Bài tổng quan
Vô Chính Diệu Liêm Tham xung, Tử Tham: ham muốn kín đáo
Có một cung trống nằm giữa lá số, không ngôi chính tinh nào ngồi, và từ chỗ trống ấy nhìn ra chỉ thấy hai ngôi sao đối diện đang quan sát nhau. Ở một thế cờ khác, ham muốn lại nằm ngay trong nhà, hoặc đã nguội, hoặc được giấu kín đến mức người ngoài chẳng hay. Người ta hay bảo kẻ ấy đi tu, nhưng…
Mục lục · 7 phần
- 01Vô Chính Diệu có Liêm Tham xung: cách khác với Liêm Tham Tỵ Hợi
- 02Đánh giá chung: được che chở nhưng có kẻ theo dõi
- 03Vô Chính Diệu Liêm Tham xung: cần gặp và kỵ gặp
- 04Tử Tham Mão Dậu: cách bị phê nhiều hơn khen
- 05Lòng ham muốn đã chết và con đường đến cửa thiền
- 06Lòng ham muốn kín đáo và bí mật bị tìm hiểu
- 07Khó khăn trắc trở và những sao Tử Tham cần gặp, kỵ gặp
Có một cung trống nằm chính giữa lá số, không có ngôi chính tinh nào ngồi. Từ chỗ trống ấy nhìn ra, người ta chỉ thấy hai ngôi sao đối diện: một cô gái trong sáng và một gã trung niên tò mò. Một cách xem khác là xoay ngược lá số, đặt Tử Vi và Tham Lang cùng ở một cung rồi hỏi xem nó có giống người tu hành không. Hai thế cờ này tưởng khác nhau, nhưng Bửu Đỉnh thấy chúng có chung một mẫu số: ham muốn. Ở thế thứ nhất, ham muốn xuất hiện từ bên ngoài và kéo ta vào. Ở thế thứ hai, ham muốn nằm ngay trong nhà, hoặc đã tắt, hoặc bị giấu kín tới mức người ngoài không hay.
Vô Chính Diệu có Liêm Tham xung: cách khác với Liêm Tham Tỵ Hợi
Người viết dặn người đọc: Vô Chính Diệu có Liêm Tham xung ở Tỵ Hợi khác với cách Liêm Tham Tỵ Hợi, nhưng phải hiểu cách Liêm Tham trước thì mới giải thích được cách Vô Chính Diệu này, và nên đọc thêm bài Phủ Tướng. Ở cung Tỵ Hợi, Vô Chính Diệu chỉ có duy nhất cách Liêm Tham xung chiếu.
Ở Tỵ, cách Vô Chính Diệu có Liêm Tham xung với bố cục bộ Âm Dương sáng; ở Hợi thì Âm Dương lạc hãm. Cũng một cách, nhưng ở Tỵ dễ chịu hơn nhờ các cung Huynh Đệ và Nô sáng, vận hành qua các cung này thuận lợi hơn, dù cũng có điểm bất lợi là anh em bạn bè tốt hơn ta nên ta dễ bị lu mờ. Liêm Tham ở Hợi gọi là Tuyệt xứ, nghĩa là cùng đường; nếu gặp Trường Sinh thì thành cách "tuyệt xứ phùng sinh", trở nên tốt đẹp.
Đây còn là trường hợp Vô Chính Diệu không lấy gì làm tốt, bất lợi với nữ Mệnh vì Tham Lang hội cung Phu. Thực chất bên trong là cách Phủ Tướng, bên ngoài là cách Liêm Tham. Người đàn ông và cô gái đoan chính ở ngoài, còn ta can dự vào, chiếm đoạt mới thành hoàn cảnh như lời than "chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng". Phú Hán nói:
"Tham Lang hội Phu cung, Mệnh hữu chính diệu tắc đích, Vô Chính Diệu tắc thiếp."
Phú Nôm dịch: "Phu quân có Tham Lang vì, chính tinh làm cả, bàng thì làm hai." Câu phú này hay bị hiểu nhầm, vì Tham Lang ở Phu thì Mệnh luôn có Thiên Tướng, nên nhiều người cho là vô lý. Thực ra ở đây, chính là nơi áp dụng câu ấy. Kể cả các trường hợp Vô Chính Diệu có Tử Tham xung, Vô Chính Diệu có Tham Vũ xung, nói cách khác là mọi trường hợp Vô Chính Diệu có Tham Lang xung, bên trong có bộ Phủ Tướng. Vậy Vô Chính Diệu có Tham xung dễ lâm vào cảnh làm lẽ mọn, làm thiếp, người đến sau. Người viết có nhiều lá số làm thiếp, hai chị em lấy một chồng, nhưng chưa ghi nhận lá số cụ thể nào có cách này làm vợ lẽ. Điều ấy hợp lý vì cung Phu Thê có Thất Sát, muốn có ắt phải đoạt.
Đánh giá chung: được che chở nhưng có kẻ theo dõi
Chuyện tình lứa đôi bất lợi, nhưng mặt khác bộ này lại có phần ấm áp.
Trên đây bàn về tình cảm lứa đôi, bất lợi cho nữ. Về mặt khác thì lại tốt, nhờ cách Phủ Tướng đồng lai hội Mệnh cung nên luôn được thương yêu, vỗ về, che chở, bảo trợ, giúp đỡ, tốt đẹp cả về tình cảm lẫn kinh tế. Tuy nhiên rất kỵ gặp Kình, thành cách "Liêm Trinh Thiên Tướng Kình Dương hiệp, đa chiêu hình trượng nan đào", chủ tiếp tay chống đối: che chở để chống đối, rồi bị theo dõi và trừng phạt.
Người viết giải thích: đứng ở vị trí Liêm Tham thì ta có các cách Vũ Sát và Tử Phá, dễ bị kích động bởi Tử Vi và sự cổ vũ của Vũ Khúc; còn từ vị trí Vô Chính Diệu thì ta có Phủ Tướng và Liêm Tham xung, nên một số tình tiết của Liêm Tham không áp dụng ở đây, mà mọi điều của cách Phủ Tướng đều áp dụng được. Hoàn cảnh là do thương yêu, bảo bọc, tương trợ nên dễ đưa ta đến chỗ tiếp tay, bao che, giúp đỡ, tùy tình huống mà dùng chữ. Cái họa ở đây là vậy, trong lúc bên ngoài luôn có kẻ dò thám và theo dõi. Nếu ta không có vấn đề gì thì đôi khi còn có lợi, ví dụ: "mày coi thử để ý vợ chồng con cái thằng A có no đủ không, để tao giúp nó".
Vô Chính Diệu ở đây thực chất là hình ảnh bộ Phủ Tướng bị can dự, chen vào bộ Liêm Tham, có thể mang may mắn mà cũng có thể mang bất ổn. Đặc điểm của bộ Phủ Tướng gồm: chọn lựa và nuôi dưỡng; lợi cho tiếp nối, thừa kế, kế tục; hàn gắn; hợp tác; ủng hộ, phán xét; thừa ủy nhiệm; quản lý như quản lý tài sản, thủ thư, quản gia, thất nghiệp thì ngồi "trông nhà". Trong hoàn cảnh ấy, bên ngoài luôn có kẻ thăm dò, tìm hiểu, theo dõi, can dự, còn ta thì dễ dàng tham gia, hợp tác cùng họ. Với nữ giới, từ đó dễ chấp nhận làm người tình hờ, làm vợ lẽ. Từ hoàn cảnh ấy có thể đưa đến hợp tác, ủng hộ, tiếp tay, che chở, đến cùng tham gia, và tùy hung cát tinh có thể gặp họa.
Vô Chính Diệu Liêm Tham xung: cần gặp và kỵ gặp
Chỗ trống ấy được làm đầy bằng những ngôi sao đứng ở ngoài vòng.
Hóa Khoa: trình độ lợi cho khoa bảng, không ngại Liêm Trinh xung; hay nhất là có thêm Hóa Quyền. Liêm Trinh có uy lực rất mạnh, không những dòm ngó các cung hội họp mà còn theo dõi cả hai cung lân cận, nên có bộ Khoa Quyền là hay.
Hóa Quyền rất cần để bảo vệ mình, vì mình là người có uy tín, không sợ mất quyền công dân. Có câu "Tham cư Hợi Tý hạnh phùng Quyền Phượng, biến hư thành thật, ư Giáp Kỷ tuế phú danh viên mãn". Sao Phượng chủ sự ngưỡng mộ, sao Quyền chủ uy tín.
Hỏa Linh vẫn là tốt vì Tham Lang ưa gặp: đi với Hỏa phát phú, đi với Linh phát quý, cần thêm Quyền Khoa. "Hỏa diệu phùng Tuyệt Hợi cung nhi hội Tham Linh, uy danh quán thế." Tuyệt ở đây biến thành tuyệt vời, dù ở đâu Tham gặp Hỏa cũng là hay, chủ tham vọng cháy bỏng trong lòng; chỉ người có tham vọng mới thành công.
Xương Khúc hay nhất ở Hợi, được phê "phi vinh tắc phú", không vinh hoa cũng giàu; tính tình cũng tốt đẹp nhờ bộ sao văn nghệ này, mẫu người cả quyết đạt tham vọng mới thôi. Tuần: biết phòng bị, biết hướng tham vọng và hoài bão đi đúng hướng, tính khí ngoan hiền, dễ dạy, chung thủy, trung thành. Hay nhất của trường hợp Vô Chính Diệu này là có Tuần.
Triệt: trừ bỏ mọi tham vọng xấu xa. Ở Hợi không thể ngộ Triệt, chỉ có ở Tỵ mới ngộ Triệt, nhưng tuổi Bính có Kỵ xung không mấy hay vì gây ra sự nghi ngờ về đạo đức, liêm khiết của bản thân. Có Triệt án ngữ thì không sợ Không Kiếp hội họp. Nếu có cả Tuần Triệt thì cần Thanh Long mới hay, vì Thiên Phủ gặp Tuần Triệt là phá cách. Thiên Phủ chủ phán xét, cần Thanh Long để phán xét đúng sai, đồng thời tiếng nói được lộ ra ngoài. Không có Thanh Long thì chỉ có Tuần Triệt là mất quyền phán xét, nhưng không vì vậy mà xấu, vì Vô Chính Diệu cần hai sao này án ngữ tại bản cung. Nếu Không Kiếp đắc thì là cách Vô Chính Diệu đắc Tam Không; nếu có Song Lộc là phú quý một thời.
Lộc Tồn hợp cách, chủ thương yêu dài lâu, giàu có dài lâu, bền vững trường tồn, nhưng tối kỵ bản cung có Kỵ hoặc Không Kiếp, hay Không Kiếp giáp hai bên thì hỏng cách. "Tham tọa thủy cung giáp biên tứ sát bần khổ chung thân": lúc ấy Kình Đà không còn là rào chắn bảo vệ Lộc Tồn mà a dua theo Không Kiếp gây hại cho bản cung, không những ở Hợi mà ở Tỵ cũng không hay.
Tả Hữu hợp cách nhất hô bá nặc; nếu đắc Sinh Vượng thì suốt đời may mắn, thường sống xa quê. Cáo Phụ hợp cách lợi công danh, Thiên Tướng thích hợp với sao này, chủ phong thưởng, còn lợi cho tuổi thọ vì chủ lời bảo ban của bậc cao niên. Thái Tuế hợp cách, chủ cao tuổi, lợi cho chữ thọ, được ngưỡng mộ, dễ gặp đủ bộ Tứ Linh. Hồng Loan thì nữ Mệnh cũng đa truân.
Kỵ gặp: Tang Môn đồng cung dễ thành kẻ xấu, có tính tham ô. Hà Sát, tức Lưu Hà Kiếp Sát, có tính tham nhũng, gây nhũng nhiễu hà hiếp. Bạch Hổ dễ tù tội, lâm hoàn cảnh xung đột giữa lớn và nhỏ mà nhỏ mạnh, lớn yếu; kỵ nhất khi Bạch Hổ có thêm Đường Phù, tức có Kình Đà hội họp, dễ đáo tụng đình do thái độ bày tỏ. Kình Dương tạo cách tương Kình, xung đột không chịu nhường, nhất là Kình có Kiếp Sát; kỵ thêm Hình Kỵ thì dễ tranh giành, ẩu đả, phạm pháp. Tả Hữu cộng Kình thì tao hình đạo tặc. "Tham hội Dương Đà cư Hợi Tý danh vi phiếm thủy đào hoa": ở Hợi thấy Kình Đà là cách ăn chơi mê gái, dâm tính mạnh nhất là có thêm Đào; kỵ thêm Kỵ Diêu thì tửu sắc.
Hóa Kỵ làm đạo đức có vấn đề, thành bộ Liêm Kỵ, lòng trong sáng bị nghi ngờ. Kỵ Diêu dễ gặp thủy tai, ăn chơi. Diêu tọa thủ, kỵ giáp Không Kiếp, rất dễ đau ốm đến chết; Diêu ở Hợi lại là minh mẫn thông minh. Hình thì phong lưu bị ăn đòn. Kỵ Hình dễ thủy tai, phạm pháp do tiếp tay che chở, còn là cách dễ chết: "Hình Diêu Tham Kỵ ngộ Liêm, ở cung Tỵ Hợi là điềm mạng vong". Đào Hoa làm tính ăn chơi mạnh hơn vì cả hai sao đều ham vui, nhưng có Tuần khống chế thì tâm hồn vẫn thư thái, vì Tuần chủ giáo dục đi với Đào chủ đào tạo, thành bộ sao hay của người có nền giáo dục tốt; tối kỵ gặp Không Kiếp vì phản tác dụng.
Không Kiếp: "lãng lý hành thuyền", bấp bênh như thuyền trên sóng; vì lòng ham muốn mà dễ gặp tai họa không ngờ, ham muốn những cái rất tai hại. Nếu không thấy Không Kiếp thì kiểm tra có Không Kiếp giáp hai bên không: nếu có thì hoặc xuất thân nghèo hèn, hoặc dễ yểu, trong đó có sự thiếu chăm sóc. Hao, cách Tham Hao tức có Kình hay Đà hội họp: Hao đồng cung thì biết giấu kín ham muốn xuống tận đáy lòng, dù bị thôi thúc bởi Kình ưa vươn lên hoặc Đà ưa phát triển ra; cũng là cách "cầm bằng nhịn đói chứ không để lệ nhòa miếng ăn", dù có Quyền Lộc, khi hết quyền hết lộc thấy tủi hổ vì miếng ăn.
Tử Tham Mão Dậu: cách bị phê nhiều hơn khen
Từ chỗ trống bên ngoài, ta sang một thế cờ khác mà sao ham muốn đứng thẳng trong nhà.
Cách Tử Tham gồm hai sao Tử Vi và Tham Lang. Cách Tử Tham Mão Dậu được đánh giá không phải là cách hay. Cổ nhân phê: "áp mộc lôi kinh", "khúc toàn cố quý", cũng dễ thành "khi công danh" hoặc "khi công họa loạn", còn là "cẩu thâu thử thiết", hoặc "nật cận gian nhân", cho nên "đa vi thoát tục chi tăng", "nhất sinh tăng lại sính anh hùng". Đây là nơi giao hội của hai nhóm Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham, hình thành các bộ Tử Tham, Liêm Sát, Vũ Phá phức tạp xung đột. Các tuổi Đinh, Kỷ, Quý có cách Song Hao Mão Dậu, "tối hiềm Hóa Lộc, ái ngộ Cự Cơ". Để hiểu cách này cần đọc kỹ hai bài Tử Vi và Tham Lang.
Lòng ham muốn đã chết và con đường đến cửa thiền
Khi ham muốn tắt, người ta thường tìm một nơi để yên tĩnh.
Cách Tử Tham còn được mô tả là lòng ham muốn đã chết, và mỗi khi lòng ham muốn chết người ta thường tìm đến chốn tu hành để quên, để xóa, để an vui. Nên có câu:
"Tham cư Đoài Chấn thoát tục vi tăng, Kỵ Kiếp lai xâm trần hoàn đa trái."
Tử Tham nghĩa là lòng ham muốn đã chết, đa phần tìm đến cửa thiền thoát vòng tục lụy. Nhưng con đường đến cửa thiền không hoàn toàn chỉ do cách Tử Tham. Từ vị trí này, gặp Triệt và Khôi Việt mới có nghĩa lòng ham muốn đã chết. Gặp Kỵ Kiếp thì là quay trở lại vòng tục lụy: bị đố kỵ, ức hiếp, tu cũng chẳng xong, đành quay về bến tục.
"Tử Tham Mão Dậu Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng."
"Đa vi" nghĩa là phần nhiều. Nhưng nghiên cứu các lá số Tử Tham Mão Dậu thì phần đông không thoát tục; chỉ người có bộ Triệt Khôi Việt mới thoát tục. Ngược lại, người đi tu không nhất thiết có cách này, hầu như cách cục nào cũng có thể tu. Ngoài đời có bao nhiêu con đường đến chùa thì có bấy nhiêu lý do tu hành: có người vì thiện duyên với cửa Phật cửa Chúa như cách Cơ Lương; có người vì thất vọng ái tình; có người vì sức khỏe, cầu kéo dài số mệnh; có người đội lốt tôn giáo để hoạt động; có người vì kinh tế; có người chỉ để tá túc. Nên có câu: chiếc áo không làm nên thầy tu. Muốn tìm hiểu thêm có thể đọc bài về cách thoát tục.
Lòng ham muốn kín đáo và bí mật bị tìm hiểu
Thực ra cách Tử Tham ít khi tắt lửa; nó thường chỉ giấu lửa.
Thực chất cách Tử Tham Mão Dậu mà lòng ham muốn đã chết rất ít gặp, không như câu phú "đa vi thoát tục chi tăng"; đa phần là lòng ham muốn kín đáo. Ham muốn gì? Tiền tài, trai gái, địa vị, thanh danh, giúp đỡ. Vô vàn ham muốn, tốt có xấu có, cao quý có, tầm thường có. Ví dụ ham muốn của người này là ghi tên vào lịch sử, của người kia là được về thăm lại quê hương dù chỉ một lần, của người nọ là gặp lại người yêu hay đứa con mình đã bỏ rơi. Điều đáng nói là ham muốn ấy rất kín đáo, không tiết lộ với ai, cá biệt mới thổ lộ.
Về bảo mật, các trường hợp Tử Vi ở Sửu Mùi, Mão Dậu, Tỵ Hợi được đánh giá là tính bảo mật không cao, dễ bị khám phá, vì đồng cung với nhóm Sát Phá Tham. Ở đây Tử một nơi, Phủ một nẻo, bao và che không thấy nhau. Rất kỵ Triệt đương đầu vì bí mật dễ lộ, cần xa lánh Triệt. Tốt là thiên về khám phá ra, tìm ra bí mật, bí ẩn; xấu là bí mật bị tìm hiểu, bị khám phá.
Nhiệm vụ tìm hiểu là công việc của gián điệp, thám tử, trinh sát, thám báo, do thám: trong quân sự đối tượng là đối phương; đối tượng là đất đai, tài nguyên thì gọi là thám hiểm, thăm dò; đối tượng là sách vở, tài liệu thì gọi là khảo cứu, tham khảo; tìm hiểu con gì đó, cây gì đó thì thành môn khoa học nghiêm túc. Cả ngàn nhiệm vụ tìm hiểu, cả trăm công việc phải tìm hiểu. Người viết nhắc: chưa tìm hiểu đã làm, chưa hiểu nhau đã yêu như quen nhau từ muôn kiếp, chưa biết có tài nguyên đã đem máy đến khai thác.
Bí mật bị tìm hiểu nghĩa là kẻ do thám đã xâm nhập vào ngôi nhà Tử Vi. Đó là lý do người ta kết tội Tham Lang "cẩu thâu thử thiết", "nật cận gian nhân". Người đàn ông này ưa chiếm đoạt sự trong sáng của người khác (cách Liêm Sát), ưa vui chơi phá của (cách Vũ Phá), nên không phải vô cớ người ta kết tội gần gũi kẻ gian, kết bè kết bạn. Cho nên cần Triệt để xóa lòng ham muốn xấu xa, cần Tuần để hướng lòng ham muốn đúng nơi đúng chỗ, và cần những sao ở phần cần gặp. Vì thế Tử Tham là kẻ tu hành, là tay ăn chơi, là thám tử, là kẻ phiêu lưu, tùy hung cát tinh phối hợp. Nhưng dù sao cách này cũng có khí phách anh hùng, dù chức phận không cao, nhất là khi có hung tinh hội họp, vì nằm trong bố cục Tử Vũ Sát "sính anh hùng".
Bộ sao này chủ bí mật tham gia, bí mật tìm hiểu, bí mật săn lùng, đồng thời chỉ hành vi có tính công khai khi làm các việc ấy. Vấn đề khó là đâu là bí mật làm, đâu là công khai hành động. Bí mật bị lộ khi có Triệt Kỵ Việt. Nếu lá số không có bộ này thì đề phòng các năm có bộ ấy thuộc dạng lưu động. Ví dụ cách Tử Tham ở Dậu không có bộ đó, nhưng năm Quý ta có đủ: Lưu Triệt ở Tý Sửu, Lưu Kỵ ở Dậu và Lưu Việt ở Mão.
Khó khăn trắc trở và những sao Tử Tham cần gặp, kỵ gặp
Chặng cuối cùng là cân đo cái hay cái dở của thế cờ.
Đây cũng là trường hợp suốt đời chỉ thấy khó khăn và trở ngại: công việc, địa vị không bền, thất vọng nhiều hơn hy vọng, "Vũ, Phá, Liêm, Tham xung hợp khúc toàn cố quý". Nếu thấy Kình Đà thì còn là cách khi công họa loạn, chốn quan trường không thích hợp, chỉ nên kinh thương. Đây còn là dâm cách: không có cát tinh mà tụ nhiều dâm tinh thì dễ chết vì tửu sắc, "Tham Vũ Phá Quân vô cát diệu mê luyến tửu sắc dĩ vong thân".
Cần gặp Hóa Khoa, hay nhất là thêm Quyền Lộc, dấu hiệu thành đạt, tinh thông; Khoa đi với Tuần là "phản hữu kỳ công". Hóa Quyền chủ sự tinh tường, ở đây dễ phạm sai lầm nên cần sao này. Tuần Triệt: ở vị trí này gặp Tuần Triệt thì bất lợi cho Tử Vi nhưng hợp Tham Lang, cần xác định hành của Mệnh hợp sao nào để quyết đoán. Tả Hữu cần thiết cho Tử Vi, cách nhất hô bá nặc; thêm Lộc Tồn là quý cách. Xương quyết tâm cao, hợp cách cả hai chính tinh. Hỏa Linh hợp Tham Lang rất tốt, hợp Tử Vi; chú ý khi có Linh thì kiểm tra có cách Linh Xương Đà Vũ không. Tứ Linh rất cần để được tôn trọng và ngưỡng mộ.
Kỵ gặp: dâm tinh, vì thuộc dâm cách. Tam Không rất dễ chết. Hình thì chơi bời dễ bị ăn đòn; cần Khoa Tuần để "phản hữu kỳ công". Kỵ Hình phạm pháp. Kỵ Diêu dễ thủy tai. Kình Đà "khi công họa loạn", dễ gặp họa trên đường công danh trong thời ly loạn, nên kinh thương. Bạch Hổ xung đột giữa lớn và nhỏ, lớn bất tài nhưng nhỏ có tài. Không Kiếp, nhất là thêm Đào Hồng, chủ yểu. Hao, cách Tham Hao "cầm bằng nhịn đói không để lệ nhòa miếng ăn", giấu kín ẩn tình, đồng thời là cách mua đắt bán rẻ. Ngộ Kiếp là "lãng lý hành thuyền", Tham Lang và cả Tử Vi gánh tai họa, nhiệm vụ không thành. Đào Hoa đối với nữ là "độc phụ chi nhân", cần Tuần Triệt để trong lòng yên ổn.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
