Bài tổng quan
Các nghề khoa học ứng dụng và nghệ thuật: y, nha, dược, nhạc, họa, kịch
Bác sĩ mà lá số có Hỷ Thần thì chuyên về trĩ, có Thiên Riêu cùng Kình Dương thì chuyên bệnh phong tình — lời xưa nói thẳng như vậy. Còn Thiên Tướng đi với Thiên Y lại hiện ra hình ảnh vị cứu tinh cầm tướng lệnh của trời để cứu người thay vì sát phạt. Vậy tiếng đàn, nét cọ, sân khấu thì ứng vào những sao nào…
Những nghề liên quan đến khoa học ứng dụng
Từ cửa hàng và xưởng máy, lá số dẫn ta vào phòng khám — nơi mỗi vì sao ứng với một bộ phận trên thân thể người bệnh.
Trong lãnh vực này, khoa Tử Vi cũng nghèo nàn. Chỉ thấy được các nghề điện, nha, dược, y và nghề kiến trúc.
Nghề điện
Có các sao tượng trưng dưới đây: Thái Dương, Thái Âm; Thiếu Dương, Thiếu Âm; Hỏa tinh, Linh tinh.
Bộ sao này chỉ các thể khí đối lập và tạo nhiệt, có thể hình dung được điện học hay điện tử, cùng với những ứng dụng phức tạp của hai ngành này.
Nghề nha
- Tuế Phá, chỉ bộ răng
- Thiên Hình hay Kiếp Sát chỉ sự mổ xẻ chắp vá
- Tấu Thư hay Hồng Loan chỉ khéo tay, tinh xảo
Nghề dược
Có hai sao cụ thể là:
- Thiên Y chỉ thuốc men
- Hóa Kỵ chỉ dung dịch, hóa chất bào chế
Nghề y
Nghề này chuyên khá nhiều sao biểu diễn. Vì y sĩ là người cứu độ thiên hạ và là người có hiểu biết về y khoa cho nên phải có những sao chỉ hai loại năng khiếu đó.
Về mặt cứu độ có những sao cứu độ có y tính phải kể là:
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương
Bốn sao này gồm bộ phúc tinh chỉ sự làm việc nghĩa. Người có cách này có thiên tính, hay giúp đỡ kẻ khác, có khuynh hướng xã hội rất cao, hay làm phúc, tạo phúc và có cơ hội tích phúc. Tuy không trực tiếp có ý nghĩa y học, song đây là bộ sao cứu độ cần thiết cho y sĩ.
Thiên Tướng
Sao này biểu tượng cho vị cứu tinh của nhân loại, mang lại công bình, hạnh phúc cho nhân thế trong tinh thần cứu độ thế. Thiên Tướng là vị tướng của trời, dĩ nhiên được dùng để cứu rỗi hơn là để sát phạt.
Thiên Y
Tuy là tinh nhưng Thiên Y trực tiếp nói về y học. Người có Thiên Y có tính sạch sẽ, vệ sinh và có năng khiếu về thuốc men. Ngoài ra, Thiên Y cũng có nghĩa cứu giải bệnh tật và có nghĩa hay dùng thuốc khi có bệnh.
Những sao trên cần đóng ở Mệnh, Thân hay Quan mới có điều kiện cứu độ của một y sĩ, mới có triển vọng hành nghề nhiều nhất. Nếu đóng ở Tài thì y sĩ này có xu hướng lấy tài, trục lợi và bóc lột bệnh nhân, mặc dù ở cung đó, tài lộc sẽ được dồi dào hơn ở vị trí khác.
Ngoài ra, còn có những sao trợ, ý nghĩa là làm tăng thêm triển vọng cho nghề thuốc, đồng thời cũng tạo thêm phúc đức thực tại cho đương số.
- Ân Quang, Thiên Quý.
- Thiên Quan, Thiên Phúc.
- Tả Phù, Hữu Bật.
Ân Quang, Thiên Quý chỉ cái phúc do Trời an cho. Đi với bộ sao Bác Sĩ, ông này sẽ được nổi tiếng nhờ mát tay, nhờ hên may, được tinh thiên phù trợ, soi sáng dẫn đắt trong vấn đề trị liệu. Đồng thời, Quang Quý cũng nói lên tinh thần vị tha cao độ của một y sĩ có lương tâm chức nghiệp, yêu nghề, tinh nơi nghề và được nghề đãi ngộ xứng đáng, lấy việc cứu người làm lẽ sống cao cả, ít quan tâm đến khía cạnh tiền bạc của nghề thuốc.
Thiên Quý, Thiên Phúc cũng là phúc tinh nói lên xu hướng xã hội của y sĩ. Với bốn sao này, y sĩ hay bố thí, cứu người không lấy tiền, làm việc với sự tận tâm và vị tha nhờ đó mà được nổi danh bác ái kiểu như Albert Schweitzer.
Còn Tả Phù, Hữu Bật, trong sách y sĩ cũng có nhiều ý nghĩa cứu độ làm phúc, nhưng thông thường, hai sao này nặng ý nghĩa đắc thời, có sự nghiệp y dược lớn cụ thể như bệnh viện riêng, được bác sỹ, y tá trợ giúp. Với Tả, Hữu, y sĩ không làm việc một cách đơn độc mà hành nghề chung với một tập đoàn y sĩ khác, hùn hạp chung vốn, chung sức trong một bệnh viện.
Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
Đứng về mặt y học, ba sao này có hiệu lực hóa giải bệnh tật. Người có bệnh gặp các sao này mau hết bệnh vì gặp thầy, gặp thuốc. Còn y sĩ mà có ba sao này thì cứu mạng và chữa trị rất công hiệu cho bệnh nhân.
Về năng khiếu chuyên khoa: có thể nói rằng các ngành chuyên khoa trong y học không được phát triển trong xã hội Trung Hoa thời xưa. Chỉ thấy thời đó có hai phương pháp trị liệu là bằng thuốc men (médecine générale) và bằng giải phẫu (chirurgie). Không thấy nói đến các chuyên khoa trên các bộ phận chính của cơ thể hoặc trên y học kỹ thuật.
Dựa trên ý nghĩa cơ thể và kỹ thuật của một số sao ta có thể suy diễn tạm thời hai loại chuyên khoa; một về kỹ thuật và một về cơ thể.
Những chuyên khoa có tính chất kỹ thuật do những sao dưới đây biểu diễn:
Thái Âm, Thái Dương
Đây là hai loại khí đối lập của trời đất, có thể tượng trưng cho điện khí. Ứng dụng vào y học kỹ thuật, y sĩ nào có thêm sao Âm, Dương chiếu cho thể là bác sĩ chiếu điện (radioscopie) hay chụp hình (radiographie) hoặc là bác sỹ sử dụng các phương pháp chữa trị bằng điện (radio-thérapie), bằng quang tuyến hay tia phóng xạ (radioactivité).
Thiếu Âm, Thiếu Dương
Hai sao này có ý nghĩa tương tự như trên, duy vì nó chỉ yếu tố âm dương cực nhỏ cho nên có thể đồng hóa với điện tử với tầm ứng dụng thực nghiệm đang phát triển cao độ hiện nay.
Thiên Hình, Kiếp Sát
Chỉ dụng cụ mổ xẻ, cho nên ngành ứng dụng là giải phẫu (chirurgie), chắp vá, thay thế bộ phận thiên nhiên bằng bộ phận nhân tạo có tính cách kỹ thuật (tim nhân tạo, thận nhân tạo).
Những chuyên khoa trong cơ thể bao gồm các ngành đặc biệt dưới đây:
Thái Âm, Thái Dương
Âm, Dương là hai mắt và bộ thần kinh đồng thời là tâm linh con người. Vì vậy, bác sĩ nào có hai sao này có thể là bác sĩ nhãn khoa, bác sĩ thần kinh hay tâm linh (psychiatre, psychanalyse).
Tuế Phá
Vì chỉ bộ răng cho nên sẽ là bác sĩ nha khoa.
Phá Toái, Long Trì, Phượng Các
Phá Toái chỉ cuống họng (larynx), Long Trì là lỗ mũi, Phượng Các là lỗ tai. Ba sao này ứng dụng với ngành tai mũi họng (ORL).
Mộc Dục, Thai hay Đào Hoa, Hồng Loan
Mộc Dục chỉ tử cung, Thai chỉ bào thai, âm hộ. Đào, Hồng chỉ phụ nữ. Đây là bác sĩ trị bệnh đàn bà (gynécologue), bệnh về thai sản (obstétrique) và các bệnh liên quan đến hạnh phúc lứa đôi.
Hỷ Thần
Chuyên về trĩ (hémorroïdes) vì Hỷ Thần là hậu môn.
Thiên Riêu, Kình Dương
Sao này liên hệ đến bộ phận sinh dục, nhất là của phái nam. Đi với bộ sao y sĩ, ngành chuyên khoa sẽ là bệnh phong tình (maladies vénériennes) hay các bệnh phụ tùy của cơ quan sinh dục như liệt dương (impuissance), teo chim!
Bạch Hổ, Địa Kiếp
Hai sao này tương ứng với bệnh ung thư.
Thiên Hình, Kiếp Sát
Đây là bác sỹ châm cứu (acupuncture).
Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái
Ba sao này có nghĩa chưng diện, làm dáng. Ngành chuyên khoa sẽ là thẩm mỹ (esthétique) chuyên sửa sắc đẹp.
Thiên Mã hay Kình Dương, Đà La
Các sao này chỉ chân tay, liên quan đến ngành chỉnh hình (orthopédie), làm chân tay giả, huấn luyện cử động hoặc là bệnh tê bại (polio).
Ngoài ra, nếu không có chuyên khoa nào mà có sao Hóa Kỵ (chỉ hóa chất, thuốc men) thì đây là bác sỹ trị liệu tổng quát (médecine générale).
Nếu các sao trên không hẳn nói lên ngành chuyên khoa của y sĩ thì có thể liên quan đến luận án của họ. Sau cùng, nếu có thêm Thái Tuế, Lưu Hà, Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc thì có dạy và sáng tác về y khoa. Nếu có thêm Khôi, Việt thì trong ngành chuyên môn, đương số rất nổi danh, có thể là Chủ Tịch Hội Đồng Y Khoa hay Chủ Tịch Y Sĩ Đoàn.
Nghề kiến trúc
Liên quan đến nhà cửa, nghề này cần các sao chỉ điền sản và sao mỹ thuật.
Long Trì, Phượng Các, Thái Âm
Long Phượng chỉ nhà cửa và cảnh trí trong nhà, trong vườn. Thái Âm chỉ bất động sản.
Tấu Thư, Hồng Loan
Chỉ hoa tay, năng khiếu mỹ nghệ nói chung, thích hợp cho người về kiểu nhà, kiểu tượng, kiểu lăng tẩm, đền chùa, dinh thự, tượng.
Những nghề liên quan đến nghệ thuật
Sau bàn mổ và bản vẽ nhà, đến những nghề của đôi tai, đôi tay và đôi mắt — cần nhất là một chút khéo léo trời cho.
Ngành nghệ thuật có rất nhiều nghề. Duy khoa Tử Vi chỉ rõ ràng đối với một thiểu số nghề mà thôi. Vì nghệ thuật đòi hỏi sự khéo léo, hoa tay, cho nên bất luận nghề nào của ngành nghệ thuật cũng phải có sao Tấu Thư hoặc Hồng Loan, hoặc Thiên Cơ. Bằng không thì đó chỉ là một sự hiểu biết hay một sở thích chớ không phải là một nghề. Tuy nhiên, vì có sở thích đương sự vẫn có thể tài giỏi trong thuật đó mà có thể hành nghề nếu muốn. Ngoài ra, sự hiện diện của các sao trên còn chỉ nghề thủ công nói chung.
Nghề nhạc
Nghề này đòi hỏi thính giác bén nhạy, linh mẫn, sự khéo tay và cái ngón tinh diệu. Phải có đủ ba sao:
Tấu Thư
Sao này chỉ sự tinh mẫn (acuité), sự tế nhị (subtilité, finesse), và cả cái ngón cần thiết (doigté).
Hóa Lộc
Có thể hiểu sao này như nghệ thuật, sự sành điệu, tính cách nhà nghề hay tài tử (amateur, connaisseur), biết chơi, biết hưởng thức, biết ứng dụng tỉ mỉ.
Phượng Các
Sao này chỉ lỗ tai hay thính giác.
Với ba sao này, đương số sẽ là nhạc sĩ, sống về âm nhạc, hoặc là chuyên viên âm thanh trong kịch trường hoặc phim trường. Nếu có thêm sao khoa giáo thì đương số là giáo sư âm nhạc hay nhà khảo cứu về âm nhạc, âm thanh.
Nghề họa
Ngoài sao Tấu Thư hoặc sao Thiên Cơ, đương số phải có sao Hồng Loan chỉ hoa tay. Nếu có thêm Long Trì, Phượng Các cũng được, dù không cần thiết bằng Tấu, Hồng hay Cơ, Hồng.
Nghề nữ công
Tuy nói là nữ công, song nam giới có thể hành nghề được như thường. Ngoài những sao Tấu Thư, Hồng Loan hay Thiên Cơ, còn phải có sao Kiếp Sát hay Thiên Hình vì cả hai chỉ mũi kim. Với hai sao này, nghề nữ công gồm có thêu may, cắt và vẽ kiểu áo thời trang chế mốt thời trang (raglan, quần patte…)
Nghề nấu ăn
Ngoài sao Hóa Lộc (chỉ goût), Tấu Thư, Hồng Loan, nghề gia chánh phải có thêm sao Long Trì, Hóa Kỵ và Thiên Trù. Long Trì chỉ khứu giác, Hóa Kỵ chỉ cái lưỡi hay vị giác, còn Thiên Trù chỉ khiếu ăn nhậu.
Với các năng khiếu trên, đương số cũng có thể làm nghề nấu rượu, cất rượu vì vị giác và khiếu ăn nhậu rất cần cho nghề đó.
Nghề kịch
Các sao của nghề nhạc, nghề họa đều có thể ứng dụng cho nghề kịch, cụ thể là đóng tuồng, đóng phim, hát bộ. Nếu có thêm sao Đào Hoa, Vũ Khúc, Thiên Hỷ, Hỷ Thần càng hay. Đào Hoa chỉ sự có duyên, sức thu hút khán giả (vì đào kép cải lương hay kịch ảnh rất được hâm mộ nên phải có sức quyến rũ, dù là giả tạo). Vũ Khúc chỉ tài nghệ. Hai sao Hỷ chỉ sự giúp vui làm trò và đặc biệt ứng dụng cho hài kịch, trào phúng.
Với các sao đó, đương số sẽ là kịch sĩ, tài tử, minh tinh, đạo diễn, huấn luyện viên kịch trường. Nếu có thêm sao văn tinh thì có thể viết kịch, dạy kịch. Nếu có thêm sao hùng biện nữ thì càng đặc sắc, có khả năng đa diện trong ngành kịch, từ thầy tuồng cho tới đạo diễn và kịch sĩ (như Molière).
Nghề kịch chỉ hiển vinh nếu các sao đắc địa và có thêm Văn Xương, Văn Khúc hay Thái Âm sáng sủa: lúc bấy giờ, vai trò sân khấu sẽ được biểu diễn rất sống, rất thực, gây xúc cảm mãnh liệt, vì ba sao này chỉ sự tiếp thu và tiếp phát tình cảm rất phong phú. Nếu có thêm Thiên Không, Thiên Việt thì xuất chúng, nhờ nghệ tinh và vinh thân, được người đời tôn thờ sùng mộ, kiểu như Kim Cương, Thanh Nga hoặc Phi Thoàn, Khả Năng, Văn Chung, Thanh Việt. Mặt khác, với các bộ sao trên, đương sự còn có khả năng phê bình nghệ thuật nói chung (critique d’art) và kịch nghệ nói riêng.
Quan niệm phú trong khoa Tử Vi
Xong chuyện học, chuyện quan và chuyện nghề, còn lại chuyện thiết thân nhất của người đời: tiền của.
Khoa Tử Vi rất chú trọng hạnh phúc của con người thế tục, hạnh phúc vật chất chớ không phải tinh thần. Nó được gói ghém qua ba chữ: Phú, Quý, Thọ. Nói khái đi, hạnh phúc đó được tính bằng tiền, bằng danh, bằng sự sống lâu. Tử Vi không hề bàn đến hạnh phúc của người đạo vì khoa này không có nghiên cứu đạo lý.
Trong ba ý niệm phú, quý và thọ, phú chiếm một chỗ đứng quan trọng. Lá số dành 4 trong 12 cung để chỉ trực tiếp tình trạng tài sản, (cung Phúc, Tài, Điền, và Quan) chưa kể 4 cung Mệnh, Thân, Phu, Thê, Di có nghĩa tài sản gián tiếp.
Mặt khác, Tử Vi phân biệt 3 nguồn tài sản:
- Của tổ phụ, của cha mẹ để lại dưới hình thức di sản, do hai cung Phúc và Phụ đề cập.
- Của quan trường, nghề nghiệp mang lại, do cung Quan đề cập.
Khoa Tử Vi còn phân biệt rõ ràng hai loại của cải: động sản gồm tiền bạc, quý kim (cung Tài) và bất động sản gồm nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, cơ xưởng, hoa màu… (cung Điền). Sự phân tích trên cho thấy khoa Tử Vi chú ý nhiều đến sự giàu nghèo và nghiên cứu phú cách một cách tinh vi, nói đầy đủ mối quan tâm của người đời về phương diện này.
Số lượng các cung tài sản còn cho thấy rằng khoa Tử Vi có xu hướng tư sản, xem của cải rất quan trọng cho hạnh phúc cá nhân. Thật vậy, trong lá số, bao giờ cung Tài cũng trực chiếu vào cung Phúc, hàm ý rằng hạnh phúc con người thể hiện qua tiền bạc. Có phúc mới có tiền, bạc phúc thì nghèo. Cũng trong ý hướng đó, cung Điền giáp với cung Phúc. Ngoài ra, khi xem Phúc là di sản, khoa Tử Vi là một nhãn quan tư sản, coi trọng tư hữu, không phải là nhãn quan vô sản chối bỏ quyền tư hữu và quyền di sản.
Ngoài ra, khoa Tử Vi còn đặt để rất nhiều sao giàu nghèo, đồng thời cố gắng phân tích những hình thái, nguồn gốc, mức độ giàu nghèo một cách súc tích. Ngoại trừ một số biệt lệ, bất luận chính tinh đắc địa nào cũng có ý nghĩa phú túc. Trong số 14 chính tinh, có riêng 5 sao có ý nghĩa tiền bạc rất rõ ràng, gọi là tài tinh (Vũ, Phủ, Tử, Âm Dương). Còn về phụ tinh, cát tinh nào cũng có chút ít ý nghĩa tiền bạc, trực tiếp hay gián tiếp. Riêng hai sao tài là Hóa Lộc và Lộc Tồn được phân biệt khá kỹ lưỡng. Ngay cả đối với hao tinh như Đại Hao, Tiểu Hao mà đắc địa ở Mão, Dậu cũng không có nghĩa túng thiếu: nhị Hao ở đây lại rất giàu, đến mức độ mà người xưa gọi là “chúng thủy triều đông”, ngụ ý nói tất cả mạnh nước đều chảy về hướng đông, nghĩa là tiền bạc điền sản qui tụ vào kho lẫm của lá số tốt phúc đó.
Tuy nhiên, khoa Tử Vi không định nghĩa thế nào là giàu, nghèo và mức độ giàu nghèo. Thiết tưởng đây là vấn đề thực tế, tùy gia cảnh, tùy cá nhân, tùy nghề nghiệp, tùy phúc đức, tùy thời thế. Sở dĩ khoa này không chịu đi sâu vào chi tiết, chính cũng vì thấm nhuần tinh thần dịch lý của trời đất và con người. Ý niệm giàu nghèo rất là linh động. Phải tùy theo sự hội tụ của tài tinh mà phán đoán. Đây là một nhận định thực tại (appréciation de fait) trên mỗi lá số, mỗi hoàn cảnh, mỗi nghề nghiệp… Nếu cần lạm bàn, ta có thể tạm ấn định một số tiêu chuẩn cho việc giàu nghèo, mô phỏng theo nhãn quan và tinh thần của khoa Tử Vi.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
