt, Đồng Sát hợp với Cơ Lương là người tham tài đi buôn bán.
Tham Lang Liêm Trinh đồng bộ, nam đa lãng đãng nữ đa dâm.
Mệnh Thân có Tham Liêm tọa thủ, trai thì lêu lổng chơi bời, gái thì đa dâm.
Tham ngộ Dương Đà cư Hợi Tý, danh vi phiếm thủy đào hoa.
Mệnh Thân có Tham ngộ Dương Đà ở cung Hợi Tý là hạng trai gái mê tửu sắc mà chết.
Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu viết phong lưu thái trượng.
Mệnh cư Dần có Tham Đà tọa thủ là hạng phong lưu chơi bời mà sinh ra bị hình trượng, đánh đòn.
Nữ Mệnh Tham Lang đa tật đố.
Mệnh cư tại Hợi Tý ngộ Dương Đà là người đàn bà hay ghen tuông; gia cát hóa cũng không tốt.
Liêm Trinh: thanh cao, quan chức và lao tù
Sau Tham Lang là Liêm Trinh, sao ngồi ở chỗ nào cũng mang theo cái bóng của lao tù và của chức quan.
- Miếu: Dần Thân.
- Lợi ích: Thìn Tuất Sửu Mùi.
- Hãm: Tị Hợi.
Liêm Trinh Thân Mùi cung vô Sát, phú quý thanh dương phiên viễn danh.
Mệnh Thân có Liêm Trinh tọa thủ tại Thân Mùi cung không có Sát tinh là cách phú quý vinh hiển, thanh danh lừng lẫy; nếu gia Sát lại là bình thường.
Liêm Trinh Mão Dậu cung gia Sát, công tư vô diệu quan nhân.
Mệnh Thân có Liêm tọa thủ cư Mão Dậu gia Sát tinh là người làm công nghệ, không làm quan chức được.
Liêm Trinh ám cự tăng tại tham lam.
Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ ám hợp với Cự Môn là hạng quan lại, hay nhà sư có lòng tham lam.
Liêm Trinh Tham Sát Phá Quân phùng Vũ Khúc, biên di tác cự nhung.
Thân Mệnh có Liêm Tham Phá Sát ngộ Vũ Khúc là số quan võ ở biên thùy (sợ gặp Văn Khúc).
Liêm Trinh Thất Sát cư miếu vượng, phản vi tích phúc chi nhân.
Nếu Mệnh Thân có Liêm Sát tọa thủ ở miếu vượng địa là số giàu có phú quý; như cư cung Ngọ là cách hiếm có; nếu ở vào hãm địa gia Kỵ lại là tham lam, bần tiện, tàn tật.
Liêm Trinh Phá Hỏa cư hãm địa, tự ải đầu hà.
Mệnh có Liêm Phá ngộ Hỏa lạc hãm là số tự tử treo cổ hay đâm đầu xuống sông.
Liêm Trinh Thất Sát cư Tị Hợi, lưu đãng thiên nhai.
Mệnh có Liêm Sát cư Tị Hợi là lạc hãm, là số chơi bời phóng đãng.
Trọng Do uy mãnh, Liêm Trinh nhập miếu hội tướng quân.
Số ông Trọng Do dũng mãnh có uy quyền là Mệnh có Liêm Trinh nhập miếu hội với Tướng Quân.
- Người sinh năm Giáp, Mệnh an ở cung Sửu.
- Người sinh năm Ất, Mệnh an ở cung Hợi.
- Người sinh năm Bính Mậu, Mệnh an ở cung Dậu.
- Người sinh năm Đinh Kỷ, Mệnh an ở cung Dần.
- Người sinh năm Canh, Mệnh an ở cung Tý.
- Người sinh năm Tân, Mệnh an ở cung Mão.
- Người sinh năm Quý, Mệnh an ở cung Thân.
Liêm Trinh Tứ Sát tao hình lục.
Tứ Sát là Dương Đà Linh Hỏa. Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ hội với Tứ Sát ắt chung thân bị hình lục.
Liêm Trinh Bạch Hổ, hình trượng nan đào.
Lưu niên Thái Tuế cùng tiểu hạn tọa cung lại có Bạch Hổ gia làm thì chủ quan phi, gặp hình trượng.
Liêm Trinh Phá Sát hội Thiên Di, tử ư ngoại đạo.
Cung Thiên Di có sao Liêm Trinh Phá Sát ắt chết đường.
Liêm Trinh Dương Sát cư Quan Lộc, giá nữu nan đào.
Cung Quan Lộc có Liêm Dương Sát là số không tránh khỏi gông cùm.
Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.
Số đàn bà nên có Mệnh được Liêm Trinh tọa thủ ắt được thanh cao, vinh hiển. Người sinh năm Giáp Kỷ Canh Quý an Mệnh ở cung Thân Dậu Hợi Tý; người sinh năm Bính Tân Ất Dậu an Mệnh ở cung Dần Mão Tị Ngọ, thì hợp cách như trên; nếu an Mệnh ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi lại là bần tiện.
Cự Môn: sao Ám và những cách Cự Nhật
Cự Môn là ám tinh: ở cung Dần, cung Thân thì sáng rực, còn ở cung Sửu, cung Mùi thì tối.
- Miếu: Mão Dậu Dần Thân.
- Vượng: Tý Ngọ Hợi Tị.
- Bình: Thìn Tuất.
- Hãm: Sửu Mùi.
Cự Nhật Dần cung, lập Mệnh Thân, tiên khu danh nhi thực lộc.
Cự Nhật an ở cung Dần, lập Mệnh ở cung Thân ắt có công danh trước mà hưởng lộc.
Cự Nhật Mệnh cung Dần vị, thực lộc trì danh.
Mệnh cư Dần có Cự Nhật tọa thủ là số được hưởng lộc và công danh.
Cự Nhật Thân, lập Mệnh Dần, trì danh thực lộc.
Là số danh lợi gồm đủ.
Cự Môn Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc, phúc hưng long.
Mệnh Thân có Cự Môn cư Tý Ngọ gia Khoa Quyền Lộc là ngọc ẩn trong đá, phú quý song toàn. Người sinh năm Tân Quý là thượng cách, sinh năm Đinh Kỷ là thứ cách, sinh năm Bính Mậu chủ đàn ông thì tốt.
Cự Nhật Mệnh lập Thân cung diệc diệu.
Mệnh an ở cung Thân có Cự Nhật tọa thủ cũng còn tốt, nhưng thường thôi, vì Nhật cư Thân là mặt trời hoàng hôn, gần hết sáng.
Cự tại Hợi cung Nhật Mệnh Tị, thực lộc trì danh.
Mệnh an ở Tị có Cự ở Hợi, Nhật ở Tị, hai sao đều được ở vượng địa nên danh lợi đều có cả.
Cự tại Tị cung, Nhật Mệnh Hợi, phản vi bất giai.
Cách này ngược lại cách trên, như vậy ắt không vui đẹp, phản bối cách.
Cự Nhật củng chiếu diệc vi kỳ.
Như Nhật ở cung Ngọ, Cự ở cung Tuất, Mệnh cư Dần thì tốt; Nhật kỵ hãm địa.
Cự Cơ Mão Dậu, Ất Tân Kỷ Bính chí công khanh.
Mệnh an ở Mão có Cự Cơ tọa thủ, người sinh năm Ất Tân Kỷ Bính làm đến công khanh; người sinh năm Giáp thì chỉ bình thường là vì sao? Nhân vì Giáp thì có Lộc Tồn cư Dần, mà có Kình Dương ngộ Cự Cơ ở Mão là phá cách vậy.
Cự Cơ Dậu thượng hóa cát giả, túng hữu Tài Quan dã bất chung.
Mệnh an ở Dậu, Cự Cơ tọa thủ hội với cát tinh, tuy có Tài Quan nhưng không trọn đời; nếu bị cô bần thì sống lâu, cự phú tất yểu vong, gia Hóa Kỵ lại càng hung.
Cự Môn Thìn cung Hóa Kỵ, Tân nhân Mệnh ngộ phản vi kỳ.
Cự Môn ở cung Thìn thủ Mệnh gia Hóa Kỵ, người sinh năm Tân ngược lại thành ra là tốt lạ kỳ.
Cự Môn Sửu Mùi vi hạ cách.
Cự Môn thủ Mệnh Thân ở cung Sửu Mùi là hạ cách.
Cự Môn Đà La tất sinh dị chí.
Cự Môn gặp sao Đà La thủ Mệnh ắt người có nốt ruồi lạ.
Cự Môn Dương Đà ư Thân Mệnh, Tật Nguy, lỏa hoàng, khốn nhược đạo nhi xướng.
Cự Môn thủ Mệnh Thân ngộ Dương Đà, hay cung Tật Nguy cũng thế, là người bệnh hoạn rỗ tóc kết, khốn khổ, suy nhược, là tụi ăn cắp hay ca nhi.
Cự Môn Tứ Sát hãm nhi hung.
Cự Môn ngộ Tứ Sát ở hãm địa thì hung lắm.
Cự Hỏa Kình Dương Đà phùng ác diệu, phòng ải tử đầu hà.
Cự Môn gặp Hỏa Dương Đà và ác tinh nữa thì hung lắm, hạn gặp ắt thắt cổ hay đâm đầu xuống sông tự tử.
Cự Hỏa Linh Tinh phùng ác hạn, tử ư ngoại đạo.
Cự Môn Hỏa Linh thủ Thân Mệnh, hạn gặp ác tinh ắt chết đường.
Cự Tú Thiên Cơ vi phá đãng.
Đàn bà Mệnh có Cự Cơ Mão Dậu tuy phú quý mà không khỏi dâm dật; nếu ở hãm địa lại là hạ tiện.
Thất Sát: cách chiếu đẩu và những hạn yểu, hình
Sau Cự Môn là Thất Sát, tướng tinh ngồi ở ngôi miếu vượng mà không có hãm địa.
- Miếu: Dần Thân Thìn Tuất Sửu Mùi.
- Vượng: Tý Ngọ Mão Dậu.
- Bình: Tị Hợi.
- Vô hãm.
Thất Sát Dần Thân Tý Ngọ, nhất sinh tước lộc vinh xương.
Cũng gọi là cách Thất Sát chiếu đẩu. Thất Sát ở cung miếu vượng thì phú quý suốt đời, tước lộc vinh xương.
Thất Sát Phá Quân chuyên y Dương Linh chi hư.
Sát ngộ Phá thì sự hung hại cũng như Dương Linh.
Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi.
Sát Liêm đồng vị lạc hãm là số chết đường; Liêm ngộ Hao ở Thiên Di cũng vậy; nếu lại gặp Kỵ Dương Đà thì lại càng hung.
Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại, chư ban thủ nghệ bất năng tinh.
Mệnh Thân có Sát Phá nên xuất ngoại, xa quê hương; là người không tinh một nghề nào cả.
Thất Sát lâm Thân Mệnh, lưu niên Hình Kỵ tại thương.
Mệnh Thân có Sát tọa thủ, hạn gặp Hình Kỵ ắt bị tai thương; nếu gặp Tử Vi, Thiên Tướng, Lộc Tồn thì giải được.
Sát lâm Tuyệt địa hội Dương Đà, Nhan Hồi yểu triết.
Sát cư nơi Tuyệt địa gặp Dương Đà, hạn gặp ắt chết như thầy Nhan Hồi.
Thất Sát trùng phùng Tứ Sát, yêu đà bối khúc, trận trung vong.
Sát ngộ Dương Đà Hỏa Linh lạc hãm ắt bị tật nguy, lưng đau gấp khúc, lâm trận địa ắt chết.
Thất Sát Hỏa Dương bần thả tiện, đồ tể chi nhân.
Sát ngộ Hỏa Dương tọa Thân Mệnh là hạng bần tiện; nếu ở nơi sinh hương là làm đồ tể.
Thất Sát Dương Linh, lưu niên Bạch Hổ, hình lục tai độn.
Thân Mệnh có Sát Dương Linh tọa thủ, nhị hạn gặp Bạch Hổ ắt bị tai ương hình lục.
Thất Sát lưu Dương nhị Quan Phù, ly hương tao phối.
Sát tọa Thân Mệnh, lưu hạn có Dương, Quan Phù, thì xa bỏ quê hương, gặp sự phối hiệp tao phùng.
Thất Sát thủ chiếu, tuế hạn Kình Dương, Ngọ sinh nhân, Mệnh an Mão Dậu cung chủ hung vong.
Tuế hạn có Thất Sát thủ chiếu, lưu niên đến là lưỡng Sát trùng phùng, người sinh năm Ngọ, Mệnh an Mão Dậu là chủ hung vong.
Thất Sát trầm ngâm phúc bất vinh.
Cung Phúc Đức có Thất Sát ắt không được vinh hiển: trai thì có uy quyền, gái thì không ai ưa.
Thất Sát lâm Thân chung thị yểu.
Thất Sát tọa thủ Thân lạc hãm ắt chết non.
Thất Sát đơn cư Phúc Đức, nữ nhân thiết kỵ, tiện vô nghi.
Có một mình sao Thất Sát cư cung Phúc Đức, số đàn bà thì tối kỵ; nếu có là số bần tiện.
Phá Quân: hãm, vượng và tính hao tán
Phá Quân sáng ở Tý Ngọ, hãm ở Dần Thân.
- Miếu: Tý Ngọ.
- Vượng: Thìn Tuất Sửu Mùi.
- Hãm: Dần Thân.
- Bình: Tị Hợi.
Phá Quân Tý Ngọ cung vô Sát, quan tứ thanh hiển chí Tam công.
Mệnh Thân có Phá Quân cư Tý Ngọ không gia Sát tinh là người làm quan đến Tam công, nhiều bổng lộc, thanh hiển phú quý. Người sinh năm Giáp Quý là hợp cách, năm Đinh Kỷ là thứ cách, năm Bính Mậu là khốn cùng.
Phá Quân Tham Lang phùng Lộc Mã, nam đa lãng đãng nữ đa dâm.
Mệnh Thân có Phá Tham đồng vị gặp Lộc Mã, tuy có Lộc Mã giao trì là kiếm được nhiều tiền một cách dễ dàng nhưng không kiềm chế được tính cách Phá Quân, nên trai thì lêu lổng chơi bời phá tán, nữ thì đa dâm.
Phá Quân ám hợp Đồng Lương, thủy chung tác trác.
Như Thân Mệnh có Phá Quân tọa thủ ở cung Dậu có Đồng Lương ở cung Thìn ám hợp, là cách mài ngọc trong nước, sau ắt vinh hiển, nhưng vẫn có tính tiêu xài rộng rãi những việc đáng mua bán.
Phá Quân Hỏa Linh, bôn ba lao toái.
Phá Quân không hợp với Hỏa Linh như Tham Lang, cho nên nếu gặp là người bôn ba khổ cực.
Phá Quân nhất diệu tính nan minh.
Mệnh cung có một mình Phá Quân tọa thủ là người không sáng suốt, phá tán không suy xét.
Phá Hao Dương Linh Quan Lộc vị, đáo sứ khất cầu.
Cung Quan Lộc có Phá, Hao, Dương Linh là số ăn mày, suốt đời nghèo khổ (muốn đoán chắc phải xem Tham Lang tại Tý Ngọ Mão Dậu, xem hãm vượng ra sao mà đoán).
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
