Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Các ngành học nghề trong lá số, từ võ học đến thẩm mỹ

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202614 phút đọc3 lượt đọc
Các ngành học nghề trong lá số, từ võ học đến thẩm mỹ

Thiên Tướng đi cùng Thiên Y thì hóa thành thầy thuốc, còn Thiên Hình đi cùng Đào Hoa thì hóa ra con dao mổ thẩm mỹ. Thời nhà Tống chỉ có hai ngành văn và võ, vậy mà các sao vẫn để lại dấu vết của nghề y, nghề điện, nghề bếp, nghề ca hát. Lá số sẽ chỉ ra ngành nào cho một người…


Các ngành trong khoa Tử Vi

Sao đã chỉ được người học giỏi, người đỗ cao, thì cũng phải chỉ được người ấy học ngành nào.

Vào thời Trần Đoàn, đời nhà Tống, hầu như chỉ có hai ngành văn và võ học. Điều này hẳn không còn thích hợp với sự phát triển văn hóa của thế kỷ này nữa. Thật vậy, hiện nay, chẳng những có rất nhiều ngành học mà mỗi ngành còn có nhiều chuyên khoa.

Để góp phần canh tân khoa Tử Vi, ta tạm suy diễn những ngành và môn học tổng quát sau đây từ các sao đóng hay chiếu Mệnh, Thân, Quan.

Võ học

Khoa Tử Vi ít có sao chỉ võ học một cách trực tiếp, chỉ có những sao chỉ võ nghiệp mà thôi. Từ võ nghiệp có thể suy luận rằng có võ học.

Sát, Phá, Liêm, Tham

Nếu hội đủ cả bốn sao chiếu Mệnh thì nghiệp võ của đương số sẽ rõ ràng. Nhưng, cũng có nhiều trường hợp, quân nhân mà vẫn không hội đủ bốn sao, có khi chỉ có 2 hay 3. Mặt khác, cũng có trường hợp có đủ bốn sao mà vẫn không phải là nhà binh: trong trường hợp này, những sao đó nói lên võ tính của đương sự hơn là võ học hay võ nghiệp, hay sát phạt, có hành động võ phu.

Binh Hình, Tướng Ấn

Cách này chỉ sự hiển đạt trong nghiệp võ, chỉ quân nhân có tài tác chiến, tài tham mưu, đồng thời cũng là quân nhân có chiến công, có cầm quân, có huy chương.

Vũ Tướng

Hai sao này kết hợp cũng chỉ võ nghiệp rất đặc sắc.

Tử Phủ, Vũ Tướng

Cách này vừa chỉ văn, vừa chỉ võ, cho nên đặc biệt có quyền uy: đó là ngành võ cầm quyền chính trị hay là “văn chế võ”.

Tướng Quân, Thiên Mã

Hai sao này chỉ quân nhân có tài. Tướng Quân chỉ võ tính, sự cương cường, hiếu thắng, phách lối, còn Thiên Mã chỉ tài năng. Nếu Mã đi với Thiên Tướng vốn đôn hậu, có tư cách hơn Tướng Quân.

Thiên Mã, Lực Sỹ

Đây cũng là cách của một võ tướng có sức mạnh (vì Lực Sỹ chỉ sức mạnh) từ đó vũ dũng và có thể chỉ là vũ dũng mà thôi, ít có mưu lược.

Thiên Tướng – Tướng Quân hay Thiên Tướng – Phục Binh hay Tướng Quân – Phục Binh. Đó là cách “lưỡng tướng” hay cách “Tướng Binh” có nghĩa là tướng có quân, có quyền.

Ngoài ra có thể kể một số sao trợ võ, nghĩa là đi chung với các võ tinh khác làm cho võ nghiệp rõ rệt hơn. Đó là Không Kiếp, Kình Đà, Hỏa Linh là những sát tinh, hung tinh nói lên tính nết mạnh bạo, dám làm, tác phong của võ cách. Cụ thể như hai sao Kình, Hỏa miếu địa đồng cung là lá số danh tướng, hợp với cách Sát Phá Liêm Tham.

Những sát, hung tinh này đi chung quanh của những sao võ kể trên làm nổi bật cách của đương số. Ví dụ như Tướng Mã, Không Kiếp đắc địa chỉ quân nhân cầm binh, vị tướng cầm quân (général de troupes), có nhiều binh tướng dưới tay, thường lập nghiệp vẻ vang trong thời tao loạn. Ví dụ như Sát Phá Liêm Tham gặp Kình hãm địa ở Mão Dậu là tướng làm loạn, đảo chánh, binh biến, hoặc hành sử rất tàn bạo, khát máu, giết người không gớm tay.

Trong khoa Tử Vi, võ nghiệp không mấy rõ ràng và có nhiều trường hợp ngoại lệ. Có những số cách Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật hay Cự Cơ mà vẫn làm về ngành võ. Trái lại có những cách Sát Phá Liêm Tham mà làm văn. Đây là một điểm mơ hồ của khoa Tử Vi, cho thấy khoa này trong một vài lãnh vực tỏ ra không mấy cụ thể và chính xác.

Lẽ dĩ nhiên, võ học và võ nghiệp chỉ áp dụng cho phái nam. Không thấy nói đến nữ võ tướng.

Văn học

Bên cạnh những sao sát phạt nơi chiến trường còn có những sao chữ nghĩa, gắn với sách vở và học hành.

Trong văn học, ta chỉ ghi nhận được những ngành văn khoa, luật khoa, sư phạm, dịch thuật, hành chánh học, chính trị học, hùng biện……tạm xếp chung vào văn học.

Văn Xương, Văn Khúc

Hai sao này chỉ các môn học về văn chương (lettres), triết lý (philosophie) hoặc chỉ môn học nói chung.

Có khi không cần hội đủ hai sao mới học văn hay học triết. Nhưng nếu hội đủ cả hai thì ngành học sẽ rõ rệt hơn.

Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn, Quan Phù

Một trong bốn sao này chỉ các môn học về luật pháp (droit). Khoa Tử Vi không phân biệt ngành công pháp (droit public) và ngành tư pháp (droit privé) trong luật khoa.

Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật

Cả bốn sao này chỉ ngành dịch thuật vì Tả, Hữu đi với Xương Khúc cũng chỉ người biết nhiều thứ tiếng (polyglotte), nói hay viết được nhiều thứ tiếng, nói khác đi, Tả Hữu cùng với Xương Khúc chỉ hoa sinh ngữ. Đây là bộ sao của các người thông ngôn (traducteur, interprète), hành nghề dịch sách, tu thư, khảo cứu cổ ngữ, kim ngữ (linguiste).

Lưu Hà, Tấu Thư, Hóa Khoa, Thái Tuế, Cự Môn Hóa Kỵ

Những sao này chỉ sự hùng biện, tài sử dụng ngôn ngữ, ứng dụng đắc cách vào ngành sư phạm (pédagogie), vào khoa hùng biện (éloquence). Những sao này có thể đi song đôi với Xương, Khúc. Vì những đặc tính về ăn nói cho nên những sao này cũng chỉ chính trị học (sciences politiques).

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương

Các sao này chỉ người công chức. Áp dụng vào ngành học, thì đây là ngành hành chánh (administration), ngành quản trị công sở. Có thể ngành quản trị tư sở (tư chức) cũng do bộ sao này chỉ danh. Nhưng, vì thời xưa không có tư sở cho nên bộ sao Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương lúc đó thuần túy chỉ công chức, công sở.

Lộc Tồn

Sao này chỉ tài năng tổ chức, sắp xếp công việc, do đó cũng liên quan đến ngành quản trị hành chánh công hay tư sở (gestion d’entreprise), đặc biệt là quản trị tài chính, kế toán, ngân sách, kho bạc, ngân hàng.

Khoa học

Chữ nghĩa và đạo lý thời xưa đã chiếm hết chỗ; muốn tìm thầy thuốc hay thợ máy trong lá số, phải đọc nghĩa các sao theo lối khác.

Những ngành khoa học không được khoa Tử Vi đề cập đến, vì thời xưa, khoa học không có bao nhiêu, lại ít phổ cập, hơn nữa bị văn chương đạo lý lấn át. Vào thời đại nhà Tống, chỉ có khoa học nhân văn là thịnh hành, nhưng vẫn nằm trong đạo học, triết học, luân lý học. Không có ngành khoa học thực nghiệm, khoa học vật lý, khoa học thiên nhiên, mà chỉ có khoa học nhân văn.

Nếu Trần Đoàn sống lại, có lẽ ông sẽ canh tân khoa Tử Vi để thích ứng với sự phát triển của con người trong các ngành khoa học mới. Theo thiển ý, qua các sao trong lá số Tử Vi, có thể suy diễn vài ngành liên quan đến y học, dược học, điện, điện tử học, cơ khí học sau đây:

Thiên Tướng, Thiên Y

Thiên Tướng chỉ sự phù trợ, bao bọc, từ đó bao hàm ý nghĩa cứu vớt, độ tha. Thiên Y chỉ thuốc men, vệ sinh, giải bệnh. Hai sao này đi chung (đồng cung hay hội chiếu) có nghĩa là y học (médecine) nói chung.

Ngoài ra, nếu Thiên Y đi kèm với các sao phù trợ khác cũng có nghĩa về y học, cụ thể như sao:

  • Thiên Quan
  • Địa Giải
  • Hữu Bật
  • Thiên Phúc
  • Thiên Cơ
  • Giải Thần
  • Tả Phù
  • Thiên Lương
  • Thiên Đồng
  • Thái Âm
  • Thiên Giải…

Thiên Y, Hóa Kỵ

Hóa Kỵ chỉ hóa chất nói chung, cùng với Thiên Y sẽ có ý nghĩa bào chế thuốc men, có liên quan đến y học (pharmacie).

Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm, Thái Dương

Các sao này nghĩa là điện, liên quan đến ngành điện học (électricité), có thể cả ngành điện tử (électronique) hay nguyên tử (atomique). Rất khó phân biệt sâu hơn nữa. Sự suy diễn đến mức độ như thế vẫn có thể sai lầm.

Thiên Cơ

Về vật dụng, sao này chỉ máy móc, do đó có thể liên quan đến ngành cơ khí, ngành kỹ thuật. Đây có thể là sao kỹ sư (ingénieur) hay chuyên viên kỹ thuật (technicien), kỹ nghệ gia.

Kinh tế học

Từ máy móc, thuốc men sang chuyện buôn bán: cũng là một lãnh vực xưa nay ít ai chép thành môn học.

Ngày xưa, trong xã hội Trung Hoa, tuy có bốn nghề chính là sĩ, nông, công, thương, nhưng chỉ có nghề sĩ là phải học hẳn hoi, có môn học có khoa trường, có chỗ dụng trong công quyền. Các nghề nông, công, thương được xem như không thành môn học, không cần phải học, vì vậy, bị xã hội cho là kém hơn nghề sĩ. Nhưng, kẻ sĩ ngày xưa cũng chỉ học đạo lý, chữ nghĩa, chớ không học và không có trường để học các nghề canh nông, kỹ nghệ, thương mại…

Do quan niệm hẹp hòi đó, nếu phải tìm các ngành kinh tế, tài chánh trong khoa Tử Vi, thì đó là một việc hơi táo bạo, có thể võ đoán. Dù sao, cần ghi các sao thuộc các ngành học kinh tài dưới đây để nhớ, để đặt vấn đề cho người khác sưu khảo.

Vũ Khúc, Tham Lang

Vũ Khúc chỉ tài lộc, tiền bạc, Tham Lang chỉ sự đua chen tham lợi. Đây là cách buôn bán, chỉ nghề thương mại (études commerciales), kinh doanh.

Hóa Lộc, Lộc Tồn và Thiên Mã

Hai sao Lộc chỉ về tiền tài, Thiên Mã chỉ tài năng, sự tháo vát, giao dịch. Hai sao đi chung chỉ ngành thương mại lưu động, đi đây đi đó mua bán, mua đi bán lại. Nếu lối hiểu này đúng thì có lẽ người có bộ sao Mã Lộc hay Mã Tồn là kẻ mua bán (détaillant) hay người đại lý thương mại (agent de commerce) hay người phân phối (distributeur) đóng vai luân lưu hàng hóa trong hệ thống kinh tế (vận tải, transport).

Vũ Khúc, Thiên Phủ

Thiên Phủ chỉ cái kho tàng hay hiểu rộng là kho bạc. Ngành học của Phủ có thể là ngân hàng (banque), tín dụng (crédit), thuế khóa (impôt, taxe, douane). Vũ Khúc có thể chỉ kinh tế học. Hầu như hai ngành kinh tế, tài chánh đều được hai sao Vũ, Phủ quảng diễn một cách đầy đủ.

Vũ Khúc, Tham Lang, Kình Dương, Thất Sát

Bốn sao này sáng sủa hội hợp thường thiên về kỹ nghệ. Không thể phân biệt sâu hơn nữa trong các ngành kỹ nghệ.

Nghệ thuật

Xưa kia nghề hát, nghề vẽ bị coi là tạp nghệ; vậy mà lá số vẫn để lại đủ sao cho tiếng đàn, nét cọ, bếp lửa và cả con dao mổ.

Quan niệm cổ không coi nghệ thuật như phải học, cho nên không có trường dạy nghệ thuật. Vả chăng ca, vũ, nhạc, kịch, họa cũng không được liệt vào những nghề chính mà bị xem như tạp nghệ, nghề thứ yếu, nghề mọn, không đáng kể, cho dù được tinh thục và hiển vinh.

Khoa Tử Vi, dù vậy, cũng có liệt kê một số cách liên quan đến ngành nghệ thuật.

Phượng Các, Tấu Thư, Xương Khúc

Phượng Các là thính giác, lỗ tai. Tấu Thư là sự linh mẫn, êm dịu ngọt ngào. Xương Khúc chỉ môn học. Bốn sao này đi cùng chỉ âm nhạc (musique).

Tấu Thư, Hồng Loan

Cả hai sao này, nhất là Hồng Loan có nghĩa hoa tay, từ đó chỉ ngành học liên quan đến sự khéo tay như hội họa (peinture), điêu khắc (sculpture). Đó là bộ sao hội họa, điêu khắc, nữ công, thủ công.

Đào Hoa, Tấu Thư, Thiên Thủy, Vũ Khúc

Đây là bộ sao của ca sĩ, kịch sĩ, diễn viên màn ảnh, tài tử minh tinh, có liên quan đến các ngành học như hát (chant), đóng kịch (comédie, tragédie, drame), đóng phim, nói chung là nghề làm vui cho thiên hạ. Vì vậy, nên có sao Đào Hoa (chỉ sự hâm mộ). Thiên Hỷ (chỉ sự giúp vui), Vũ Khúc chỉ sự danh giá, được…

Thiên Trù, Tấu Thư, Hóa Lộc hãm địa

Vì Thiên Trù chỉ sự ăn nhậu, Tấu Thư vi, khéo léo, Hồng Loan chỉ xảo nghệ nên bộ sao trên nói lên ngành nấu bếp (art culinaire), nấu rượu, nói chung là chế tạo thức ăn thức uống hoặc gia chánh (gastronomie).

Đào Hoa, Hồng Loan với Mộc Dục hay Hoa Cái

Đó là tất cả sao nói về sự chưng diện, làm đẹp. Ứng dụng vào môn học, đây là môn thẩm mỹ học (esthétique), chuyên về sửa sắc đẹp hiện nay rất thịnh hành (hóa trang, thể dục thẩm mỹ, cắt mi, làm tóc, bơm ngực, đệm mông…)

Thông thường, bộ sao trên đi với Thiên Hình hay Kiếp Sát chỉ môn giải phẫu thẩm mỹ (chirurgie esthétique), Thiên Hình và Kiếp Sát chỉ con dao mổ, sự may cắt vá thịt, da, đồng thời cũng chỉ cái sẹo. Nhưng nếu khoa thẩm mỹ mà tạo ra sẹo cho thân chủ thì chắc nghề đó không khá!

Vị trí của văn tinh

Biết sao nào chỉ ngành nào chưa đủ; còn phải biết văn tinh nằm ở cung nào mới thấy cái học ấy dùng được đến đâu.

Các sao học vấn cần nhất phải tọa thủ ở các cung cường của đương số như cung Mệnh, cung Thân, cung Quan thì mới rõ rệt nói lên ngành học. Có thể đóng ở cung Tài cũng được nhưng giá trị học vấn có thể thấp hơn, dù cung Tài cũng là cung cường của hai phái.

Ở Mệnh, Thân, Quan năng khiếu đó trực tiếp hơn là ở Tài. Ở Tài, có thể là nghề phụ.

Ngoài ra, nếu đóng ở Phúc đức thì cũng được, có nghĩa như thông minh có dòng. Nhưng nếu Phúc có văn tinh thì Mệnh, Thân, Quan cũng phải có văn tinh. Bằng không thì có nghĩa như anh em, dòng họ có ăn học, còn mình thì dốt hơn. Vì văn là các sao có giá trị trong hiện kiếp, do đó cần phải đóng ở các cung chỉ hiện kiếp như Mệnh, Thân, Quan hay Tài. Nếu đóng ở cung Phúc thì sự học vấn có vẻ như ở tiền kiếp, không mấy có giá trị hiện tại. Lẽ dĩ nhiên, khi văn tinh tọa thủ ở những cung khác như Nô, Phu, Thê, Bào, Điền hay Tật thì vô dụng cho mình, hoặc có giá trị học vấn khi vận hạn lọt vào những cung đó.

Mặt khác, văn tinh phải đi kèm với những sao quý cách thì cái học mới có chỗ dụng, cụ thể là học mà được ra làm quan, có nghề vững chãi. Nếu chỉ có văn minh thuần túy quần tụ thì điều đó có thể có nghĩa như một người uyên bác, học giỏi, học từ chương (connaissances livresques), không mấy thực tế, đắc dụng ở học đường hơn là ở ngoài đời.

Tùy theo vị trí của văn tinh, phải xét đến ngũ hành. Nếu có nhiều tương sinh ngũ hành giữa văn tinh với cung tọa thủ và với hành của bản Mệnh thì học vấn càng dễ dàng, càng cao. Ngược lại, nếu bị đối khắc thì học vấn cực nhọc hơn, có thể thấp hơn. Mặt khác, còn phải lưu tâm đến ngũ hành của văn tinh với ngũ hành của những sao cản trở khoa bảng. Nếu gặp sự đối khắc quyết liệt thì sự cản trở sẽ mạnh thêm.

Vấn đề lượng giá khoa bảng tùy thuộc nhiều hàm số, cần được cân nhắc tinh vi mới thấu đáo các uẩn khúc.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề