Bài tổng quan
Vận mạng người nữ tuổi Tý, tuổi Sửu qua thơ phụ giải
Cô gái ấy sinh ra đúng giờ đêm và mùa thu, và bài thơ nói rằng chuyện tình đầu sẽ lỡ dở nhiều phen. Người xưa tin rằng cùng một tuổi nhưng sinh ban ngày hay ban đêm, mùa xuân hay mùa đông, thì số khác hẳn nhau. Vậy mười tuổi Tý và Sửu ấy mỗi tuổi mang lời nhắn gì?
Mùa sinh quyết định được mùa hay lỗi mùa
Vận mạng xem cho từng tuổi, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, dựa trên mùa sinh: sinh đúng mùa hợp mạng gọi là được mùa, sinh không hợp gọi là lỗi mùa, và từ đó mới có sướng cực, giàu nghèo. Dưới đây là phần dành cho người nữ; mỗi tuổi có một bài thơ đoán vận mạng, kèm một đoạn phụ giải tổng quát. Đầu mỗi tuổi sách nêu năm sinh, cung, nạp âm, con vật của xương, con vật của tướng tinh và vị nữ thần độ mạng.
Bốn mùa chia theo tháng như sau. Mùa xuân gồm tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, tức các tháng Dần, Mẹo, Thìn; tháng Giêng và tháng Hai thuộc Mộc, tháng Ba thuộc Thổ. Mùa hạ gồm tháng Tư, Năm, Sáu, tức Tỵ, Ngọ, Mùi; tháng Tư và tháng Năm thuộc Hỏa, tháng Sáu thuộc Thổ. Mùa thu gồm tháng Bảy, Tám, Chín, tức Thân, Dậu, Tuất; tháng Bảy và tháng Tám thuộc Kim, tháng Chín thuộc Thổ. Mùa đông gồm tháng Mười, Mười Một, Chạp, tức Hợi, Tý, Sửu; tháng Mười và Mười Một thuộc Thủy, tháng Chạp thuộc Thổ.
Mùa xuân thì Mộc vượng, Hỏa tướng, Thổ tử, Kim tù. Mùa hạ thì Hỏa vượng, Thổ tướng, Kim tử, Thủy tù. Mùa thu thì Kim vượng, mùa đông thì Thủy vượng; phần còn lại của hai mùa này trong bản in chép chồng chéo, không đọc rõ nên không thuật lại. Sách giải nghĩa: vượng, tướng là tốt; tử là xấu nhất; tù là xấu thứ nhì; lưu là xấu thứ ba.
Nữ mạng tuổi Tý
Con chuột là tuổi đầu của vòng mười hai con giáp, và có năm tuổi Tý, mỗi tuổi một số phận.
Giáp Tý
Sinh các năm 1864 đến 1924 và 1984 đến 2044. Cung Chấn, mạng Hải trung Kim là vàng dưới biển. Xương con chuột, tướng tinh con chó sói. Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng. Bài thơ nói số mạng này phải dời đổi nhà cửa về sau mới yên, anh em có giàu cũng chẳng trông cậy được, tự tay lập nghiệp, lương duyên trắc trở buổi đầu, phải quen biết trước mới nên gia thất.
Phụ giải: phần đông đàn bà tuổi Giáp Tý có tính hay khinh người, thờ ơ lãnh đạm nhưng sống cuộc đời thanh bạch, phải xa xứ lìa quê, lấy chồng khác tỉnh khác làng mới nên. Sinh ban ngày thì thường gặp may mắn, chồng giàu sang; sinh ban đêm thì số phải hai lần thay đổi chồng mới lập được gia nghiệp. Số này thuộc dạng vượng mà không ích cho con, nên có tiền bạc cũng cực thân lo cho chồng con. Sinh mùa thu, tức tháng Bảy, Tám, Chín, thì thuận, có cuộc sống khá cao, thân được an nhàn. Sinh mùa xuân thì phần đông mối tình đầu bị vỡ lở, trước có của làm ra bao nhiêu cũng tan, số có chết hụt hai lần nhưng nhờ âm đức của ông cha mà thoát nạn. Ăn ở có âm đức thì mới tạo được sự nghiệp lâu dài. Sách khuyên kiêng thịt mèo, chó, rùa, ngựa vì tuổi này có căn tu; số thọ đến 85, yểu thì 34.
Bính Tý
Sinh các năm 1876 đến 1936 và 1966 đến 2056. Cung Chấn, mạng Giản hạ Thủy, sách gọi là nước mù sương. Xương con chuột, tướng tinh con rắn. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói mạng Thủy là nước, phải nhớ nguồn; đàn bà sinh thuận vào thu đông thì có người đưa kẻ rước, người mong chuyện tình. Tuổi này lúc nhỏ khó nuôi, hai lần chết hụt, nhiều lần nổi trôi, nhờ ân đức cha ông mới qua. Người nữ tuổi Bính Tý sang nhưng lỡ dở, cả đời không an; đầu tiên trắc trở lôi thôi, duyên sau mới hợp. Số cách trở cha mẹ, phải ly hương mới làm nên cửa nhà.
Phụ giải: Bính Tý thuận sinh mùa đông thì giàu sang phú quý; sinh mùa hạ và mùa xuân thì Tử Vi xác định là lỗi số. Dù giàu hay nghèo, người tuổi này tính tình hiền hậu nhưng số gian nan từ thuở thiếu thời, ngoài ba mươi tuổi mới tạm an cư lạc nghiệp; có chồng cũng chẳng nhờ vả được bên chồng. Tuổi này nếu kết hôn muộn thì đời không dang dở, còn lấy chồng sớm ở tuổi hai mươi thì ắt có thay đổi hay tan rã.
Mậu Tý
Sinh các năm 1948 đến 2008 và 2068. Cung Càn, mạng Tích lịch Hỏa là lửa sấm chớp. Xương con chuột, tướng tinh con chó sói. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói mạng Hỏa cung Càn như lửa trời chớp nhoáng, có lần sáng trưng. Sinh hạ hoặc xuân là thuận số, thu đông thì bị khắc, hao mòn, cha mẹ phải chạy thuốc vì sinh con lỗi mùa. Số phải tu niệm, ăn chay; ăn ở thiếu đức thì gặp ngục hình. Chuyện duyên tình đầu tiên lỡ dở bất bình nhiều phen; nếu bởi số thì linh đinh, lận đận lo phiền, chờ đến vận giữa tài nguyên mới tới. Người có tính linh, nghĩ điều gì trúng điều ấy, có tài, có âm đức thì đến ngày hiển vinh.
Phụ giải: cô nào sinh ban ngày thì có chồng giàu sang phú quý, có vai trò trong xã hội; cùng tuổi Mậu Tý mà sinh ban đêm là lỗi số, phải vất vả gian nan. Tính người trung thực, ít nói, hiền hậu, chẳng chịu nịnh bợ kẻ có thế lực. Tiền vận không khá, làm ra cũng tiêu tan, từ trung vận trở đi mới giữ được tài. Số thọ đến 76 tuổi; nếu ăn ở ác đức thì sống đến 31 tuổi là cùng.
Canh Tý
Sinh các năm 1900 đến 1960 và 2020. Cung Càn, mạng Bích thượng Thổ là đất trên vách. Xương con chuột, tướng tinh con rắn. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ nói mạng Thổ đất đầu vách mà cứng; sinh thuận vào các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tài cao. Gái sinh mùa xuân thì Mộc khắc chồng, lỗi số vì không đồng mùa sinh. Số cô áo lộc đủ dùng, không dư không thiếu. Gái Canh Tý có quyền hành, gặp chồng mạng nhỏ thì chồng phải nhịn. Tính vui vẻ, dễ thương, thấy kẻ mạnh hiếp kẻ yếu là nhảy vào bênh. Tiền vận làm ra của kho nhưng không biết giữ nên trời cho rồi cũng hết; tiền bạc như chiêm bao, buổi đầu làm khá, sớm vào tối ra. Số ở thiên đình, nên tu nhân tích đức giữ gìn cho mai sau.
Phụ giải: Canh Tý là số giàu sang nhưng không giữ được tiền của lâu, có thể nói là giàu đầu hôm sớm mai lại hết; cô nào sinh vào mùa đông thì phú quý. Có nghề nghiệp như cô giáo hay chủ nhà thuốc tây, có chồng cũng là người có địa vị trong xã hội, nhưng chồng phải là người xa xứ; về già được yên cửa yên nhà nhờ đứa con lớn làm nên sự nghiệp. Cô nào có âm đức thì chỉ có một đời chồng mà thôi.
Nhâm Tý
Sinh các năm 1912 đến 1972 và 2032. Cung Chấn, mạng Tang đố Mộc là cây dâu. Xương con chuột, tướng tinh con beo. Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng. Thơ nói Tang đố Mộc như cây dâu nuôi tằm; sinh mùa thu là lỗi số, mùa hạ cũng chẳng mưu chước gì, cực thân, sáng lo chạy gạo, bước chân không ngừng. Đông và xuân thì được thuận mùa, làm ăn có của chẳng thua bạn bè. Nhưng duyên lỡ buổi đầu, nhiều chỗ đến nói khẩn cầu không nghe, vì số Nhâm Tý cứng đầu, ai nói khích thì chẳng ưa, nhưng lại dễ nghe lời ngọt đầu môi nên khổ lôi thôi nhiều lần. Người sáng trí thông minh, ai tính mưu kế thì nàng biết ngay. Số nhờ có quý nhân, tu nhân tích đức thì thánh thần đỡ cho.
Phụ giải: tuổi Nhâm Tý nếu sinh thuận vào mùa đông và xuân thì giàu sang phú quý, nhưng phải là ban ngày; sinh ban đêm là nghịch lỗi số, chịu gian lao khổ cực. Người tuổi này phần đông cứng cỏi, chẳng chịu khuất phục ai nên hay cãi vã với anh em, cha mẹ, khắc khẩu với chồng. Ít ra cũng hai lần thay đổi nhân duyên về sau mới giai lão.
Nữ mạng tuổi Sửu
Con chuột nhường chỗ cho con trâu, và bài thơ cũng đổi giọng: từ đất, nước sang lửa, sang biển.
Tân Sửu
Sinh các năm 1961 đến 2021 và 2081. Cung Đoài, mạng Bích thượng Thổ. Xương con trâu, tướng tinh con đười ươi. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ nói đất đầu vách ít ai cuốc đào; tháng Giêng là lỗi số, thu đông cùng cực, số hẩm phận. Số này khắc mẹ khắc cha, gần nhau thì xích mích, xa nhau lại buồn. Tính nổi dữ nổi hung nhưng khẩu xà tâm Phật, nói rồi bỏ qua. Gái thì lập nghiệp phương xa, tình đầu chịu vui chiều buồn mai. Trời đã an bày, nên tu nhân tích đức; tin tưởng phụng thờ trời Phật thì hậu vận mới nhờ được tấm thân.
Phụ giải: cô nào sinh thuận vào mùa hạ thì giàu sang phú quý, làm việc gì trong đời cũng thông suốt, có địa vị trong xã hội, dù là đàn bà nhưng thích làm việc xã hội, lên xe xuống ngựa, có kẻ hầu người hạ. Cô nào sinh ban ngày thì ví như trâu kéo cày, cực khổ gian nan, số phải phiêu bạt đi nơi xa, ở quê người thì làm ăn mới khá. Người có tính hay giúp đỡ người nghèo khó, lấy tình cảm làm thú vui. Nên tu thân tích đức để ngày sau được thanh nhàn. Số này phần đông có căn tu nên kiêng thịt chó, mèo, ngựa, trâu.
Kỷ Sửu
Sinh các năm 1949 đến 2009 và 2069. Cung Đoài, mạng Tích lịch Hỏa. Xương con trâu, tướng tinh con chim cú. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói lửa trời sấm chớp sáng cả ngoài mưa; sinh mùa hạ thì sang. Gái Kỷ Sửu số như trai, lòng dạ cứng cỏi như trai, thấy mạnh hiếp yếu là ra tay bênh liền. Số này chẳng chịu ở yên, có tay buôn bán lại chuyên nhiều nghề. Tiền bạc như giấc chiêm bao, có rồi lại hết, sớm vào tối ra. Số cô phải chịu phong ba, đến ba mươi sáu tuổi mới yên thân. Tuổi nhỏ bôn ba nhưng cô nhờ trời, làm giàu phải tự tay mình, chẳng cần cha mẹ hay chồng. Kỷ Sửu lập nghiệp nên nhà, công danh sẵn có chính nhờ căn tu.
Phụ giải: đàn bà Kỷ Sửu tính tình cương trực, không chịu sống nhờ vả ai, cũng chẳng nịnh bợ kẻ có thế lực, lại ghét ai nịnh bợ mình. Thấy việc trái ý, kẻ mạnh hiếp kẻ yếu là hay can thiệp. Cô lại có giác quan thứ sáu, thường nghĩ điều gì trúng điều ấy, nhiều khi gặp tai nạn cũng thoát hiểm, làm ăn thường có quý nhân giúp đỡ. Số này có cơ nghiệp lớn cũng nhờ ơn trên hộ độ, nhưng người nào lỗi số thì phải chịu trắc trở lương duyên. Nên tu nhân tích đức.
Đinh Sửu
Sinh các năm 1937 đến 1997 và 2057. Cung Ly, mạng Giản hạ Thủy, sách gọi là nước mù sương. Xương con trâu, tướng tinh con trùn. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói mạng Thủy cung Ly như nước sông chảy chậm đi qua. Gái sinh thuận thu đông thì có chồng sung sướng, ở không ăn hoài; sinh nhằm xuân hạ là lỗi, đầu đội tay sách tay mang gánh gồng. Đinh Sửu số cũng thong dong, phải giữ âm đức mới mong thanh nhàn. Số đặng nên cửa nên nhà nhưng tự tay lo lắng, đàn bà mấy ai được vậy. Bôn ba chẳng ích gì vì số trời đã định, đông tây vùng vẫy cũng uổng công; miễn ăn ở hiền lành thì về sau cũng có đôi phần ấm no.
Phụ giải: số này như lượn sóng ba đào, cuộc đời ba chìm bảy nổi. Cô nào sinh ban đêm thì thuận, nhưng phải muộn màng về lương duyên mới tốt. Người tính hiền hậu nhưng hay bị hoạn nạn, trí sáng, có hiếu với cha mẹ. Tuổi nhỏ có cơ nghiệp nhưng phải tiêu tan, từ trung vận bốn mươi trở đi mới tụ tài. Số phải tha phương lập nghiệp nơi xứ khác mới khá. Về sau có con gái làm nên sự nghiệp.
Ất Sửu
Sinh các năm 1925 đến 1985 và 2045. Cung Tốn, mạng Hải trung Kim là vàng dưới biển. Xương con trâu, tướng tinh con chó. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Ất Sửu cũng là số cao nhưng đời lắm sóng ba đào, phong trần mưa nắng đầy gian khổ, duyên nợ chua cay lắm mà ngọt ngào cũng lắm. Thân thế từng phen sầu lận đận, hồng nhan nhiều lúc lao đao. Đến bốn mươi tuổi mới được hưởng huy hoàng; vườn hồng có lúc nhạt tình xuân, phong sương và nợ nần trải qua nhiều chuyện. Tài sắc đa mang thì sầu khổ lụy, đến trung vận mới rời phong trần.
Phụ giải: cô nào sinh mùa thu và mùa đông thì thuận số, sau có chồng giàu sang, địa vị quan trọng trong xã hội. Cô nào sinh mùa xuân và mùa hạ thì gian truân, cuộc đời ba chìm bảy nổi, đau khổ vì đường lương duyên, gặp nhiều éo le ngang trái. Tuổi nhỏ cực nhọc lao động, qua bốn mươi tuổi mới tụ tài. Số lại không thuận hòa với anh em, ai làm nấy ăn, chẳng ai giúp ai. Tuy vậy về sau được sung sướng an nhàn.
Quý Sửu
Sinh các năm 1913 đến 1973 và 2003. Cung Tốn, mạng Tang đố Mộc là cây dâu. Xương con trâu, tướng tinh con cua biển. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói số cô như mạng Tang đố Mộc, cuộc đời ít lo. Sinh mùa thu là lỗi, khó khăn, gian khổ phải lo từng ngày; mùa xuân mới vui tươi, thanh nhàn sung sướng. Thuở nhỏ gian nan, tưởng đã chết nhưng nhờ đức ông cha nên nay hưởng cuộc đời ấm no. Số này tự lập một mình, tha hương cầu thực thì gia môn an hòa; họ hàng thân thích chẳng trông cậy được, như giá lạnh đêm đông điêu tàn. Lúc nhỏ chẳng được an nhàn, về hậu vận gia đình mới vui tươi.
Phụ giải: số này phần đông giàu hay nghèo cũng ít khi phải lo lắng, trừ khi cô nào sinh ban đêm thì không tốt. Tính người lòng dạ thẳng ngay, ít chịu nịnh bợ kẻ có thế lực, chịu đựng mọi nỗi khó khăn, thân tự lập thân. Số có quý nhân giúp đỡ; dù gặp tai nạn cũng nhờ ơn trên che chở mà thoát nạn. Người có căn tu nên làm việc nghĩa thì sống lâu.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
