Bài tổng quan
Vô Chính Diệu xung Cự Nhật: sáu đứa trẻ quanh Di Lặc
Một ông Phật bụng to cười hỉ hả, quanh mình sáu đứa trẻ nghịch ngợm chọc phá mà ông vẫn tươi như không có gì. Sáu đứa ấy hóa ra là sáu ngôi sao đang tụ về một cung trống. Ồn ào đến thế thì ai mới là người ở trong nhà…
Mục lục · 9 phần
- 01Sáu đứa trẻ quanh Phật Di Lặc và sáu ngôi sao của nhóm văn đoàn
- 02Vô Chính Diệu có Cự Nhật xung: vị trí tụ tập nhiều sao nhất
- 03Vô Chính Diệu ở Dần so với ở Thân
- 04Thông minh, học một biết mười
- 05Bất đồng, bất hoà bên trong, phản đối bên ngoài
- 06Không thông thuận và khai thông bế tắc
- 07Nữ Mệnh và chuyện đi xa
- 08Cần gặp và kỵ gặp
- 09Những câu phú liên quan
Sáu đứa trẻ quanh Phật Di Lặc và sáu ngôi sao của nhóm văn đoàn
Thử nhớ lại hình ảnh Phật Di Lặc, vị Phật của tương lai theo Phật giáo: thân hình mập mạp, miệng cười hỉ hả, bên mình có sáu đứa trẻ nghịch ngợm. Sáu đứa bé ấy tượng trưng cho lục tặc, sáu thứ giặc phá rối là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Người tu hành mắt không xem sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi hương, miệng không nếm vị, thân tránh kẻ xấu, lòng không nghĩ điều bậy. Còn Di Lặc thì mỉm cười xuề xoà, nhân hậu như thể không hề bị quấy rầy.
Sáu giặc ấy chính là sáu chính tinh của nhóm văn đoàn. Thái Dương chủ xem thấy; Thái Âm chủ nghe thấy; Thiên Cơ chủ da thịt, mùi hương; Thiên Lương chủ mùi vị thức ăn; Cự Môn chủ sờ mó; Thiên Đồng chủ lòng mơ tưởng. Ngoài đời, sáu ngôi sao ấy hiện ra như sau: Thái Dương kiêu hãnh; Thái Âm âm thầm, âm mưu; Thiên Cơ toan tính riêng tư, cật vấn; Thiên Lương phơi bày, giăng bày; Cự Môn sờ mó, tiếp xúc, phản đối; Thiên Đồng mơ tưởng. Nhìn các chính tinh qua cặp kính đen thì còn một sự thật cay đắng nữa: ta thường nghe câu “nó nổi cái tam bành lục tặc làm điều sằng bậy”. Tam Bành là Bành sư, Bành khiển, Bành chất, tức nhóm Sát Phá Tham, mà Phật giáo gọi là tham sân si. Ngũ quỷ là nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Nhưng khi tốt thì Sát Phá Tham là Tam Công, nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là ngũ quý, và nhóm văn đoàn là lục hiền.
Vô Chính Diệu có Cự Nhật xung: vị trí tụ tập nhiều sao nhất
Đây là trường hợp Vô Chính Diệu có Cự Nhật xung. Cần nắm khái niệm Vô Chính Diệu căn bản. Thực chất là nội Cơ Nguyệt Đồng Lương ngoại Cự Nhật, hình thành bộ Nhật Nguyệt: nội Âm ngoại Dương. Cho nên cần nắm các bộ Đồng Âm, Âm Dương, Cự Nhật để luận. Đây là vị trí Vô Chính Diệu tụ tập nhiều chính tinh nhất của nhóm văn đoàn, cả sáu sao, kèm bộ Cự Nhật; tập trung nhiều như vậy gây hoàn cảnh rối ren, ồn ào, bất lợi, nên càng kỵ gặp nhiều sao khác. Khi Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt hội họp thì hai sao này phát huy đắc lực nhất, mạnh nhất; phần lý luận thiên về bộ Âm Dương với cách nội Âm ngoại Dương.
Vô Chính Diệu ở Dần so với ở Thân
Vô Chính Diệu ở Dần có Cự Nhật xung bị lạc hãm, không hay bằng cùng cách này ở Thân. Ở Thân, cách này chịu ảnh hưởng bộ Nhật Nguyệt sáng sủa, hai cung Quan Lộc, Thiên Di tốt hơn, hạn hành thuận lợi hơn; nhưng chưa hẳn lợi cho bản Mệnh vì còn tuỳ hung cát tinh trợ lực và kỵ hình sát tinh. Điều quan trọng hơn là cách này có một thế xấu rất khó phát hiện vì ta quen chăm chú thái quá vào bản cung: đó là cách Kình Tù giáp Mệnh.
Một phía có người dò xét, một phía có lưỡi dao uy hiếp, và Mệnh đứng giữa không còn đường thoát.
Cụ thể nếu Vô Chính Diệu ở Thân mà cung Mùi, hoặc Vô Chính Diệu ở Dần mà cung Sửu, có Thiên Hình hay Kình Dương, là bị cách Kình Tù hiệp Mệnh. Vô Chính Diệu ở Thân thì tuổi Đinh, Kỷ và người sinh tháng mười một dễ bị; Vô Chính Diệu ở Dần thì tuổi Quý và người sinh tháng năm. Kình Tù hiệp Mệnh nghĩa là một phía có Liêm Trinh theo dõi, một phía có Thiên Hình hay Kình Dương dùng vũ lực uy hiếp. Một người luôn có kẻ theo dõi, kẻ đe doạ như vậy thì đành bó tay. Nếu Mệnh đóng ở đây thì cha mẹ luôn dò xét, anh em trong nhà hăm doạ, cuộc sống khó khăn, đời biến thành ngục tù không còn vui thú. Hạn đáo cung này là thấy cái hoạ ngay trước mắt. Vì sao lại rắc rối thế? Vì nó bắt nguồn từ chính cách Cự Nhật: công khai phản đối, dấy lên sự phản đối, rồi bị theo dõi và răn đe. Đúng như lời tục nói, con ếch chết vì tiếng kêu; nếu không kêu thì ai biết ếch ở đâu mà bắt.
Thông minh, học một biết mười
Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa, học nhất tri thập.
Tức là thông minh, học một biết mười. Và còn:
Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu Mệnh; Khoa Quyền củng chiếu bất lâm viên.
Nhật Nguyệt chiếu hay hơn thủ Mệnh, còn Khoa Quyền thủ Mệnh hay hơn chiếu Mệnh. Những câu phú ấy cho thấy cách Vô Chính Diệu này thiên về thông minh. Dù lạc hãm thì Nhật Nguyệt cũng âm thầm học hỏi để mai sau nên người, tất nhiên cần có cát tinh.
Bất đồng, bất hoà bên trong, phản đối bên ngoài
Đây là bộ sao chủ sự bất đồng, bất hoà, cùng nhau phản đối, cự cãi, mang tính nội bộ trong gia đình, đoàn thể, phe nhóm, đảng phái. Tầm quan trọng của việc tuỳ thị phi tinh, hung tinh tụ tập. Bên trong có kế sách hay của bộ Cơ Lương được sự nhất trí của Đồng Âm, nhưng bên ngoài Cự Nhật dấy lên sự phản đối, mà Cự Nhật không phản đối vô lý. Vậy kế sách hay có còn hay không khi có người phản đối? Bàn bạc bên trong thì âm thầm nhất trí, nhưng bên ngoài vẫn công khai phản đối.
Đó là cách kẻ tán đồng người phản đối, gây mâu thuẫn từ trong nội bộ không biết đâu mà theo. Tốt là khai thông bế tắc, xấu là bế tắc: kẻ tán thành, người phản đối, không nhất trí, nội bộ sinh mâu thuẫn. Đây là cách ngược với Đồng Âm. Có một dạng đặc biệt: bên ngoài phản đối mà bên trong lại tán thành, tức bên trong chiều ý bên ngoài, như bệnh nhân phải làm theo bác sĩ: cởi áo ra để tôi khám, ngồi yên để tôi cắt tóc, để tôi may đo.
Không thông thuận và khai thông bế tắc
Thiên Đồng chủ sự thông suốt, nhưng đi với Cự xung thì mọi sự bế tắc do sao Cự phản đối mà ra. Muốn thông suốt thì phải khống chế được sao Cự, hoặc có sự trợ giúp của các ám tinh khác; đó là khai thông bế tắc, được cát tinh phò trợ.
Cũng có tình huống khá rắc rối: bên trong thì rất ưa, ngoài mặt vẫn làm bộ phản đối. Ví dụ rất đời thường: “anh ăn cái này đi” thì đáp “không, tôi no quá” trong khi thực ra thích lắm, thế là người ta dẹp bỏ và vô tình mất một cơ hội. Hoặc “lấy chồng đi, tôi giới thiệu cho” thì đáp “thôi em còn muốn ở gần bố mẹ cho tròn chữ hiếu”, mà trong bụng rất ưng ý.
Nữ Mệnh và chuyện đi xa
Với nữ, đây là cách Thái Dương chiếu Mệnh: “Nữ Mệnh Dương chiếu ắt là phu nhân, nếu chẳng gặp tà ác tinh”. Nhưng trong trường hợp này tính kén chọn rất cao, khó lấy chồng, đồng thời là cách đa bất mãn, hay chê bai chồng, vì thế dễ đưa tới chẳng bao giờ thấy hạnh phúc. Nói chung số nên đi xa, không hợp cuộc sống quê nhà, khó thụ hưởng sản nghiệp cha mẹ, thường lập nghiệp phương xa.
Cần gặp và kỵ gặp
Cần gặp: Quyền Phượng, lợi cho công danh; kế đó là có thêm bộ Tam Kỳ. Thanh Long hợp cách. Bát Toạ Tam Thai, xuất nhập nơi quyền quý. Khôi Xương thì cử khoa ngao đầu tất chiếm. Xương Lộc lợi cho thi cử. Tả Hữu Xương Khúc thì văn thanh hiển, võ trung lương. Hợp với tuổi Tân.
Kỵ gặp: Tam Ám Diêu Đà Kỵ thì hoạ vô đơn chí. Việt Linh Hình thì phòng sấm sét, búa đao. Lộc Tồn hội họp, Thai Phụ, Phong Cáo cũng không hay. Kình thì tính phản kháng rất mạnh nhưng dễ đau ốm, khắc người thân; kỵ gặp thêm Hỏa Tinh, vì câu “Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử”: lấy cái chết để phản đối trong cơn nóng giận bộc phát lớn. Nếu có Kình thì hay nhất là gặp bộ Kình có Phượng; nếu chỉ có một Kình Dương thì không có gì đáng ngại. Đà La tất sinh dị chí với Cự Môn, đa khắc thân với Thái Dương, hay nhất khi đi với Phượng; Đà là chí hướng khác thường, đi với cát tinh thì phi thường, đi với hung tinh thì dị thường. Kỵ, nhất là đủ Kỵ Đà, chủ nhiều hung hoạ, kết hợp với Cự Môn rất xấu: “Tuế Đà Cự Kỵ phận nghèo, một thân lên thác xuống đèo không yên”.
Hỏa Tinh xâm phá thì hỏng cục, bất lợi nghề nghiệp, bất lợi tình cảm, chủ giận hờn, đêm không vui ngày không yên. Ở đây còn có Thiên Đồng nên thành cách dị chí, chí hướng khác thường. Kiếp Không thì kẻ dưới lộng quyền; Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát. Nữ Mệnh có Hao thì phi lễ thành hôn; Kiếp Phù Khốc Khách thì nữ Mệnh đa lệ phối duyên. Cự Môn Không là không đương cự nổi, bất lực, dù đi với Kình Dương cũng vậy; còn mang tính bất ngờ của Thiên Không cộng chẳng ngờ của Cự Môn, nên không bè đảng hoặc bị bè đảng phản bội không ngờ. Cự Môn Kiếp là tai hoạ do phản kháng, phản bội, phản đối; cũng là tai hoạ do đàn ông mang lại, công khai, ban ngày; có Quan Phù thì nữ đa lệ phối duyên. Lộc Tồn hội họp là cát xứ tàng hung, sự cách biệt kéo dài có thể thành vĩnh biệt, nỗi bất mãn vẫn tồn tại: Cự Môn phản đối nhưng Lộc Tồn vẫn cứ tồn tại, dấu hiệu đành chịu thua; trên bảo dưới không nghe.
Cự Môn Linh là lệnh lạc và sự phản đối, xa cách, ngăn cách, lẻ loi, lạnh nhạt, người đàn ông lẻ loi lạnh lùng, những ngày tháng vất vả vì lệnh lạc. Cự Môn Hỏa là khẩn cấp, hoả tốc cộng chẳng ngờ nên cơn giận bất ngờ, phản công đến nhanh trở tay không kịp; kỵ thêm Kình Dương là cơn giận bốc lên đưa tới tự sát; cũng chỉ người đàn ông nóng nảy, những ngày tháng khẩn cấp. Nói chung nơi đây tụ tập nhiều sao nên dễ gặp phá cách trầm trọng. Nếu Mệnh đóng đây thì kỵ cung an Thân đóng ở Phối hoặc Phúc, vì cung an Thân cũng Vô Chính Diệu là điều rất xấu.
Những câu phú liên quan
Phụ Cáo hoan ngộ Tướng Ấn, ố kỵ Cự Đồng; nhược ngộ Khôi Xương, cử khoa ngao đầu tất chiếm.
Phụ Cáo là lời bảo ban của người trên đối với kẻ dưới; đi với bộ Tướng Ấn là hợp cách, đi với các nhóm sao khác cũng phù hợp, trừ Cự Đồng vì hình thành bộ Cự Cáo (kẻ dưới hỗn láo với kẻ trên) và bộ Đồng Phụ (kẻ nhỏ dạy khôn người lớn).
Thiên Đồng, Cự Môn, Hỏa Tinh tất sinh dị chí.
Dị chí là chí hướng khác thường vì trong lòng có lửa giận, nổi giận mà phản đối, nên có những cử chỉ, đời sống khác thường vì bất mãn trong lòng; ví dụ cơm nhà không ăn lại ăn cơm quán.
Cự Nhật Thân lập Mệnh Dần, trì danh thực lộc.
Vô Chính Diệu ở Dần có Cự Nhật ở Thân là trước cầu danh sau mới thực lộc.
Cự Nhật củng chiếu diệc vị kỳ.
Củng chiếu là một sao tam hợp chiếu, một sao xung chiếu. Được phê là rất kỳ lạ; tất cả tuỳ vào hung cát tinh.
Còn câu “Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu Mệnh, Khoa Quyền củng chiếu bất lâm viên”: cung Mệnh gọi đầy đủ là Mệnh viên. Nhật Nguyệt chiếu hay hơn thủ Mệnh; Khoa Quyền thủ Mệnh hay hơn chiếu Mệnh, vì đứng ở góc nhìn nào thì Khoa Quyền vẫn là Khoa Quyền, còn chiếu Mệnh thì chỉ có góc nhìn từ Mệnh là đẹp, các góc khác chưa chắc. Cũng vậy bộ Âm Dương là tiếng nói bên ngoài đánh giá ta: âm thanh dậy lên, bên ngoài đánh giá ta tốt hơn là ta đánh giá bên ngoài tốt. Ngọn đèn pha rọi vào người ta vì ta là nhân vật quan trọng; còn nếu ta thủ Mệnh bộ Âm Dương thì ta chỉ là kẻ cầm đèn pha mà thôi.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
